Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



TRUNG VIỆT - VIỆT TRUNG






Truyện 3


CHUYỆN “CHIẾN TRANH VĂN HỌC” BẤT THÀNH



Lịch sử phân biệt người anh hùng và kẻ sát nhân;

văn học coi nhân vật anh hùng là đáng kể.”



HỒI 1


Thật ra, hai truyện đầu của Trung-Việt Việt-Trung thì như độc giả từng biết. Không hiểu vì các vấn nạn mà chính quyền Trung sinh sự trên trường quốc tế, vì tính nghệ thuật của truyện, hay vì cơn sốt từ cả chục triệu độc giả sau mươi ngày truyện lan tràn trên mạng mà Hollytree - trung tâm điện ảnh có trụ sở tại Canada, lớn chỉ sau Hollywood - đã quyết định mua đứt bản quyền tác phẩm.


Chúng tôi không như văn sĩ Hồ An Thái đã từ chối thẳng tưng đám bạn đạo diễn năn nỉ hết lưỡi không cảm ơn nhiều chớ động đến truyện của tôi đánh cho gãy tay lại bảo không nói trước.

Chúng tôi không như văn hào Michal Kundera cậy uy vạch mẽ môn nghệ thuật thứ 7 thời hậu hiện đại thích sục sạo vào các tác phẩm văn học moi tìm cái đáng làm phim vậy cánh sáng tác tụi mình cứ viết sao cho truyện kịch thơ là của riêng tụi mình không để chúng chuyển thành phim được.”


Chúng tôi hiểu lắm chứ. Văn sĩ muốn bảo toàn một loại văn chương chuẩn không được phép chỉnh bằng bất cứ loại hình nghệ thuật phi ngôn ngữ nào, ngoài bộ môn phê bình văn học.

Chúng tôi hiểu lắm chứ. Văn hào muốn giữ gìn tính đích thực, tính thuần túy của nghệ thuật ngôn ngữ: ‘Có loại văn chương chỉ có thể hay vì mang đặc trưng văn chương. Văn này chỉ hay ở văn, ở ngôn ngữ, ở cảm xúc và tư tưởng trên trang sách trong con chữ; khi bị thoát tục khỏi mực đen giấy trắng hay thiết bị đọc sách như hiện nay thì văn chương bỗng hết hồn mất vía. Văn hay, chẳng phim nào bắt được hồn vía văn.’ Diễn nôm dân gian Việt: ‘Em xinh em đứng một mình cũng xinh’.”


Chúng tôi cũng hiểu lắm chứ. Nếu âm nhạc luôn là người tình đầu tiên và trọn kiếp của mỗi thi sĩ, thì điện ảnh là cuộc giao hợp đạt đỉnh hân khoái mà vô khối nhà văn mỏi mòn mong ngóng. Vì danh tiếng tác phẩm và tác giả. Vì khoản thu nhập từ 3 cho đến 6 số không, thậm chí nhiều không đếm xuể. Vì nhiều điều khác nữa. Còn với chúng tôi, là vì trách nhiệm và vinh dự công dân, vì lợi ích Tổ quốc khi bị lâm nguy.”


Giữa tác giả Trung-Việt Việt-Trung và Hollytree có vài trao đổi đại loại vậy...


Thế rồi xuất hiện một kịch bản chuyển thể cho phim mang tên Chuyện tình Trung-Việt Việt-Trung, trong đó Truyện 2 - Chuyện cái mũi khoan và bom dị bào thêm phần vĩ thanh:

100 ngày sau ngày 15 tháng Tám năm 3029, tức là 100 ngày sau lễ tuyên dương công trạng, nữ đại tá Vương Thúy Kiều đã trầm mình tự sát tại bờ biển Đà Nẵng nhìn ra quần đảo Hoàng Sa.

Nguyên nhân án mạng dễ dàng nhận ra từ di chúc của người quá cố: mong muốn được an táng (nếu tìm thấy xác) không như một quân nhân mà chỉ như một người dân nước Nam bình thường và xin tự rút danh hiệu Anh hùng Đại Việt; tạ ơn và tạ lỗi Lưu phu nhân đã sinh thành và nuôi nấng Lưu Vương Trung Việt; mong Lưu Vương Trung Việt tha lỗi vì sự không hề biết của việc ra đời và trưởng thành của Trung Việt, và khuyên Trung Việt không nên tiếp tục phục vụ trong ngành an ninh quốc phòng; cầu xin được gia đình Lưu Tiểu Tinh Đan - trước nhất là Lưu phu nhân - và người đời coi là vợ không chính thức của Lưu Tiểu Tinh Đan với con trai là Lưu Vương Trung Việt.

Trong khi điều tra, người ta cũng phát hiện là đúng vào lễ thôi khóc của 15 năm trước, nàng từng ra đây mà đắp mộ gió trong lòng mình cho tình nhân oan nghiệt.


Lưu Tiểu Tinh Đan - tất nhiên và là người đầu tiên - đã tử trận trong hải chiến Hoàng Sa/ Tây Sa Giàn khoan 189. Trước giờ G, chàng bỗng thấy toàn thân bất an, bốc nóng còn hơn cả Tôn Ngộ Không giữa lửa Hỏa Diệm Sơn. Điện thoại cho Thúy MC không được. Gọi về Lưu phu nhân thì được nghe: “Phu quân ạ, tôi linh cảm lần này sẽ mang thai. Nhiều năm rồi có còn ‘thấy’ gì đâu? Lạ quá!” Chàng kịp nói: “Nếu như đấy là mệnh trời thì con của chúng ta sẽ thành thánh. Phòng khi ta có mệnh hệ nào, dù trai dẫu gái xin hiền thê đặt tên con Lưu Vương Trung Việt và dốc toàn lực dưỡng dục quý tử.”


Thế nghĩa là, từng được nuôi trong cơ thể Thúy MC (tức điệp viên HH24, nguyên đại úy đặc nhiệm Vương Thúy Kiều) Đặc công trứng ĐCT4 chưa kịp làm nhiệm vụ đã từ cơ thể Lưu quân vô tình bị nhập vào cơ thể Lưu phu nhân và cuối cùng được thụ thai tại đó.

Có lẽ do từ trong trứng từng bị nhiễm hỗn hợp vô cơ, hữu cơ cùng các tế bào điện toán, nên ngay khi thoát thai cậu bé con lai Trung-Việt dính nhiều dị tật như: bạch tạng, máu trắng, thiếu ngón chân ngón tay, tim bên phải, thiếu thận, v.v... Và lại còn cả một mẩu đuôi be bé có thể động đậy mỗi lúc cậu ta muốn! Là con trời, bù lại, thần đồng Lưu Vương Trung Việt sở hữu trí lực thông minh siêu phàm và thể lực phát triển nhanh gấp 2-3 lần người thường. Khi tung tích bị tiết lộ, người trai 15 năm tuổi đó đang như một trung niên 40 tuổi, và đáng kể nhất là mang hàm trung tá an ninh trong Cơ quan Phối hợp Trung-Mỹ Chinh phục Hải dương.


Chưa khởi sự, phim Chuyện tình Trung-Việt Việt-Trung đã làm chao đảo giới hâm mộ khắp năm châu. Nhiều nam thanh nữ tú bỏ bê gia đình và công việc, lao vào chuẩn bị vòng thi tuyển các vai Thúy MC/Vương Thúy Kiều và Lưu Vương Trung Việt. Vai Lưu Tiểu Tinh Đan hiển nhiên là ghế nóng của những tài tử từng đóng Tôn Ngộ Không.


Cộng đồng người Việt sinh sống ở Quảng Châu cùng đông đảo cư dân Trung trong vùng đã dựng Miếu Cô Thúy MC bên ngoài Đài liệt sĩ Hoàng Hoa Cương danh giá - nơi 15 năm trước nguyên vẹn thi hài của nghệ sĩ Lưu Tiểu Tinh Đan được trang trọng gửi vào lòng đất quê nhà. Mặt chính của miếu hướng về tượng Lưu “Hầu vương”. Lời đồn lan rải từ đại lục ra tới hải đảo, rằng “Cô” rất linh thiêng với các cầu xin tình duyên và con cái.


Sau đây chúng ta thật sự bước vào Truyện 3 - Chuyện “chiến tranh văn học” bất thành. Xin nói trước: quý độc giả nào đã rành rẽ những gì đài báo tivi nói về giàn khoan HD-981 và lại không thích sáng tác văn học bị xen lấn bởi vô số sự kiện thời sự, mời đọc lướt hồi sau, trừ hai vụ việc ngày 2 tháng Tám. lướt gì thì lướt cũng nắm bắt ý chính giùm. (Thật tình, Hồi 2 những là 9.968 từ, bằng cả một truyện ngắn hơi bị dài rồi còn gì. Khó lòng ngắn hơn được. Gây chiến cũng như giết vua, đâu thể một ngày.)



HỒI 2


Ngày 15 tháng Bảy.

Giàn khoan Hải Dương Thạch Du (Haiyang Shiyou) 981 chính thức rút khỏi vị trí mà nó sinh sự sự sinh trong 75 ngày đêm - 75 ngày đêm vừa xuất hiện đã xồng xộc đi vào lịch sử gây chiến và xâm lược thế giới. Rút trước thời hạn. Rút không mở cờ gióng trống. Rút bặt tăm hơi. Thiên hạ thêm một phen “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”: mừng reo, ngỡ ngàng, hoang mang, ngờ vực, tẽn tò… Ô là la! Một lô xích xông các lý do, hậu quả, vấn đề, câu hỏi mọc lên giữa quốc gia Trung và phần còn lại của địa cầu mà đất nước Đại Việt tiếp tục lãnh đủ: thời kỳ Hậu giàn khoan.


Chưa hết, 75 ngày đêm lịch sử gây chiến và xâm lược đó lại thòi ra cái đuôi của nó. Đuôi quẫy mạnh và ngoạn mục bằng hai lý do, phụ: khủng bố văn học và trật tự xã hội; chính: thị uy quân sự.

Nhưng nguyên nhân sâu xa để mọc đuôi lại bởi màn chót cuộc thanh trừng nội bộ Trung Nam Hải, với lý do chính đáng: đào tận gốc tham nhũng. Cả nguyên nhân sâu xa lẫn lý do chính đáng đều là “chuyện thường ngày ở huyện” với đất nước Trung. Truyền thống ngàn năm... Phạt trong triệt ngoài. Thiên hạ đại loạn, ngư ông hưởng lợi. Xưa Mao Trạch Đồng từng đánh Mỹ đến người Việt cuối cùng; nay Tập Cần Bính diệt Giang Trạch Dâng tới cùng qua vụ giàn khoan.


Ngày 1 tháng Tám.

Tin từ báo Sức Trẻ Online có trụ sở tại Sài Thành:


Trưa nay, ba tàu Cảnh sát biển cuối cùng 9000, 8002, 8003 của Đại Việt cập cảng an toàn sau 90 ngày cưỡi sóng, đối diện với đe dọa vũ lực từ hàng chục, có khi lên tới trăm tàu chiến đối phương, chống chọi bão lớn trong mọi thiếu thốn mà vẫn mưu trí và quả cảm, linh hoạt và kiên quyết tiếp cận giàn khoan HD-981 chỉ để thuyết phục bằng pháp lý.”


Sáng qua, Tiến sĩ Phạm Quang Nghi, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng ta phát biểu trong cuộc họp báo tại Quốc hội Mỹ: ‘Ở khu vực giàn khoan, với số lượng rất ít những chiếc tàu nhỏ nhắn chúng tôi vẫn kiên trì yêu cầu phía Trung phải rút. Tàu chiến Trung húc, đâm làm tàu Đại Việt méo, chìm, vỡ vẫn không làm cảnh sát biển của chúng tôi lùi bước. Vì sao? Vì chúng tôi đã thực tâm chọn phương pháp ngoại giao, hòa giải và không dùng hải quân tại nơi căng thẳng. Không một tàu chiến nào của lực lượng bảo vệ lãnh hải Đại Việt giương súng trong suốt 90 ngày đêm tranh chấp. Xin quý vị nhớ giùm câu này được bảo đảm bằng mạng sống của các ký giả ngoại quốc làm tin tại trận - ồ xin lỗi - tại hiện trường. (Diễn đàn cười rộ vui vẻ…) Còn phía Trung, họ bảo khoan thăm dò thôi, đủ rồi. Dư luận đã và đang phân tích thấu đáo. Dù nguyên do gì, rút trước một tháng, đó là chỉ dấu giảm nguy cơ xung đột, đối đầu và gây chiến. Chúng tôi đánh giá rất tích cực sự kiện này!”



Còn Đại Việt Báo từ California, thủ phủ cộng đồng người Việt hải ngoại, có bài Tu Tập Và Những Nỗi Sợ của Tổng thư ký tờ báo này, văn sĩ - cư sĩ Nguyên Giác Phan Tần Hải:


Tôi luôn có một nỗi sợ. Nỗi sợ đó thế này: một lúc nào đấy tôi chết bất ngờ, và rồi lập tức dòng nghiệp thức sẽ bị kéo trở lại Đại Việt cho một kiếp kế tiếp. Chả là vì, không một ngày nào trong đời tôi không nghĩ về Đại Việt. Đâu chỉ nghĩ một lần hay một buổi, đôi khi suốt ngày không xa rời ý nghĩ về quê nhà cố quận.


Thật ra, tôi từng có nỗi sợ đó về một số bạn hữu, nhưng ở chuyện khác. Như với một nữ ca sĩ thân tình. Cô từng nói, từ buổi sớm thức dậy tới khuya muộn, kể cả lúc nằm chờ giấc ngủ, những âm thanh lời ca cứ ngân nga trong đầu trong ngực cô. Tôi nghĩ, làm sao giải thoát nhỉ. Bởi vì, nhỡ khi đứng tim chết bất đắc kỳ tử cô có thể thác sinh ngay vào một gia đình nào đó có máu âm nhạc. Tâm dẫn theo các pháp. Như vậy, những dòng thanh nhạc sẽ dẫn cô đi. Là tôi đoán thế, theo cách hiểu thông thường. Cũng vậy, với mãnh lực của thơ văn. Độc giả Đại Việt Báo biết rồi đó: tôi làm thơ, viết văn nhưng thực sự không mê say. Lúc nào cũng muốn làm biếng và thường thì làm biếng thành công.


Nhưng tôi biết mình không rời khỏi ý nghĩ về quê hương. Và đỉnh điểm là từ khi giàn khoan của Trung kéo vào Biển Đông. Tôi đọc đủ thứ tin tức, bài vở, tranh luận để theo dõi diễn tiến là chính, còn để làm báo chỉ là phụ! Quên ăn, quên ngủ. Ở tòa soạn, khỏi nói. Hễ về nhà lại mở tivi, dò đủ thứ đài. Cốt để nghe trong khi nghỉ ngơi. Và rồi tôi tìm ra 3 đài tiếng Anh phát từ châu Á nói thường xuyên về Biển Đông mà có thể nghe tại Quận Quít của California này. Cả 3 đài đều phát sóng 24/7 giờ/ngày; lại là các đài của chính phủ nên hầu như không có quảng cáo. Đài tôi thích nghe nhất là Đài Nhật Bản NHK 28.4, bênh Đại Việt chằm chặp cứ như mẹ bênh con gái. Còn Đài CCTV 31.9 của Trung thì tôi nghe nhằm khi ‘bà nội tướng’ cằm rằm chồng con mỗi buổi, vì các cha nội của đài này chuyên trò hung hăng mắng mỏ Đại Việt lấc xấc vô ơn. Khách quan là Đài Arirang 44.5 của Nam Hàn, ngặt nỗi nhạc nhiếc phim phiếc hơi bị nhiều. Nhiều đêm đang ngủ, hốt nhiên tôi chồm dậy... ‘Bà chủ nhà’ tưởng bở rồi giận lẫy, khi tôi mò tay qua bàn đèn mở NHK để nghe vì lo sợ quê nhà nguy biến bất ngờ. Chính tại các phút giây đó tôi lo và nghĩ, mình mà đứng tim chết ngắc, ắt sẽ tức khắc tái sinh ở Đại Việt.


Thế mới biết, giải thoát là điều vô vàn gian khó, bởi lâu nay tự coi mình là người mê tu 24/7, song tôi vẫn không sao thoát nổi các biến động Biển Đông nơi có ‘quê nhà xa lắc xa lơ đó’ như lời thơ Nguyễn Bính năm nao. Lắm khi coi tin cập nhật về giàn khoan mà không cầm được nước mắt. Đúng, kinh Phật hay vô cùng vô tận, chẳng còn gì khác để động tâm được nữa. Thế mà với tôi lúc này lại không phải thế. Và đấy cũng là một nỗi sợ lớn của tôi vậy...”


Sáng ngày 2 tháng Tám.

Mọi trang mạng lớn bé của Trung và những trang quốc tế mèng mèng cùng hầu hết các trang lề trái và lề giữa của Đại Việt đăng toàn văn tam ngữ Trung-Việt-Anh của Thư ngỏ gửi từ Chủ tịch Hội Văn sĩ Bắc Kinh, dịch giả Thiết Ngôn tới Tổng thư ký Hội Văn nghệ sĩ Hà Thành, thi sĩ Võ Thị Mỵ Châu.


Thư này đã đoan quyết:

Theo quan niệm của Roland Barthes, dễ dàng thấy các văn bản núp trong tác phẩm văn học ở 2 sáng tác Chuyện tổ quốc moving bất thànhChuyện cái mũi khoan và bom dị bào, mà hơn cả là ở dự án phim Chuyện tình Trung-Việt Việt-Trung đã tạo hiệu ứng cánh bướm về chính trị, an ninh và xã hội trên đất nước Trung bao la, từ các blogger cho đến những người đọc báo chữ to, từ trung nguyên ra tới biên đảo.”


Rồi thư này minh họa:

Không phải ngẫu nhiên, Tân Hoa Xã và báo Đảng là thời báo Hoàn Cầu đầu tháng Sáu ra loạt bài về việc Đặc công nước Đại Việt thiện chiến nhất châu Á, với những nhận định như: ‘Đó là những tài năng xuất chúng trong quân lực Đại Việt, bằng chiến thuật ‘nở hoa trong lòng địch’ có thể tác chiến tầm xa trên mặt nước và sâu dưới nước, được thủ đắc những vũ khí, khí tài thượng đẳng; ‘Chính lực lượng người nhái tinh nhuệ đó đã làm nên Bộ tư lệnh đột kích Đại Việt, không kém gì Nhóm triển khai chiến tranh đặc biệt của Hải quân Mỹ SEAL. Họ, những chiến binh mang nhiệm vụ mà đối phương cảm thấy không thể nào tưởng tượng nổi’; ‘Việc tái sử dụng đặc công đột kích như lực lượng đặc biệt là kinh nghiệm có được của Đại Việt qua chiến tranh Việt-Mỹ với tổng cộng khoảng 1.000 tàu quân sự Mỹ bị đánh chìm’; ‘Biết còn thua kém về tàu chiến, vũ khí, phương tiện đại dương, Đại Việt bèn xây dựng lực lượng này thành ‘lưỡi dao thép’ hòng bao quanh biển đảo của mình.”


Nên thư này suy diễn:

Các nhà bình luận quân sự chúng tôi không mấy khi ca tụng bá vơ. Vậy, có liên hệ nào giữa hiện thực đó với cái gọi là hư cấu văn chương về các Đặc công trứng trong truyện Chuyện cái mũi khoan và bom dị bào? Còn nữa, cả trong ý tưởng, dù huyền ảo viển vông thì cung cách viết văn dựng chuyện của người Việt về vũ khí dị bào sẽ chịu rủi ro về mặt nhân bản khi dùng thân thể con người làm phương tiện hủy diệt nhân loại.”


Và thư này định hướng:

Trong tình đồng chí nghĩa đồng văn của hai hội văn nghệ giao lưu giữa hai thủ đô, Hội Văn sĩ Bắc Kinh chân thành đề nghị Hội Văn nghệ sĩ Hà Thành chặn đứng các động thái mượn màu văn chương kích động bá quyền chính trị lung tung và cổ súy bạo lực loạn xị. Trước nhất, sớm tìm cách giảm thiểu ảnh hưởng tác phẩm, như tổ chức hội thảo phản bác hai truyện đó, và tìm cách treo bút tác giả Đỗ Quyên hiện là Hội viên dự bị của Hội. Sau, hạn chế mức thấp nhất sự tuyên truyền cho trường ca Hồn Phàm của nhà thơ Nguyễn Đinh Tú; sách này đang còn trong nhà in của Hội nhưng nguy cơ gây rối có thể còn lớn hơn hai truyện kia.”


(Xem tiếp hồi sau mới rõ xuất xứ của Thư ngỏ. Có nguồn gốc lãng mạn; không khô khan quan phương như ta tưởng.)


Chiều ngày 2 tháng Tám.

Giai đoạn chót của chiến dịch “Săn hổ đập ruồi” được chính quyền Trung tuyên bố bất thành văn qua việc bắt đầu điều tra Giang Trạch Dâng, kết thúc thẩm tra, kết tội và tiến hành bắt giữ Chu Vĩnh Kha và Từ Tài Đậu cùng nhiều nhân vật liên đới, và y án chung thân Bạc Hy Mai. Tất cả một rọ: tội tham nhũng. Trong 4 siêu hổ đó, một siêu hổ từng là Siêu Top 1, ba siêu hổ kia là nguyên là Top 4, Top 6, Top 7 của nóc nhà Trung Nam Hải. Tức là lần đầu tiên trong lịch sử cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung, không chỉ các Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị mà đến tận Tổng bí thư - kể cả đã về hưu - đều không được quyền miễn điều tra với tội danh kinh tế (theo quy tắc ngầm “hình bất thượng thường ủy”). Cũng tức là lần đầu tiên trong lịch sử trị vì của nhà nước cộng sản Trung đã có việc khởi tố quan chức cấp cao nhất, kể từ sau vụ “Bè lũ bốn tên” xét xử năm 1980.

Tưởng cũng nên nói thật to thật rõ: 20 tháng qua, từ sau khi ngài Tổng Tập lên ngôi và tung ra chiến dịch thánh chiến chống tham những, đến nay đã hơn 200.000 người bị điều tra, trong số 86 triệu đảng viên có 74.000 đảng viên bị kỷ luật, 2.000 cán bộ, đảng viên các cấp bị thay thế, hơn 50 quan chức từ cấp tỉnh, cấp bộ bị hạ bệ hoặc vào vòng lao lý, khai trừ khỏi đảng 6 Ủy viên trung ương, với 2 Top là Chu Vĩnh Kha (nguyên Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị) và Từ Tài Đậu (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương). Đó là sơ kết vòng 1 của chiến dịch vừa được nêu trong Hội nghị bất thường Trung ương Đảng Cộng sản Trung khóa 18 với tiêu đề “Y pháp trị quốc”.

Tưởng cũng nên nói thật rõ thật to: Tên chuẩn của chiến dịch phục hồi hình ảnh Đảng và chính phủ đối với người dân vốn bị sa sút nghiêm trọng vì nạn tham nhũng là “Chiến dịch vì đường lối quần chúng” - một thành ngữ từng được Mao ưa dùng.

Các hành động trên càng chứng tỏ sự tranh đấu giữa các bè phái, gia tộc đã làm nên văn hóa chính trị Trung như một bản chất Hán từ thời phong kiến cho đến hiện đại; và như học giả M. Zhasayev đánh giá: “Không gian chính trị của tầng lớp tinh hoa Trung từ thời Mao đến nay luôn cần một điểm quân bình nào đó giữa các phe nhóm. Giá trị đặc biệt trong cuộc chiến này là mũi tên chống tham nhũng, như phương tiện yêu thích để loại bỏ đối thủ chính trị”.


Các hành động trên càng ăn dơ với thổ lộ rất phớt đời của đương kim Top 1 tại cuộc họp kín của Bộ Chính trị tháng trước: “Trong cuộc chiến chống tham nhũng, sự sống chết và danh lợi là vô nghĩa với tôi.” Và cũng tỏ ra minh chứng cho nhận định của Viện Dự báo Chiến lược Stratfor: “Chiến dịch trừng phạt, tái tổ chức và cải tổ giới lãnh đạo đảng của Tập là sâu rộng nhất, kể từ khi Mao qua đời năm 1976 và Đặng lên ngôi năm 1978.” Thế nào cũng có khối độc giả nhớ câu đầu môi của Mao, “Nã pháo vào Bộ tư lệnh!”, mỗi khi trừng trị kẻ bất đồng chính kiến trong thời Cách mạng văn hóa.


Các hành động trên càng làm bằng chứng cho mục tiêu “Giấc mơ Trung”, như kết luận của Giáo sư Neil MacFarquhar, chuyên viên hàng đầu về Hán học tại Đại học Cambridge:

Chủ tịch Tập đeo đuổi mục tiêu lần đầu tiên - kể cả thời kỳ Mao trị vì – Trung phải trở nên hùng cường hơn trên vũ đài thế giới. Đúng, một viễn kiến giản dị nhưng quyết liệt: phục hưng nước Trung. Vâng, đó là tiếng gọi của hành động yêu nước, nếu bỏ qua chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Mấu chốt là ở chỗ nước này chưa hề qua kinh nghiệm hành xử trên trường thế giới. Chưa. Chưa từng. Vâng thì Trung thật sự từng là một đất nước mạnh và lớn trong nhiều thế kỷ, nhiều thiên niên kỷ, nhưng chưa được lên ‘vũ đài thế giới’. Vâng thì Trung thật sự từng có ngôi vị trên một vũ đài nhỏ, ở Đông Á. Tôi cho rằng ‘Giấc mơ của ông Tập’ là về một nước Trung ngày càng hùng cường đến mức châu Á, rồi xa thêm là châu Phi, Nam Mỹ, cuối cùng là phương Tây và Bắc Mỹ, lần lượt cúi đầu. Giấc mơ đang được bước đầu xảy ra trong hiện tại: mọi lúc mọi nơi mọi người từ 5 châu đang chảy vào ‘cái rốn’ Trung nguyên để kinh doanh, kiếm tiền. Quan trọng, mà hay dở cũng ở chỗ: đây là ‘giấc mơ kép’ của ông Tập - nước Trung mỗi ngày hùng cường thêm và Đảng Cộng sản sẽ vẫn độc quyền lãnh đạo mãi. Nên tôi cũng có một quan hệ ‘nghi ngờ kép’: không nghi ngờ Trung sẽ mỗi ngày hùng mạnh thêm; nghi ngờ Đảng Cộng sản sẽ mãi thống trị.”


Các hành động trên càng chứng tỏ Tập Cần Bính quả là:


Nhân vật lãnh tụ số một đang bày lại luật chơi mới cho bàn cờ quyền lực của Trung;

Nhân vật lãnh tụ số một có thể phá nát Đảng Cộng sản Trung chỉ bằng ván bài “chống tham những - chỉnh đốn Đảng”;

Nhân vật lãnh tụ số một - kể từ thời sau Mao - xuất chúng trước dư luận quảng đại, thâu tóm nhiều quyền lực nhất của lịch sử Đảng Cộng sản Trung;

Nhân vật lãnh tụ số một - kể từ thời sau Mao - thúc đẩy một chương trình trọn vẹn hồi phục bảng giá trị cũ và quyền hành mạnh bạo của Đảng Cộng sản;

Nhân vật lãnh tụ số một biết gieo cấy sợ hãi và tạo bất ổn tâm lý trong hàng ngũ đảng viên từ cao xuống thấp, bằng những điều răn cấm nghiêm khắc trong văn kiện “Bảy không” lưu hành nội bộ Đảng từ tháng Tám năm 2013;

Nhân vật lãnh tụ số một - kể từ thời sau Mao - đang thay đổi Đảng Cộng sản Trung khi xóa mô hình quyền lực “sự đồng thuận tập thể lãnh đạo”, “dân chủ tập trung”;

Nhân vật lãnh tụ số một với sự cương quyết và tốc độ nhanh đã đưa một quốc gia với hơn 1,3 tỷ người đang trỗi dậy trước thế giới;

Nhân vật lãnh tụ số một triệt để chặn đứng từ trong trứng nước các cởi mở chính trị, từ sau biến cố Thiên An Môn năm 1989 đến nay;

Nhân vật lãnh tụ số một - hơn cả Mao - biết dùng sự thanh trừng nghiêm trị nội bộ dưới danh nghĩa chống tham nhũng để bóp nghẹt xã hội dân sự đa nguyên ngay cả với các biểu hiện tranh đấu ôn hòa nhất, cai trị Đảng cùng với quản lý xã hội trong ổn định trật tự và thăng tiến kinh tế;

Nhân vật lãnh tụ số một - kể từ thời sau Mao - được định danh với nhiều cách, từ “hoàng đế trong thời hiện đại” đến “nhà tân độc tài của Đảng”;

Nhân vật lãnh tụ số một - kể từ thời sau Mao - đã xưng “tôi” trong ngôi thứ nhất, công khai đăng đàn lập thuyết về vai trò lãnh đạo với phương châm “Thủ lĩnh số một là quyết định”;

Nhân vật lãnh tụ số một tự coi mình được số mệnh lịch sử trao cho nhiệm vụ giám sát sự thức dậy của Con Hổ Trung.

Nhân vật lãnh tụ số một có nhiều kinh nghiệm quốc tế và thương trường: từng sống một thời gian ngắn tại Mỹ, từng chỉ đạo chuẩn bị Thế vận hội Bắc Kinh 2008; gia đình được xếp vào hạng giàu có nhất trong giới lãnh đạo Trung; con trai đang học ở Harvard, vợ là tài tử danh tiếng và xinh đẹp.


Nhân vật lãnh tụ số một của nước Trung đương đại, chỉ sau gần 2 năm lên ngôi đã đạt tới 13 danh xưng kể trên, cũng là một trong các nhân vật chính của truyện này. Nói một câu cho sớm chợ: nhà bác lãnh tụ số một ấy hiện có 14 danh xưng cả thảy!


Sáng ngày 3 tháng Tám.

Bang giao Việt-Mỹ vui như chợ phiên, kể từ chuyến công du sang Mỹ của Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Phạm Quang Nghi được coi là “pha đóng thế bí hiểm” cho Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Phạm Bình Sinh.

Các trang mạng quốc tế và Đại Việt đều hồ hởi phấn khởi đăng tin bài về cuộc viếng thăm ba ngày của 2 Thượng nghị sĩ Mỹ Sheldon Pentagon (Đảng Cộng hòa) và Bill McCain (Đảng Dân chủ). Ai cũng thấy qua hai quý ngài chóp bu Quốc hội Mỹ muốn gửi thông điệp không thể rõ ràng hơn được nữa. Nói theo ngôn ngữ a-còng: quan hệ Mỹ-Việt chỉ còn thiếu dắt tay nhau vào… nhà nghỉ. Ngắm vuốt, hôn hít đủ cả rồi! Buổi họp báo long trọng tại Hà Thành, nhị vị Pentagon và McCain thay nhau quần thảo diễn đàn:


Trong các ngày qua, hai chúng tôi đã có lần lượt 4 cuộc hội kiến thành công với 4 nhà lãnh đạo Đại Việt: Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch Nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Với những sự kiện rất đáng quan ngại gần đây ở Biển Đông, ‘4 điểm sẵn sàng’ của phía Mỹ đã là tất cả những gì 2 nước không nên bỏ lỡ trong tháng ngày lịch sử này. Nào, chúng ta hãy cùng biến lời nói của ngài Thủ tướng trong Thông điệp Tết Con Ngựa 2014 thành hành động cách mạng: dân chủ là xu thế khách quan trong tiến trình của nhân loại và Đảng Cộng sản phải nêu cao hơn nữa lá cờ dân chủ ở Đại Việt.”


Ở một diễn biến khác, trong chuyến viếng thăm xứ Chuột Túi, Chủ tịch Tập Cần Bính nói trước Nghị viện Úc những lời mà mía lùi không thể ngọt hơn được:


Trung sẽ không bao giờ dùng vũ lực để đạt các mục đích của mình và mong muốn bằng hòa bình xử lý tranh chấp trên biển với các quốc gia láng giềng. Cứ đọc lịch sử sẽ thấy các nước tìm cách phát triển bằng vũ lực thì luôn luôn thất bại, đó là điều Trung học được từ lịch sử.” [He he… Vậy là ngài Tổng Tập chánh thức công nhận trước thế giới rằng chí ít các cuộc chiến Biên giới Trung-Việt 1979, Hoàng Sa 1974, Gạc Ma 1988 là thất bại rồi nhé. Thế thì trả lại dân Việt chúng tui Hoàng Sa và Gạc Ma đi cha nội!]

Về chủ quyền và biên giới trên biển, lập trường của Trung bao giờ cũng là giải quyết bất đồng với các nước liên quan, đồng thời bảo vệ lợi ích của mình thông qua đối thoại và tham khảo. Các nghị sĩ Úc quý mến có biết không: với thương lượng hữu nghị Trung đã giải quyết hồ sơ tranh chấp lãnh thổ với 12 trong số 14 nước láng giềng [Một con số đáng điều nghiên. Hai nước nào không may mắn vậy ta?] và Trung sẽ còn đi tiếp theo hướng đó. [Chờ 12 ngày nữa sẽ rõ…]


Trưa ngày 3 tháng Tám.

Liền sau cuộc gặp riêng hai phía Trung-Việt bên lề Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 43 kỳ họp thứ 2 tại Myanmar, Đài quốc tế CRI của Trung dẫn lời Ngoại trưởng Vương Nghi:

Tôi và vị đồng cấp láng giềng phương Nam nói về những khó khăn lâm thời mà 2 nước đối diện, 2 nước cần phải thực thi nhận thức chung của lãnh đạo tối cao 2 nước, luôn lấy đại cục quan hệ 2 nước làm trọng, kiên tâm giải quyết ngon lành cành đào các vấn đề hữu quan bằng các tiếp xúc giữa 2 nước, đặng đưa quan hệ 2 nước sớm trở lại quỹ đạo chân phương.”


Túm (gấu quần chị Út Tịch) lại là cái gì cũng “2 nước”, “2 nước”... Thôi, từ nay gọi bác Vương Hai Nước cho rồi! Ấy vậy Bộ trưởng Vương Hai Nước không hề thả lỏng “lập trường bất di bất dịch của Trung về biển đảo, sẽ áp dụng mọi phương pháp, biện pháp và thủ pháp cần thiết giữ gìn chủ quyền quốc gia, quyền lợi đại dương”.


Chẳng hiểu cùng chia sẻ những gì mà cũng ngay sau cái sự “2 nước” đó, phía Đại Việt tuyên bố khác hẳn. Thông tấn xã Đại Việt nêu lời của Ngoại trưởng Phạm Bình Sinh, rất rành mạch:

Đại Việt luôn coi trọng quan hệ lân bang, không buông lơi đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung. Nhưng, chính thức là từ đầu tháng Năm vừa qua, quan hệ đã bị ảnh hưởng ghê gớm bởi sự căng thẳng trên Biển Đông. Tất cả chỉ vì Trung hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Đại Việt, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Đại Việt. Chúng ta đã khẳng định tình hình phức tạp và gay cấn trên Biển Đông là có thật. Chúng ta đã nói trên diễn đàn này rằng, các nước ASEAN cần cam kết và nghiêm chỉnh thực hiện DOC và sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông COC. Các vị ngoại trưởng đã rất lưu tâm và bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình căng thẳng Biển Đông, đã nhấn mạnh yêu cầu không để xảy ra điều tương tự.”


Nghe dư luận ca tụng, có được 4 chữ “quan ngại sâu sắc”/”seriously concerned” ấy là nhờ phía Đại Việt gây sức ép buộc đưa vào Thông cáo chung ASEAN đấy ạ! Trần ai khoai củ.


Ít tiếng sau, cũng trên CRI nước lớn bèn nhớn tiếng phủ nhận vụ Biển Đông, qua lời đôi co của Vương Hai Nước:

Tại Hội nghị có vài ba nước đã ‘bán rao’ (sic) cái gọi là tình hình Nam Hải căng thẳng. Chúng tôi thì thấy nhìn chung ổn định, tự do hải hành cũng không hề bị cản trở gì. Tất nhiên những sự vụ nho nhỏ lăn tăn ở tầm quốc gia hay hai quốc gia thì vẫn có như đã từng. Đó không là đại cục”.


Điều trung thực duy nhất ở bác Hai Nước là ngay cả trước mặt người đồng cấp trong buổi họp riêng Mỹ-Trung bác í cũng một giọng “biển Nam Hải ổn định”.


Liền tức thì Ngoại trưởng Mỹ Henry Kerry vừa từ Myanmar đến thăm Úc chưa kịp uống nước nghỉ mệt đã cao giọng bảo đảm

rằng “sẽ giám sát chặt chẽ vùng tranh chấp, theo dõi sự suy giảm căng thẳng trên biển có được thực thi như đề nghị của Mỹ tại Hội nghị ASEAN hay không”;

rằng “khi cần sẽ buộc phải cùng các bên hữu quan có biện pháp tự vệ chính đáng để bảo vệ mục tiêu chiến lược lâu dài vì lợi ích của Mỹ ở Châu Á - Thái Bình Dương, bất chấp khủng hoảng ở Ukraine và Iraq”;

rằng “là siêu cường quốc khu vực, Mỹ phải để tâm đến tự do hải hành trong khu vực”.

Và còn vài cái rằng khác, trong đó có cái rằng này mới đáng rằng, “mối quan hệ Mỹ-Việt đã tiến triển theo những cách mà sẽ rất nhiều người không khi nào có thể dự đoán nổi”.


Một quan sát viên nổi tiếng từ Hồng Kông lập tức đía vô:

Nhận định của chàng Henry đã không chỉ đích danh bà lão Từ Hi Thái Hậu. Nhưng đây là thông điệp mạnh nhất Mỹ gửi tới địa chỉ này trong vòng 93 ngày qua!”


Trên BBC thày dùi khác từ xứ Sương mù chọc ngoáy thêm:

Kerry! Hai ngày trước, ngài vẫn bảo Tòa Bạch Ốc không muốn xung đột hay đối đầu với Trung Nam Hải, cho dù hai siêu cường đang đối mặt với các vụ Đại Việt, Nhật, Hàn Quốc, Bắc Hàn, cơ mà? Mỹ vẫn mong đợi Trung như một đối tác toàn cầu đầy triển vọng, một cường quốc số 2 về kinh tế, cơ mà? Chậc, thì cũng bởi Bắc Kinh dám cáo buộc Washington cố ý châm ngòi nổ Biển Đông. To chuyện rồi sao?”


Ngày 4 tháng Tám.

Chủ điểm Biển Đông/Nam Hải im lặng trôi đi.

Báo mạng, báo giấy chỉ còn sốt lên với tin về bệnh Ebola và phi cơ rớt. Ukraine và Iraq vẫn thế, như hai dòng sông máu.


Ngày 5 tháng Tám.

Sáng. Đài RFB của Úc dẫn phát ngôn từ một viên chức cao cấp giấu tên của Bộ Ngoại giao Trung:

Trung và các nước Đại Việt, Nhật, Philippines đang trong tình trạng gay go về tranh chấp biển. Khả năng ‘cướp cò’ tạo chiến tranh cục bộ 2 bên là lớn. Bởi thế, Đại Việt cần tự nhận thức độ nguy hiểm để đàm phán 2 bên nhiều lần. Lần này 2 bên không xong thì 2 bên lần sau. Sau nữa… Và 2 bên nữa…”


Còn có 2 tin nóng được phát từ Hồng Kông và Đài Loan, rồi liên tiếp báo chí Trung và quốc tế, đến cả như New York Times, đăng lại:


Chủ tịch Tập Cần Bính chính là yếu nhân cuối cùng thông qua đề án xây đảo nhân tạo tại đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Nam Sa (là Trường Sa của Đại Việt, và Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền ở một số đảo); và Tư lệnh hải quân Trung Đô đốc Ngô Tất Thắng tháng trước đã bí mật thị sát 5 hòn đảo trong khu vực Trường Sa.

Đó không thể là tin lá cải. Nó được biết trong cuộc họp Ban Quốc phòng thuộc Viện Lập pháp Đài Bắc; người nói là Giám đốc An ninh Đài Loan Lý Tường Tru. Giám đốc Lý tố cáo Đô đốc Ngô đã thực thi chuyến công vụ “chưa có tiền lệ” với 8 ngày giám sát công tác lấn biển mà Trung đang thực hiện trên các đảo này trong nhiều tháng qua. Lòng vả cũng như lòng sung, Giám đốc Lý la toáng vậy cũng vì Đài Loan đang nhăm nhăm hoàn tất vào năm tới việc xây cất một cảng có đường băng trị giá 150 triệu đô trên đảo Ba Bình (tên quốc tế Itu Aba, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa). Ấy là chưa kể hậu sinh của Tưởng Tổng tài đã thảo xong dự án lập hải đăng trên đảo này với tuyên bố đầy chất thơ: “Một ngọn hải đăng dẫn đường cho sáng kiến hòa bình trên biển Nam Hải.” Dự án bố láo bố lếu ấy sẽ được khởi công vào tháng Bảy sang năm, cùng lắm là tới 2016. Thậm chí có quan chức Đài Bắc còn bật mí thông tin cực kỳ thi vị: “Không loại trừ đích thân Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cưu tới cắt băng khánh thành hải đăng.” Nào kém cạnh, Trung cũng quyết định xây trong năm nay hải đăng nhỏ trên 5 bãi đá, tại chính các nơi đang tranh chấp ở Trường Sa và Hoàng Sa. Nhà Trắng la lên: “Hành động này là mối đe dọa!”, còn dân tình Đại Việt thì hát chế bài đồng dao từ nửa thế kỷ trước:

Mấy chú ba Tàu; thằng nào cũng như thằng nấy

Một tay cướp đảo, đá; một tay xây cất hải… đằng”.


Trưa. Tại lễ kỷ niệm “50 năm: Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, trận đầu đánh thắng”, Đô đốc Nguyễn Văn Hiền, Tư lệnh Hải quân Đại Việt nhấn mạnh:

Hiện tình trên biển phức tạp và căng thẳng hơn nửa thế kỷ trước. Cương quyết bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và lãnh hải của Tổ quốc thiêng liêng, Hải quân chúng ta vận dụng thế trận tam giác Bờ-Biển-Đảo đủ sức cùng toàn thể dân tộc đánh bại các cuộc gây chiến xâm lăng trên biển.”

Rất nhiều “còm” của cư dân mạng truyền nhau đoạn cuối với nỗi mừng rên mé đìu hiu!


Chiều. Trang mạng bosun (lề trái của Trung và tăm tiếng với các tin nóng khó kiểm chứng): “Tạp chí bosun số cuối tháng Tám này sẽ độc quyền tiết lộ nội tình của biển Nam Hải với nguy cơ chiến tranh”; và “Ít ngày tới Đặc sứ Tổng Bí thư Đảng của Đại Việt sẽ lại đến Bắc Kinh bàn thảo bí mật với thượng cấp Trung Nam Hải về chuyện biển đảo.”

Tối. Nữ cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Anne Rice viếng thăm Bắc Kinh. Khi bắt tay Ngoại trưởng Vương Nghi, chẳng biết Nữ cố vấn có dấm dúi tí gì về vụ giàn khoan 981 hay không, còn trên mặt báo chỉ thấy song phương đấu khẩu về vụ “vờn máy bay” (Mẽo la: tàu bay Tàu chặn đầu rất nguy hiểm máy bay tuần tra Hải quân Mẽo trên không phận quốc tế; Tàu kêu: Mẽo hãy dần dần và cuối cùng phải ngừng hẳn do thám trên giời của vùng biển và lân cận Trung.)

Đêm. Nhiều trang mạng quốc tế uy tín đăng bài của Giáo sư Ba Lan Shutov quả quyết rất hiếm có xung đột vũ trang Biển Đông Trung-Việt với một khoảng trống an toàn:

Ít ra từ nay đến năm 2025 sẽ khó nổ ra chiến sự, vì ở giai đoạn này không chỉ Đại Việt mà cả Trung lẫn Mỹ đều bất lợi. Nếu Biển Đông chìm trong lửa đạn, trước nhất Đặc công nước của quân đội Đại Việt sẽ phong tỏa một phần hay toàn phần đường từ Trung tới eo biển Malacca. Toàn thế giới đều biết eo biển Malacca nằm trong bán đảo Malaysia và nối Biển Đông với Ấn Độ Dương; eo biển này là tuyến hàng hải cực kì quan yếu vận chuyển hàng hóa từ châu Âu, châu Phi, Nam Á, Trung Đông đi Đông Nam Á, Đông Á với 1/4 lượng giao thông hàng hải thế giới mỗi năm. Quan trọng nhất: tất cả người Trung đều nhớ rằng 80% lượng dầu nhập vào Trung phải đi qua eo biển Malacca; dại gì mà chiến tranh!”


Sáng và trưa ngày 6 tháng Tám.

Truyền thông Đại Việt và quốc tế lại phừng phừng như đàn bà thấy tháng, với tin phái đoàn cấp cao Quân đội Mỹ do Đại tướng Aaron Dempsey, Tổng chỉ huy các Tham mưu trưởng quân lực Hoa Kỳ lần đầu tiên chính thức thăm Đại Việt kể từ khi nước này thống nhất 1975.


Trong cuộc họp báo tại Sài Thành, vị tướng hàng đầu Tây bán cầu diễn thuyết như một chính khách chuyên nghiệp:

Không để nhìn về Trung, tôi tới đây với mục đích gia tăng quan hệ quân sự Mỹ-Việt. Nhưng việc phía Trung bác bỏ đề xuất ngăn chặn hành động leo thang căng thẳng ở Biển Đông do Philippines và Mỹ đưa ra tại diễn đàn ASEAN là sự thật đáng tiếc. Mỹ không thể đứng về bên nào trong các tranh chấp lãnh thổ, nhưng tán đồng xử lý tranh chấp bằng hòa bình. Tục ngữ người Việt đã dạy rồi: Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên... Điều không nên hiểu nhầm là chúng tôi không hề ép buộc Đại Việt phải lựa chọn giữa Trung và Mỹ. Nhiều tháng trước, người đồng cấp Trung từng nói với tôi, Bắc Kinh phải hành động để phản ứng lại chiến lược ‘tái cân bằng’ của Washington. Tôi bác bỏ lập tức, bác bỏ hoàn toàn điều đó. Mỹ có lợi ích quốc gia và lợi ích chung trên Biển Đông chứ bộ! Đó là tự do hàng hải, tiếp cận thị trường và tôn trọng trật tự quốc tế. Hễ 3 nguyên tắc đó bị vi phạm, Mỹ buộc phải hành động. Thế thôi. Vả, Đại Việt lại là quốc gia mang vị trí chiến lược độc đáo có liên hệ sinh tử với 3 nguyên tắc đó. Truyện Kiều có một câu minh họa rất hay cho vấn đề Biển Đông mà tự dưng tôi quên mất…”


Với câu hỏi của ký giả New York Today, viên tướng bốn sao thổ lộ:

Vì ý nghĩa quan trọng của Đại Việt nên nhị vị Tổng thống và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đều nói với tôi rằng, dẫu cho binh tình nắng mưa thế nào tôi cũng phải có chuyến công cán này. À, tôi còn muốn dẫn lại lời của bạn tôi, Luật sư Clayton Osius - người sắp trở thành tân Đại sứ Hoa Kỳ tại Đại Việt: ‘Với truyền thống con Rồng cháu Tiên, Đại Việt đã và đang tạo cho mình đôi cánh vững vàng để bay lên. Chính phủ và nhân dân Mỹ chúng ta sẵn lòng tăng thêm sức mạnh cho Đại Việt bay cao, bay xa hơn nữa”’.


Bình luận gia đến từ Đức quốc Jonathan Berlin nổi danh không chỉ vì quá giỏi tiếng Việt:

Sáu ngày trời, dưới sự hộ tống xởi lởi và an toàn của người đồng cấp Việt, ông đại tướng cầm đầu đoàn tùy tùng đã ‘hành quân’ dọc từ bắc xuyên trung xuống nam dải đất này. Chuyến đến Đại Việt của sĩ quan Mỹ cao cấp bậc nhất đang là dấu hiệu mới nhất về quan hệ quốc phòng giữa hai nước với những biến đổi sâu, nhanh và mạnh. Thậm chí, tôi dám khẳng định: Đại Việt có thể đã bước vào giai đoạn chính trị có tính cách mạng nhất từ sau năm 1975.”

(Dưới bài chúng tôi thấy có còm “Xin lỗi ông! Hãy đợi đấy…” của nick là Đại Hán.)


Bộ Ngoại giao Đại Việt họp báo bất thường; nữ ký giả tờ Tiền Tiến cầm đèn chạy trước ôtô, hỏi:

Chúng em được sếp phổ biến là từ nay đến cuối năm, Bộ trưởng Hải quân rồi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sẽ lần lượt thăm nước ta ạ. Vậy nước ta và nước bạn có chương trình gì mới trong hợp tác quân sự không ạ?”


Phát ngôn viên Lê Hải Bằng - người luôn tạo được ấn tượng với thao tác cực mạnh mà điệu đà khi vươn cánh tay xòe bàn tay mời nói - đã trả lời rất khôn. Nên chúng tôi chả chép vào đây (bắt chước thơ Nguyễn Nhược Pháp hồi đầu thế kỷ 20 trong bài Chùa Hương).


Nhưng chúng tôi lại chép vào đây cái này hay hơn: điểm son hi hữu về sự đoàn kết nhất trí giữa thời khắc Tổ quốc nguy nan của hai phe thân Cộng và chống Cộng tiêu biểu trong cộng đồng Việt hải ngoại.


Giáo sư Nguyễn Ngọ Bích, Cựu đại sứ Đại Việt Cộng Hòa trước 1975 có bài “Việt-Mỹ sắp sang bước ngoặt lớn” phân tích các sự kiện lớn vừa xảy ra, với kết:

Bây giờ chúng ta có thể lạc quan hơn khi nghĩ đến đột biến bang giao của Mỹ tại Đại Việt là giúp nước này ra khỏi quỹ đạo Bắc Kinh. Nghĩa là họ giúp Đại Việt ‘thoát Trung’ trước khi chúng ta có thể hoàn toàn đòi ‘thoát Cộng’. Vậy, tất cả người Việt dù ở đâu, dù là ai đều đang sống những giờ phút lịch sử dân tộc vô cùng trọng đại. Liệu chúng ta, toàn dân trong và ngoài nước, có đủ đoàn kết và can đảm tạo ra lịch sử mới trong thời khắc này không?”


Cùng với việc dẫn link bài của Giáo sư Bích, người điểm báo Diễn Đàn Ba Lê - trung tâm Việt Kiều Yêu Nước từ nửa thế kỷ trước, đại bản doanh của các ngọn cờ trong cao trào phản chiến thời chiến tranh Mỹ-Việt - bèn có lời chua: “Giá trị của bài nằm ngoài nội dung: a. tác giả là một chuyên gia chống Cộng đến chiều; b. bỗng viết một bài có thể không xuất sắc nhưng không hề dở như trước đây. Phải chăng đó cũng là một chỉ dấu của ‘bước ngoặt’”?

Thế thì chúng em chua thêm: việc hai bác “ở hai đầu xa thẳm” nay chịu hiểu nhau, chịu nói lời đoàn kết cũng lại là “bước ngoặt khủng” giữa con dân Việt chúng mình. Đa tạ cái giàn khoan!


Trưa ngày 7 tháng Tám.

Cũng không nhiều “còm gia” hào hứng trước tin, sau một thời gian dài căng thẳng, Mỹ-Trung ký Hiệp ước không đối đầu quân sự.

Tổng thống Fraser Obama và Chủ tịch Tập Cần Bính nhân cuộc gặp gỡ nguyên thủ APEC tại Bắc Kinh đã “đánh lẻ” đi riêng (không có phu nhân đi theo) để ký kết 2 cam kết tránh xung đột và va chạm vũ trang giữa quân đội hai bên. Một hiệp ước về diễn tập quân sự quy mô lớn, còn cái hiệp ước kia gồm các quy định ứng xử khi quân đội hai bên vô tình “đụng hàng” trên biển hoặc trên không.

Giới phân tích Tây phương tí tởn cho rằng, các thỏa thuận quân sự là một cách để Washington nhằm buộc quân đội Trung tuân thủ nguyên tắc quốc tế; rằng các nước trong vùng Biển Đông cũng không muốn mục sở thị một cuộc xung đột Mỹ-Trung.[Ai thèm! Trâu bò các vị đánh nhau ruồi muỗi chúng tôi chết chùm sao?]


Tòa Bạch Ốc tiết lộ, ông Tổng Obama sau khi ký đã tươi tỉnh cùng phu nhân đi trấn an các vị nguyên thủ cùng phu nhân của các nước Châu Á - Thái Bình Dương về cam kết quân sự của Mỹ vừa được ký toẹt một cái xong ngay tại APEC vốn là nơi chỉ bàn chuyện làm ăn.


Bình luận gia rất tinh tường và có chút tinh tướng Jonathan Berlin nhanh chóng gửi bài trực tiếp bằng tiếng ta lên mạng TTO:

Nay càng rõ ra rằng Đại Việt chính là trung tâm cạnh tranh to lớn giữa Washington và Bắc Kinh khi muốn tạo ảnh hưởng ở Đông Nam Á. [ Chứ còn ai trồng khoai đất này nữa? ] Tất cả các nước đều hy vọng bang giao Mỹ-Trung sẽ không tiếp tục xấu đi đến mức trở nên một quan hệ kình địch.”

Câu này mới chất lừ:

Đại Việt vẫn duy trì đường lối tìm kiếm lợi ích từ mối quan hệ nồng ấm với hai cường quốc đó. Thế nhưng, chắc chắn căng thẳng sẽ tiếp tục diễn ra và đe dọa hòa bình.” [ Nhân bảo như thần bảo: quả nhiên, một tuần sau đây sẽ là ngày 15 tháng Tám lịch sử, dù là một lịch sử tẽn tò! ]


Chiều ngày 7 tháng Tám.

Bộ Ngoại giao Đại Việt ra thông cáo, theo lời mời của Đảng Cộng sản Trung ông Lê Hồng Ảnh, Thường trực Ban Bí thư (yếu nhân quyền lực đứng hàng thứ 5) trong 2 ngày tới sẽ sang thăm Trung với danh nghĩa Đặc sứ Tổng Bí thư Đảng của Đại Việt có “mục tiêu cụ thể là trao đổi với lãnh đạo Trung sao cho tình hình được làm dịu, không còn tái diễn các vụ căng thẳng ở Biển Đông, đồng thời tăng quan hệ hai Đảng, hai nước Việt-Trung tiến triển lành mạnh, ổn cố lâu dài.”


Phía Bộ Ngoại giao Trung nhanh chóng ra thông cáo của mình. Cư dân mạng nhìn toét mắt chẳng thấy gì đáng kể ngoài việc nhăm nhăm “hoan nghênh Đại Việt đã quyết định sẽ bồi thường cho công nhân Trung” (bị tử vong và thương trong các vụ bạo động chống Trung hồi tháng Năm tại Bình Dương và Hà Tĩnh). Bộ này tỏ ra khoái trá khoe với thiên hạ “Đại Việt đã lấy làm tiếc về những gì đã xảy ra.”


Hôm sau, giỏ nhà ai quai nhà ấy, trong một bản tin ngắn Tân Hoa Xã cũng không đưa tin chi tiết mà chỉ nói láng cháng về buổi ông Lê Hồng Ảnh tiếp ông Vương Gia Thụ, Trưởng ban Liên lạc Đối ngoại Đảng Cộng sản Trung đến chào. Rất láu, thay vì nói quan điểm của mình họ lại trích dẫn thông cáo của Bộ Ngoại giao Đại Việt với các chữ “làm dịu tình hình”, “căng thẳng” như trên. Kiểu như “đấy là chú nói, không phải anh nói” mà chúng ta hay nghe ngoài quán nước, cà phê. Đã thế phe ta chơi lại bài đó. Ngán gì! Trang mạng Bộ Ngoại giao ta cũng dẫn lại lời ông Vương nói rằng “phía Trung rất coi trọng chuyến viếng thăm cao cấp” của ông Lê và - câu này đáng kể! - “tin rằng sẽ góp phần xử lý thỏa đáng tranh chấp, bất đồng giữa hai nước”. Giá nói thẳng “sau vụ giàn khoan 981” thì cư dân mạng sẽ gọi Vương ông bằng cụ! Nay gọi ông bằng chú: chú Ba Tàu.


Giáo sư Thayer/BBC luôn trung dung và cặn kẽ::

Chuyến viếng thăm này đặt nền móng cho việc hai bên sẽ trở lại sự tham vấn ngoại giao sau thời gian đối đầu trên biển. Trong thời gian xảy ra vụ giàn khoan 981, Đại Việt đã phản ứng bằng 30 điệp văn ngoại giao, phía Trung bác bỏ hết, từ chối cả chuyến thăm của Tổng Bí thư Đảng của Đại Việt. Chuyến đi của ông Lê Hồng Ảnh cân bằng lại chuyến thăm Mỹ của ông Phạm Quang Nghi. Nhưng theo tôi, nó nhằm giữ thể diện cho cả hai bên. Phía Trung mời ông Lê sau khi đã liên tục từ chối mọi đề nghị gặp gỡ từ Đại Việt. Ông Lê yêu cầu Trung cho biết dự định trong tương lai liên quan về việc đặt giàn khoan. Còn Bắc Kinh lại muốn bảo đảm rằng Hà Thành sẽ không kiện Trung.”


Bình luận viên Petty của Reuters thì bảo:

Hành động đầu tiên về nỗ lực chung hàn gắn rạn nứt giữa hai bên, mắc kẹt trong cuộc khẩu chiến từ hôm 2 tháng Năm. Sự tranh cãi với Trung đã đặt Ban lãnh đạo Đại Việt ở vị thế khó xử. Dù giai đoạn căng thẳng kéo dài với Trung có thể gây hại cho nền kinh tế vốn đã nhỏ bé hơn nhiều thì cảm giác nhượng bộ Bắc Kinh có thể gây mất lòng dân.”


Bác Petty con nhà ai mà đoán tài thế! Đây, lão tướng Nguyên Trọng Vĩnh, cựu Đại sứ tại Trung khăng khăng với AP:

Chuyến thăm sẽ không mang lại kết quả gì. Trung sẽ không bao giờ nhượng bộ. Họ chỉ tạm thời rút giàn khoan đi mà thôi. Họ sẽ không bao giờ từ bỏ tham vọng độc chiếm Biển Đông.”

Mềm, thực tế hơn, nhà tranh đấu - Tiến sĩ Nguyên Quang A thượng đài BBC:

Hoan nghênh chuyến đi, nhưng lo Trung sẽ thuyết phục Đại Việt từ bỏ kế hoạch xem xét kiện Trung ra Tòa trọng tài quốc tế như từng đe dọa.”


Một nửa thế giới, tức là không kể các bác đang bận chiến trận ở Ukraine (Matxcơva đã đưa hẳn quân vào đó rồi?!) và Iraq (điên đảo sau vụ phe Nhà nước Hồi giáo IS cứa đầu hai nhà báo Mỹ Foley và Sotloff), mọi người hồi hộp đọc 2 tin đồng thời:

Thông tấn xã Đại Việt: “Ông Lê Hồng Ảnh - Thường trực Ban Bí thư, Đặc phái viên của Tổng Bí thư đã hội kiến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Tập Cần Bính.

Và Tân Hoa Xã: “Chủ tịch Tập Cần Bính: Trung-Việt nên quay lại quỹ đạo phát triển đúng đắn, tình hữu nghị truyền thống rất đáng quý trọng.”


Bản tin Thông tấn xã Đại Việt cho biết ông Lê có câu “đề nghị lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước tăng cường chỉ đạo để (…) duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông.” Quý lắm, ở các chữ “Biển Đông”! Phía ông Tổng Tập “khẳng định Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung hết sức coi trọng phát triển quan hệ với Đại Việt” thì cũng phải thôi, bởi chính ông cũng là tác giả của câu để đời “người Trung không có gen xâm lược” mà lị. À ông còn “bày tỏ sẽ sang thăm lại Đại Việt vào thời gian thích hợp.”

Nói lời phải giữ lấy lời

Đừng như con bướm Trang Tử đậu rồi lại bay.”

Cư dân mạng hú nhau đi mua sẵn trứng, tới khi ông qua trứng thúi là vừa…


Còn tin Tân Hoa Xã phải nói là khá hoành tráng. Hoành tráng để ve vãn. Nào là khoe ầm lên ông Tổng Tập “đã hội kiến với ông Lê Hồng Ảnh, Đặc sứ của Tổng Bí thư Đảng của Đại Việt tại Đại Lễ đường Nhân dân.” Ý là có nghi lễ chính tông long trọng để vị Đặc sứ chuyển lời nhắn (“khẩu tín”) của hai vị đồng cấp Đại Việt tới ông Tổng Tập.


Ông Tổng Tập đã nói các câu sau đây, theo bản dịch từ nguyên bản tiếng Trung của Ký giả Nguyên Thủy trên vanhoanghean.info.vn, chúng tôi sẽ trích hơi dài để sau này ông mà làm sai thì nhân dân hai nước Trung-Việt “kéo đến nhà vả vào mồm” (dùng lại cụm từ mạnh của Giáo sư văn học trung đại Nguyên Huệ Chi):


Trung-Việt là láng giềng gần, lại đều là quốc gia Xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Láng giềng gần thì không thể dọn đi đâu được. Mấy năm nay, mối quan hệ giữa hai nước về tổng thể phát triển tốt, nhưng gần đây bị xói mòn rất lớn [Nguyên văn của “xói mòn” là “xung kích”. Thế này thì làm xấu chữ Xung Kích vốn là tiểu thuyết đầu tiên về chiến tranh cách mạng Đại Việt rồi, tác giả Nguyễn Đình Thi ơi!] khiến nhân dân hai nước và cộng đồng thế giới phải quan tâm cực độ. Tổng Bí thư Đảng của Đại Việt cử đồng chí làm Đặc phái viên đến Trung để gặp gỡ cấp cao hai Đảng, tức là thể hiện nguyện vọng phía Đại Việt muốn cải thiện và tiến triển quan hệ hai nước chứ gì? Tôi là tôi coi rất trọng lời nhắn từ nhị vị Tổng Bí thư và Chủ tịch Nước của các đồng chí. Nên tôi những mong cùng muốn phía Việt và phía Trung chung tay cố lên hò dô ta nào kéo pháo ta vượt qua núi đang dựng đứng giữa quan hệ Trung-Việt để quay lại quỹ đạo phát triển đúng đắn. Ô-kê?”

Tất nhiên ông Tổng Tập phải có câu pha “vàng 16” chứ: “Phía Trung sẽ tiếp tục nắm phương châm “ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu hảo, hợp tác toàn diện”. Cả câu nữa rất cải lương Hồ Quảng: “Hàng xóm với nhau khó tránh được va chạm, điều quan trọng là dùng thái độ và phương thức như thế nào để đối xử và giải quyết.” [Khó gì! Sang năm ông lại kéo thêm thằng HD982 sang nhà chúng tôi cho giàn khoan nhà ông có anh có em.]


Trước cuộc hội kiến có ý nghĩa cao này, ông Lê đã hội đàm với ông Lưu, người đồng cấp phía Trung. Hai ông đã “nhất trí về 3 nội dung” trong đó có các chữ đáng đồng tiền bát gạo: “duy trì (…) ổn định trên Biển Đông”. Ấy là theo tin Thông tấn xã Đại Việt. Còn Tân Hoa Xã thì “nhận thức chung 3 nguyên tắc (….) giữ gìn (…) ổn định ở biển Nam Hải.” Thiệt tình, lâu lắm mới thấy bản tin của hai phía trùng nhau đến vậy, lại ở chữ cuối cùng và nhức nhối nhất: Biển Đông/Nam Hải! Là lá la…


Tóm: Sau chuyến đi quan trọng và được tiếp đón đúng nghi thức của vị Đặc sứ Lê Hồng Ảnh, thỏa thuận Trung-Việt “3 nội dung” mang vẻ ngoài “Vũ Như Cẩn”; nhưng thông cáo kết quả theo hai kiểu khác nhau của hai nước đã làm mệt các bình luận viên quốc tế muốn truy tìm cái nhạy cảm nằm giữa hai mảng chữ. Phe cư dân mạng vốn thực dụng, lại nóng nảy. Đếch thấy các chữ “giàn khoan 981” hiển lộ trên bản tin chính thức của cả hai bên, thành thử la toáng lên. Gớm các bác này, rõ là “được voi (Biển Đông/Nam Hải) lại còn đòi Hai Bà Trưng (giàn khoan 981)”. La lá là…


Đáng lẽ xong phần này rồi, vẫn níu độc giả ở một trích lược nữa. Rồi xong. Để thấy cái gốc của văn hóa Trung trong kỹ thuật giương đông kích tây. Cũng để hiểu vì sao có Hồi 4 là hồi “khủng” nhất và cũng là khô nhất truyện.


Do muốn “bộc lộ mưu đồ thâm hiểm cũng như thái độ xấc xược kẻ cả của Cộng sản Tàu” trang mạng BoVN đã dẫn lại bài từ blog của ai.viet.nguyen một bản dịch (kèm lời bình của chính dịch giả Lệnh Lỗi Dương - bác này nhái tên Tàu nhưng ắt là phe ta, người Việt) bài từ báo Đảng của Trung phổ biến ngay trong khi Đặc phái viên Lê Hồng Ảnh thăm Trung.

Tên bài dài thoòng: “Đại Việt phải xì-tốp ngay tuyên truyền yêu ma hóa Trung, bằng không chớ trách siêu cường láng giềng không hữu hảo”. Nhà bác Lệnh rõ là cẩn trọng, cài số lùi cho bản dịch bằng lời bình xen kẽ còn chưa an lòng, lại kết ở câu “Bài báo này tuy do một tên hoặc ngu hoặc đểu (hoặc cả hai) viết ra, nhưng cũng có dăm điều đúng để gạn đục khơi trong mà dùng”. Thưa vưng, nhà em đang dùng đây ạ. Ngu ý nhà em: bài cóc có nội dung thực gì, mà nội dung nằm ở cái giọng điệu cà chớn vô cùng tận; như thể cha đang tiếp khách thì thằng con trai ra hàng hiên nói leo nói tục réo rủa khách.


Ký giả Lệnh Lỗi Dương biên soạn bài ấy lấy nguồn là trang Lôi Đình Quân Sự vốn gốc từ trang Hoàn Cầu mà Hoàn Cầu là phụ trương tờ Nhân Dân Nhật Báo. Tức là hổ phụ sinh hổ tử…

Lệnh tiên sinh thật cao thâm, lấy độc trị độc. Câu này tỏ ra bài của bác ấy không phải là đồ chơi:

Phái viên Tổng bí thư Lê Hồng Ảnh đang công cán tại Trung. Nếu có được những động thái khôn khéo, có khí phách, chuyến đi sẽ bảo vệ được quyền lợi quốc gia. Một trong những vấn đề quan trọng là biết được ý đồ thật của Trung. Chúng ta biết rõ, lập trường thật của Trung không nằm trên những báo chính thức như Nhân Dân Nhật Báo hay Hoàn Cầu.”

Còn câu này trong lời phi lộ của dịch giả, đọc tức ói phở nhưng bổ ích cho mỗi con dân Việt:

Lôi Đình Quân Sự là trang mạng được chính phủ tài trợ, nhưng phản ánh quan điểm hết sức hiếu chiến của giới quân sự Trung [Cho thằng con đi tù về cởi trần tập tạ dọa khách chứ gì!]. Trong khi xung đột giàn khoan, Lôi Đình Quân Sự không ngừng cổ súy những biện pháp vũ trang cứng rắn, dùng từ ngữ mạnh như ‘đánh Đại Việt như chó rớt xuống nước’, ‘tràn ngập lãnh thổ Đại Việt trong ba ngày’. [Ói hết cả bát phở vợ cho ăn quà sáng này rồi!] Nhưng với trò ngoại giao đa phương gần đây, Lôi Đình Quân Sự bắt đầu đổi giọng và tuyệt không nhắc một câu nào tới chuyến công vụ của Phái viên Lê Hồng Ảnh.”


Phần vì độc giả nôn nóng biết vụ “chiến tranh bất thành” bị chúng tôi dấm dứ mãi, phần vì bài của Lôi Đình Quân Sự chỉ giỏi đâm bị thóc chọc bị gạo (dù lời bình của Lệnh Lỗi Dương làm dịu đi nhiều), nên chỉ dẫn thêm một câu:

Đại Việt đang chủ trương làm kỳ đà cản mũi khiến Trung không thể tiến xuống đại bộ phận hải vực phía nam quần đảo Tây Sa, và tiến hành mở mang bờ cõi vốn đã bao la nay cần bao la nữa bao la mãi. Nếu họ không chịu thay đổi thái độ thì Trung tiếp tục tùy cơ ứng biến; và điều này không nghi ngờ: mâu thuẫn cùng xung đột sẽ còn gia tăng, thậm chí khuếch đại đến tột cùng!”


Tối ngày 7 tháng Tám.

Thời báo Hoàn Cầu phỏng vấn Edward Jones, tác giả sách “Chúng tôi vẫn lãnh đạo: Hỡi các cường quốc đang trỗi dậy!”:

Ông nghĩ gì về ‘quan hệ cường quốc kiểu mới’ do lãnh tụ đương nhiệm Trung đề xướng?”

Đây là ý niệm rất quan yếu của thế kỷ 21. Ngài Tập Cần Bính cần được một bông hồng chính trị về điều ấy.”

Ngày 28 tháng Năm, diễn văn tại Học viện Quân sự West Point của Tổng thống Fraser Obama có câu ‘Nước Mỹ tiếp tục lãnh đạo thế giới 100 năm nữa.’”

Vâng! Và sách của tôi đành giật tít, như bạn thấy.”

Sự khủng hoảng giữa Trung với Nhật và Philippines làm bang giao Trung-Mỹ tồi tệ hơn. Ông thấy sao về chính sách của Mỹ?”

Nhìn quan hệ Trung-Nhật ở biển Hoa Đông căng thẳng, Mỹ thấy đống xương tai họa đang nằm dưới lớp vải ổn định. Nhưng các hành động của Trung tại biển Nam Hải, nhất là cái giàn khoan từ tháng Năm, khiến Mỹ tiên lượng về một quốc gia Trung mang tính tấn công. Tôi trộm nghĩ biển Nam Hải đủ rộng cho các hạm đội Trung và Mỹ.”


Một tuần sau, 8 giờ kém 8 phút sáng ngày 15 tháng Tám. Lớn nhất thế giới từ trước đến nay, tầm vóc và ý nghĩa to hơn rất nhiều cuộc chiến tranh hải dương gần đây nhất tại quần đảo Falkland năm 1982 giữa Argentina và Anh quốc: Đó là cuộc hải chiến quốc tế bất thành 2014 đã nổ ra trên Biển Đông/Nam Hải.

Nếu như là người tò mò hoặc kẻ ham gây sự, quý độc giả sẽ đọc nhảy cóc hoặc nhảy dù, băng qua khu phi quân sự là Hồi 3 dài những 25.974 chữ, để tiến ngay xuống chiến trường là Hồi 4. Dài hơn cả một truyện dài riêng rẽ, như một mini tiểu thuyết rồi còn gì. Không dài, không tiểu thuyết sao được khi chúng rặt là những chuyện văn vẻ cà kê dê ngỗng giữa hai người thất tình cuồng ngôn lại bị xâm phạm bởi một kẻ loạn tình xảo ngôn.

Dù độc giả đọc nhảy kiểu gì hay thịnh tình bám theo từng con chữ đoạn văn, điều sẽ thấy ở đây là cái chân lý đèn cù của Ông tạo: chiến tranh quân sự là khủng hoảng tối hậu của đường lối chính trị; đường lối chính trị là bùng phát cực điểm của dòng chảy văn hóa; dòng chảy văn hóa là tuôn trào tự nhiên của tâm sự văn học nghệ thuật; cuối cùng, đến lượt mình, tâm sự văn học nghệ thuật là nội chiến trong lòng tác giả thể hiện cuộc chiến xã hội nhân quần.



HỒI 3


3.1


Từ đầu tháng Năm, Cục Tình báo Hoa Nam có trong tay toàn bộ trao đổi điện thoại, điện thư giữa dịch giả Thiết Ngôn và thi sĩ Võ Thị Mỵ Châu. Sau khi hai truyện của Đỗ Quyên gây dư luận, tất cả sinh hoạt của hai người đều bị lọt vào tầm ngắm. Trong hồ sơ cơ quan an ninh Trung họ đều bị mang “mật danh đen”.


Đuôi” không ai khác chính là phê bình gia Trương Duy - phó và cũng là nam nhân tình của người chủ tịch độc thân tài hoa lãng tử. Thật ra từ năm ngoái, họ Trương đã tự ý lập hồ sơ theo dõi sếp của mình. Lúc đó ghen là chính. Nhiệm vụ ư? Cái cớ viển vông. Viển vông hóa thật. Sáng ngày 2 tháng Tám, nội vụ đổ bể, vốn con nhà nòi lịch lãm sếp chỉ biết mắng vào mặt phó một câu: “Tài, tài đến thế là cùng!” Một câu mắng nhưng bằng bốn thứ tiếng: Việt, Nga, Anh và Trung. Vui ở chỗ đệ nhị khổ chủ - nhà thơ Võ Thị Mỵ Châu - vô tình nghe được chuỗi chửi rủa mang tính toàn cầu hiếm có. Chả là vì chàng nàng đang điện thoại nói lời chia tay lần chót thì “đuôi” ló mặt. Trắng trợn và khiêu khích.


Là con trai cưng của văn hào Tứ Kim, cố Chủ tịch Tổng hội Văn sĩ Trung, lại có sở thích và năng khiếu ngôn ngữ từ nhỏ Thiết Ngôn ra vào làng văn chương Trung và thế giới như cửa ngõ tư gia. Trung học rồi đại học ở Liên Xô. Làm luận án phó tiến sĩ tại Đại Việt. Tiến sĩ Harvard. Giáo sư thường niên Đại học Oxford. Hai bản dịch tiếng Trung của Truyện Kiều và Anna Karenina được xem là hai mẫu mực cho phản châm ngôn “Dịch là diệt” trong ngành dịch thuật thế giới đương đại. Ấy là nét chủ của đường học vấn và văn nghiệp. Đường tình duyên, khỏi nói. Còn đường công danh của Thiết Ngôn khá khó hiểu dưới con mắt người thường. Bị tổng hội toàn quốc phủ sóng mọi chuyện trong địa bàn thủ đô, Hội Văn sĩ Bắc Kinh có mà như không. Chức chủ tịch ế. Những năm gần đây, hai thủ đô kết nghĩa nối lại các giao lưu đằm thắm như thời chiến tranh Việt-Mỹ, Thiết Ngôn chịu ngồi vào. Chẳng thâm nho mà hữu tình. Ngồi không để ngồi không; để đi. Đi Hà Thành. Nơi chất chứa biết bao người đẹp - trai cũng như gái - của thời hoa niên tráng kiện mà chàng tận hiến tận hưởng. Hết mình hết tình, hết cả chữ nghĩa. Nay tuổi xế chiều, tìm lại hồn xưa, biết đâu nảy tình mới. Kêu gọi một bản dịch không hề diệt tuyệt vời khác ra đời? “Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì?”


Việc Hoa Nam Tình báo xía vào một VIP như thế của Đặc khu thủ đô đã làm một dấu hỏi rất uốn lượn với các đồng nghiệp có thẩm quyền. Trong hồ sơ hành trình của Thiết Ngôn, người ta cũng chỉ thấy chàng trong đôi ba chuyến quá giang hội thảo quốc tế xuống Tứ Xuyên từ hàng chục năm trước. Thì cũng có lần nhà ngôn ngữ tài ba hoa lá tháp tùng một em văn sĩ Bạch Nga tóc vàng sợi nhỏ bốn ngày chiêm ngưỡng lâu đài cảnh quan xứ Ba Thục lừng danh. Chuyện tình văn trong sáng, chẳng có gì nên chuyện tình báo. Hồ sơ trở nên đầy đặn hơn kể từ khi đương sự giữ chức Chủ tịch Hội Văn sĩ Bắc Kinh kéo theo những chuyến hành phương Nam hứng khởi…

Đến lúc lâm sự, người ta giải thích rằng ngành an ninh Hoa Nam quả là viễn kiến, rằng Hồ sơ Thiết Ngôn - Mỵ Châu 2014 chỉ là một đứa con của Hồ sơ mẹ Hội nghị Thành Đô 1990. Vẽ chuyện, lưỡi an ninh nhiều đường lắt léo. Mà cũng đâu bằng lưỡi văn nghệ sĩ. Chẳng thế à? Chẳng thế làm sao sinh ra mớ ba mớ bảy trong vụ Thiết Ngôn - Mỵ Châu để biến thành ngòi nổ cuộc hải chiến bất thành Biển Đông 2014 giữa hai Liên quân quốc tế. Liên quân Đại Việt và Khối quân sự Đông Thái Bình Dương Mỹ-Nhật-Philippines-Singapore-Indonesia và Liên quân Trung-Miên. (Xem tiếp hồi sau mới rõ.)


Về nhân thân và lý lịch văn học của nữ sĩ Võ Thị Mỵ Châu, tôn trọng quý độc giả của mình, chúng tôi đâu nỡ lạm lời.

Có ai trong chúng ta thích thơ ca siêng cầm sách báo năng leo lên mạng ham nhìn ngó làng văn nghệ giải trí Hà Thành mà hàng tuần hàng tháng không thấy tên không nhận mặt nữ sĩ tài danh mang nét duyên thầm mê mẩn ấy?

Có ai trong chúng ta khi thả lòng chùng xuống hai bàn chân chầm chậm bước trên hè phố cổ nóng ẩm hay dọc bờ đê sông Hồng lộng gió mà không khẽ ngân nga các lời ca thương thiết phổ từ thơ Mỵ Châu? “Năm cửa ô” với “Hoa sữa dậy hương”; “Đuổi phát xít” rồi “Tiến về thủ đô”; “Hồ Gươm đọng nắng” cùng “Phố anh ngõ em”...

Có ai trong chúng ta yêu thương Hà Thành mà không nhớ về mái nhà Hội Văn nghệ sĩ Hà Thành - cái nôi tâm huyết của Tổng thư ký đương nhiệm Võ Thị Mỵ Châu từ khi cô gái Hàng Quạt ba đời hành nghề khuôn bánh nướng bánh dẻo đó chỉ là nữ tiếp vụ thường lén gửi thơ tình tới các tờ báo tỉnh lẻ?

Và có ai trong chúng ta luôn xốn xang nạo hồn theo mỗi vệt đa đoan nơi những nữ sĩ tài sắc mà không lặng đi trong những khoảng trống nhất của mình mỗi khi dù vô tình thảng nghĩ về các xì căng đan miệng người che phủ lên đời Mỵ Châu?


3.2


Thôi, ta đang cần đi nhanh vào đại sự Tổ quốc trong những tháng ngày có nguy cơ vẫy tay vung đạn, nên chúng tôi chỉ chọn lựa một số ít trao đổi điện thư về văn hóa, văn chương và thời cuộc giữa cặp đôi nhân vật chính. Trong các dự án dài hơi, như kéo truyện thành tiểu thuyết nhiều tập, hay chuyển thể phim truyền hình nhiều tập, hẳn sẽ thêm nhiều trữ tình ngoại đề lệ ướt mi cay…


Bắc Kinh ngày 5 tháng Năm:


Xin lỗi, email trước vẫn trong thư nháp. Gmail thay cách thức gửi, ‘chuyên gia Việt ngữ’ của nữ sĩ chưa dùng quen. Nay gửi lại; thêm vụ lùm xùm giàn khoan 981, cho dù nay mai Hội em có gửi thư phản đối đến Hội anh thì tất nhiên Hội anh sẽ im tiếng mà thôi. Chuyện người lớn, trẻ em đi chỗ khác chơi. Vả, sự vụ chắc không đến nỗi nào. Ít bữa lại sóng yên biển lặng. Như chuyện chúng mình vậy… - Anh”


Em Mỵ Châu,

Về ông già của anh, em thêm một lần đúng: trước khi qua đời nhà văn hào Tứ Kim đã phát ngôn kiểu cầu tài về thần tốc 30 năm phát triển đất nước Trung. Trong cuốn Thiên Thời, Nobel văn chương hụt bốn lần Vương Đầu đã trích dẫn thiếu về sau của câu nói: ‘Sự hiện đại hóa Tổ quốc Trung khiến cho lưng của mỗi chúng ta được thẳng lên một chút, và chân tay chúng ta dễ chọc ngang dọc láng giềng.’

Em thấy không, nếu tiên lượng được sự trỗi dậy của chú Ba Tàu theo kiểu đó, chắc chắn chú Sam đã không trợ giúp Trung ‘4 hiện đại hóa’. Và Đại Việt của em chưa chắc đã bị bán đứng thời 1972-1973. Chưa chắc xảy ra Hải chiến Hoàng Sa 1974. Chưa chắc 40 năm sau hiện diện vụ giàn khoan 981 này. Thân gái yếu liễu Hàng Quạt chưa chắc sắp phải ra trùng dương trong những ngày tới. Nhà ngôn ngữ của em và của bốn sinh ngữ nhân loại chưa chắc phải viết những dòng chữ chéo cẳng ngỗng này. Em thấy không…


Còn về Mao? Tranh cãi chuyện lãnh tụ rủi ro hơn cả chuyện tôn giáo. Trong đám văn sĩ Bắc Kinh tụi anh tránh nó còn hơn tránh chê văn của nhau. Anh đang đoán lý do nào đó khiến Mỵ Châu hay hỏi về Mao Chủ tịch? Hơn cả hỏi về Trương Phó chủ tịch! Ha ha… Thôi mà, anh đùa một tí. Bất khả nhượng, nay trả lời một lần cho xong. Gọi là theo con sóng đại dương dìu nâng Võ Thị Tổng thư ký tới Trường Sa…

May, trang mạng Nửa Thế Giới của Đại Việt ‘nhà em’ vừa đăng lại ‘Văn kiện tuyệt mật chống phá Đại Việt’ được Quân ủy Trung ương ‘nhà anh’ soạn thảo năm 1973 dưới sự chỉ đạo tận tay của Mao (Lúc đó ông gần như mù, chẳng còn đọc được dòng nào.):


Nước ta và Đại Việt mang cừu hận dân tộc hàng ngàn năm qua. Chúng ta không thể, chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình. Chúng ta không thể, chúng ta không được đem toàn sinh lực của mình trao cho họ. Khó là chúng ta phải tìm mọi phương cách và thủ đoạn để làm cho nước họ luôn trong tình trạng không mạnh mà không yếu. Như thế, chúng ta mới có thể ràng buộc họ vào trong tình trạng như lúc này. Ngoài hình thức chúng ta cư xử với họ như đồng chí, nhưng trong bản chất nội dung, chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta.’


Em sẽ sốc, nếu quả em chưa từng đọc nguyên văn? Đó, trích dẫn chính xác từ văn kiện ‘máu lửa’ nhất của Bộ Ngoại giao Đại Việt mang tên ‘Sự thật về quan hệ Việt-Trung trong 30 năm qua’, công bố ngày 4 tháng Mười năm 1979 sau cuộc xung đột vũ trang tháng Hai 1979 được coi như lần đầu tiên giữa hai quốc gia cùng ý thức hệ cộng sản. Anh còn nhớ đoạn tuyệt mật chết người nói trên nằm gọn trong phần thứ tư. (Vì sao nhớ? Vì đúng dịp đó anh của em ‘ham yêu’ quá, đổ bệnh, thành ra trốn không phải làm công việc dịch cái văn kiện khốn khổ khốn nạn ấy.)

Không chỉ riêng em sốc! Rất nhiều người Việt của năm 2014 cũng sốc. Chỉ vì họ - có thể cả Mỵ Châu của Thiết Ngôn trong đó - đã không cho trí nhớ của mình được làm việc nghiêm túc với quá khứ. Hoặc là họ - trong đó có thể cả Mỵ Châu của Thiết Ngôn - bị người ta cấm cản làm việc nghiêm túc với quá khứ. Thuyết hậu Freud gọi là Sự mất trí nhớ cộng đồng cưỡng bức (Nhớ em quá, tự nhiên anh quên béng tiếng Anh của thuật ngữ đáng nhớ này.) Thế thì thật dễ hiểu khi một văn kiện sinh tử, công khai và chính tông vẫn có thể hóa thành bí mật nếu nó bị bí mật hóa bằng ‘sự mất trí nhớ cộng đồng cưỡng bức’.


Anh rất chia sẻ với ông tướng về chiến lược an ninh Lê Van Cương nhà em trong việc nhận diện người Trung nhà anh... Tiếng Nga chơi chữ thật là thâm nho. ‘Trung, họ là ai?’ (‘Kитай, кто ты?’) Thành thực khai báo riêng với em: Không ít người Trung nhà anh và rất nhiều người Việt nhà em vẫn cứ mu huyền mù mơ huyền mờ, bị tròng kính ý thức hệ thu nhỏ quyền lợi dân tộc. Mang tiếng ‘phản bội’ anh thú thật rằng, trong cốt tủy chính quyền Trung Nam Hải hiện hành là loại chính quyền mang chủ nghĩa dân tộc sô vanh đại bá, chứ chẳng có gram nào của chủ nghĩa cộng sản đại đồng đâu!


Anh thầm bái phục Lý Nghiêu Đương tiên sinh, bạn của ông già anh, đã sinh ra một mệnh đề toán học tuyệt kỹ ‘chạy tội’ cho Mao Trạch Đồng: nhìn toàn diện, Mao đúng 70% , sai 30% ! Thế nào em cũng sôi máu lên hỏi: cứ cho là vậy, trong 30% thì cái văn kiện quái đản trên chiếm bao nhiêu phần trăm? Anh thua. Kiến thức toán học ở một nam ngôn ngữ gia không cao hơn ở một nữ thi sĩ là bao. Khi nào máu em hết sôi thì đọc câu hỏi sau, như một bài tập về nhà: Đại Việt có ai tiên đoán được văn kiện Mao năm 1973 không? Nếu có, đó mới là vị lãnh tụ hoàn cầu; ngang ngửa chắc là không rồi nhưng chỉ dưới tầm Mao vài phân.

Nhớ em Mỵ Châu.

Bảo trọng

Anh Thiết Ngôn”


Hà Thành và Đà Nẵng ngày 6 & 7 tháng Năm:


Thiết Ngôn hiền huynh,

Sao anh vẫn cứ để dòng máu đỏ chảy trong thư như chúng ta còn ở ‘ngày xưa Hoàng Thị’? Mỵ Châu đó của anh không còn nữa. Võ Thị Mỵ Châu, từ nay nhà ngôn ngữ làm ơn hãy gửi đến tên này. Máu xanh. Trung hòa. Người Việt chúng em thường không biết ‘nhất biên đảo’ như người Trung các anh.


Cảm ơn nhiều, đã cho em trưởng thành hơn cả về nhân tính cùng tri thức. Học thày không tày học bạn. Thiết Ngôn vẫn là thày, và là bạn. Không hơn không kém. Không là gì gì khác nữa!

Đang lu bu chuẩn bị ra biển đây. (Thích! Mẹ em thời đi Thanh niên xung phong, lòng mềm thêm một xăng ti mét thôi là gái thợ bánh trung thu Hà Thành sẽ làm dâu làng chài Lý Sơn. Ôi, một xăng ti mét hôm qua và sự có mặt con bé Mỵ Châu hôm nay. Đời lạ nhỉ, anh?)


Điểm nhanh email mới nhận:

Về thư ngỏ phản đối: Anh vẫn xập xí xập ngầu công tư. Người ta đã bảo ti tỉ lần rồi. Xì tốp bàn chuyện Hội qua email! Thích, phone! Không, thôi! Mà anh có coi Hội của anh là cái đinh gì đâu. Hội của em là mái ấm, là cuộc đời. Làm ơn tránh xa: Đừng động vào đàn bà mùa tóc rụng! Gặp gỡ đám nữ sĩ buôn chuyện ‘làng Vũ Đại’ anh không nghe các mợ nói những câu như ‘Bỏ chồng giữ Hội là trâu nghé này’ à? Quên chưa kể, dạo mới Đổi mới, con bé này vừa ti toe nổi lên thi đàn liền bị uýnh bằng hẳn một tham luận ‘Nhà thơ xinh-gồ mom đầu tiên của dòng văn học hiện thực Xã hội chủ nghĩa hậu chiến’.

Về họ Trương: Làm ơn miễn chêm vào email, phone cùng mọi phương tiện giao lưu giữa chúng mình. Nhé?

Về Mỹ-Trung mua bán Đại Việt: Anh đúng. Hoan hô! Chỉ sai nho nhỏ: số phận Mỵ Châu trước sau cũng phải ra biển lớn, thực hiện mộng đẹp của ‘mom’.

Về Mao: Sốc! Choáng! Tức! Sẽ coi lại nguồn thông tin ‘thày’ vừa cho. Đa tạ. Thú thật, trước vụ giàn khoan 981, cô nường Tổng thư ký Võ Thị Mỵ Châu ù ù cạc cạc về thế sự Trung-Việt Việt-Trung.


Thiết Ngôn khỏi lo. Máu Mỵ Châu để dành ra biển đảo sẽ sôi. Máu đỏ. Khi nào đứng từ đảo Cô Lin nhìn sang đảo Gạc Ma, chẳng hạn. “Bất đáo Trường Sa phi hảo háo”. Là lá la…

Hẹn thư sau nha?

Võ Thị Mỵ Châu

PS: Ở lại đất liền Trung nguyên mạnh giỏi!


Bắc Kinh ngày 12 tháng Năm:


Anh viết vội. Mà chắc em cũng không đọc ngay được…

Lại bị sếp lớn gọi lên; mấy chuyện linh tinh lang tang. Tiện, sẽ kể sau; đừng lo. Đã coi muốn thuộc hai kỳ ‘Biển Đông ta đánh Tàu giỏi’. Có trang mạng ở đây dịch luôn ra tiếng Trung, đăng tràn cung mây. Dịch giả riêng của tác giả thật có lỗi, chậm tay. Một thiên tùy bút tuyệt cú mèo! Xứng danh bạn của Thiết Ngôn tiên sanh. Hảo lớ, hảo lớ! Háo hức chờ các kỳ sau…

Rất lo cho nàng Mỵ Châu của 36 phố phường trong đại dương du hành chiến. Lại còn ẵm chức trách Trưởng đoàn, chăm sóc hàng chục nhân mạng ngoài trùng khơi. Ở đâu cũng một duộc; cái đám văn nghệ sĩ bạch diện thư sinh ăn hại đái khai lười súc miệng! Các sự vụ tương tự, ‘tiên sanh’ của em đều đá sang phó Trương. Mà nàng cũng đừng hờn ghen với chàng làm chi. Giang san đâu anh hùng đó.

Khi nào về, đọc email, nhớ gửi anh photo, video, clip...


Đại Việt nhi nữ đa kỳ chí

Bất ái hồng trang ái vũ trang’.


Lại nhái Mao, bắt chước em đấy! Sẽ nhờ phó Trương vào photoshop điền lời thơ bình tặng lên tấm ảnh nữ sĩ Võ Thị Mỵ Châu đội mũ thủy quân. Mong lắm.

Ngộ ái Nị! (Không ai được cấm Ngộ, kể cả Nị. Hi hi…)

Bảo trọng


PS: À, để thư giãn qua cơn sốc, dịch giả của em xin cống hiến một giai thoại cũ vừa được giải mật và một tư liệu cũ. Cũ, cả hai vẫn rất nóng.


Giai thoại cũ vừa được giải mật rằng đó là sự thật:


Cuối tháng Bảy năm 1991, có một phái đoàn đặc biệt của Bộ Chính trị của Đại Việt nhà em sang Trung nhà anh. Chuyến đi này là hệ quả trực tiếp từ Hội nghị Thành Đô năm 1990 đầy ‘huyền thoại’ và để làm tiền trạm cho chuyến đi lịch sử từ ngày 5 đến 10 tháng Mười Một cùng năm của Đoàn đại biểu cấp cao Đại Việt do Tổng Bí thư và Thủ tướng Đại Việt dẫn đầu sang thăm chính thức Trung. Chuyến đi lịch sử đã đưa tới Thông cáo chung và Hiệp định chính thức quan hệ bình thường Trung-Việt Việt-Trung sau 15 năm đối đầu sinh tử với đỉnh cao là Chiến tranh Biên giới 1979.

Trong chuyến đi ‘tiền lịch sử’, Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Ảnh được cử làm Phái viên Bộ Chính trị, đi cùng Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Hồng Hạ. Ngày 31 tháng Bảy, cuộc hội đàm chính thức diễn ra trọng thể tại Trung Nam Hải mà phía Trung đã cử hẳn Tổng Bí thư Giang Trạch Dâng làm Trưởng đoàn. Oách quá còn gì nữa!


Giai thoại rầm rì hàng chục năm qua là ở cái đoạn sau đây. Em đọc kỹ ngẫm sâu nhá, nhất là những khi đang bồng bềnh trên sóng nước Trường Sa nhà em: Trước lúc vào hội đàm, bỗng phía chủ nhà đề nghị ‘có tí phút gặp riêng’ giữa Tổng Bí thư Giang nhà anh và tướng Lê Đức Ảnh nhà em (dĩ nhiên nhị vị đều có phiên dịch riêng của mình). Em khỏi ngạc nhiên. Bỏ nhỏ, gặp riêng luôn là siêu thuật ngoại giao của người Trung nhà anh mà lị. Tổng Giang nhà anh tung ra trái banh rất xoáy: ‘Chỉ ít bữa nữa, lãnh đạo cấp cao hai nước chúng ta sẽ gặp nhau để cùng mở lại trang sử tốt đẹp Trung-Việt Việt-Trung. Ô-kê? Nhưng có một đề tài cực kỳ quan yếu; tôi muốn phải bàn riêng, vì lát nữa vào họp chung sẽ bất tiện. Số là thế vầy… Tôi mới được làm nhiệm vụ Tổng Bí thư, lại từ địa phương đi lên. Thật tình trước đây tôi chưa hề biết, nhưng nay do phải nghiên cứu lịch sử thì mới hay rằng Nam Sa (tức là Trường Sa) lại là của Trung!’ Nghe vậy, Tướng Lê nhà em liền đỡ xoáy: ‘Thật y hệt như đồng chí, tôi ở chiến trường miền Nam cũng mới về Trung ương. Của đáng tội khi đó có dịp tìm hiểu địa lý, lịch sử và pháp lý thì mới thấy Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc lãnh thổ Đại Việt! Ô-kê… Vậy bây giờ hai nước chúng ta nên cắt cử các cơ quan chức năng tái nghiên cứu và xác định cụ thể”. Nghe vậy, không nói thêm gì, Tổng Giang nhà anh cười rồi bảo: ‘Tới giờ rồi, mời đồng chí vào bàn hội đàm!’ Nghe vậy, cũng không nói gì thêm, Tướng Lê nhà em cũng cười rồi cũng đáp câu tương tự…


Tư liệu cũ: Nếu bạo tay, Tổng biên tập Võ Thị Mỵ Châu thử dùng cho Góc châm biếm trên tuần báo của Hội nhà, không thì ‘dí’ qua trang mạng Việt Văn giùm. Các bác ấy bên ấy khoái lắm đó. Tùy nghi sử dụng những lời dẫn dưới đây khi làm bài…


Hãy chiêm ngưỡng lại hai bức biếm họa của Charlie Hebdo - một tờ báo trào phúng lừng danh ở Paris.

Các nhà hí họa của xứ ấy có truyền thống thính nhạy với mọi sự tức cười, ngược đời, bất công, phi lý trên trái đất, nhất là về thời sự, chính trị, tôn giáo, đàn bà, v.v... Vụ nào càng nhạy cảm, càng ngu xuẩn thì càng khoái khẩu Charlie Hebdo. Đúng phong cách Phú Lang Sa: bông phèng để triết lý; hóm hỉnh, cay nghiệt tới mức quá đáng, vô giới hạn. Chẳng thế, năm bảy năm nay, sau nhiều lần châm chọc thánh Mohammed, tòa soạn Charlie Hebdo bị thiêu cháy bởi cánh khủng bố theo đạo Hồi cực đoan, còn chính Chủ bút Charb thì bị hăm dọa mạng sống đến mức lúc nào chàng độc thân ấy cũng cần một cảnh sát hộ vệ. ‘Tự do trào lộng hay là chết!’ Charb tuyên bố với các thế lực đe dọa. Giáng sinh vừa rồi, những đệ tử tận tụy của nhà tiên tri Mohammed bèn gửi thông điệp đầy tính tiên tri: ‘Nếu còn chống Mohammed, vào ngày 7 tháng Giêng năm 2015 cả bộ sậu ‘Tự do trào lộng’ sẽ phải chết chùm tại chính địa chỉ trào lộng của mình.’ Thôi, bỏ đó chuyện riêng của Mohammed với Charlie Hebdo, nhưng chúng ta cứ chống mắt lên xem đầu năm tới nhà tiên tri có tiên tri hay không.


Bức biếm họa với lời ‘Allez les jaunes!’ (Cắn nhau đi, những người da vàng!) xuất hiện trên trang bìa tuần báo Charlie Hebdo số 433, ngày 1 tháng Ba năm 1979, đúng hai tuần sau khi Chiến tranh biên giới Trung-Việt 1979 đỏ lửa. Ý là mấy nước da vàng cứ tưởng bở hòa bình đuề huề nhưng rồi lại xâu xé nhau chí tử. Đau nhất là ở chỗ họa sĩ dùng chính hình ảnh huyền thoại ‘môi hở răng lạnh’: Trung tâm bức họa là các đường nét môi và răng đang lồng trong nhau, ngoạm nhau chí chóe. Kẻ điên tiết, người khốn khổ. Nền vàng hai khuôn mặt. Nền nâu quân phục với chiếc mũ Quân giải phóng Trung tốc ngược lên trời. Nền đen người dân Việt tội nghiệp trong chiếc nón lá… Xem chưa hết, không kịp cười đã phải khóc!


Còn nơi bìa số 67 ra ngày 28 tháng Hai năm 1972 là biếm họa có lời ‘Mao - Nixon, les amours célèbres’ (Mao và Nixon - Những cuộc tình tăm tiếng) vào lúc Hòa đàm Ba Lê đang dai dẳng, quyết liệt. Mấy ai biết sự thực đích thân Mao đã ‘hôn hít’ Nixon tại Bắc Kinh, trong khi không lực Hoa Kỳ cứ việc xả láng oanh tạc Đại Việt, nhất là trên miền Bắc và tại chính thủ đô Hà Thành. Tình hữu nghị dỏm bị lật tẩy qua nét trào phúng hết cỡ ở hai thân hình (nhìn là biết ai là ai) trịnh trọng đứng chắp tay sau đít, mắt nhắm tít với hai cái miệng chu ra chụm lại mà hôn mà hít. Nụ hôn đểu mang tầm thế kỷ dính nhau đến mức nước miếng của hai ông đực rựa cùng bết lại, rỏ xuống ròng ròng thành những trái bom! Tài, tài đến thế là cùng! Tiên sư anh… Charlie Hebdo!”


Tiếp theo, dưới đây là một số trao đổi lẻ hoặc thành bài, từ trước ngày 2 tháng Năm đến ngày 2 tháng Tám - ngày cuối cùng trước khi hai người mất liên lạc.

Những trao đổi được đan xen nhau không hẳn theo thứ tự thời gian mà để bày tỏ nguyên lý âm dương (dấu “- “ là của Mỵ Châu; dấu “+ ” Thiết Ngôn):


3.3


+ ”Văn minh, văn hóa hai nước Trung và Đại Việt cùng phân biệt hai miền bắc và nam. Từ triết học tới văn học. Với Trung: triết gia miền bắc là Khổng là Mạnh; nam có Lão, có Trang. Bắc có Kinh thi, Nam có Sở từ. Ngược lại với văn hóa thế giới, đất nước Trung không phân cực đông-tây trong các vụ này. Em viết tiếp về Đại Việt giùm? Anh đang cần ý kiến của Tổng thư ký Hội Văn nghệ sĩ Hà Thành cho một bài tham luận…”


- “Thiển nghĩ Thiết Ngôn dư tư liệu và tâm huyết để làm tuyển tập chân dung, ví như Thập đại văn sĩ Hà Thành trong mắt một người Bắc Kinh. Ký giả Mỵ Châu sẽ thực hiện các mini phỏng vấn. Em dùng bài chạy phơi tông cho tuần báo của Hội em. Anh có sẵn ‘gỗ dựng nhà’. Ôkê đi anh? Văn lệnh như sơn!”


+ “Mỵ Châu hỏi quá kỹ quan hệ của dịch giả Thiết Ngôn với đại văn sĩ Xuân Diêu? Tình cảm trong sáng. Đã nói nhiều lần: ai cũng biết chú ấy thường thích những cậu con giai bô trai thông minh. Ông già anh và chú Diêu là đôi bạn thiết; viết chung pho sách lớn mà dang dở. Mỗi khi từ Hà Thành lên Bắc Kinh công cán hay an dưỡng, đại văn sĩ đều tới nhà anh ít ngày ngơi nghỉ. Dạo ấy anh lớn tướng rồi mà vẫn được chú bế bồng. À, sẽ kể về chú Chế; hay hơn nhiều. Các giai thoại tỏ sáng tầm thiên tài của con người Việt-Chàm ấy mà ít người Hà Thành biết bằng người Bắc Kinh này. Hồi 1960 dịch giả Chế Lan Sơn sang Quế Lâm trị bệnh tim, nhà văn Tứ Kim chẳng có bệnh tật gì cũng tìm tới đó. Hai Thái Sơn kề nhau cả mấy tháng; không tri âm tri kỷ nhưng trọng tài phục tính. Thiết Ngôn được như hôm nay, âu cũng nhờ các tháng theo thân phụ hầu khách quý và nhiều năm sau giao lưu, học hỏi. Em biết không…”


- “Anh à… Theo tàu Cảnh sát biển tiếp cận giàn khoan 981. Cái lần cả đoàn chúng em cùng bật cười là lúc nhìn rõ tấm băng rôn căng dọc thân tàu hải cảnh Trung ‘nhà anh’ mang hàng chữ mà Vũ Trọng Phụng hay Lỗ Tấn tái thế cũng không nghĩ ra nổi: ‘Trung-Việt hữu nghị chung sống hòa bình với nhau’.


3.4


+ “Tình anh, em viện hai chứng cớ khước từ. Cả hai đều không thuận thiên. Anh chịu cùng; chịu các vết đau cùng em.

Hãy kể cho kẻ thất tình biết thêm về nhân duyên huyền thoại không biên giới của nữ ký giả Pháp Madeleine Meilleur và phê bình gia Đại Việt Nguyễn Định Chi? Và diễn giải cho kẻ chậm hiểu văn học Việt về hai truyện đang gây sốt của nữ văn sĩ Đỗ Quyên; thật tình anh không sao lĩnh hội được cái mà em gọi là sự tình oan nghiệt giữa nữ đại úy tình báo Vương Thúy Kiều và ‘Tôn Ngộ Không’ Lưu Tiểu Tinh Đan?”


- “Đàn ông Trung thâm nho lắm cơ! Ôkê, kể thì kể… Gái nước Nam mà! À, vụ giàn khoan đã phá tan chuỗi mini phỏng vấn của chúng mình rồi. Sếp em vừa ra lệnh hủy, dù nhiều bài đã lên khuôn. Xin lỗi.


Về cặp đôi Vương Thúy Kiều và Lưu ‘Hầu vương’: sẽ đọc và hỏi lại chị Quyên rồi thảo một phóng bút cho anh tùy nghi. Lâu nay truyện Đỗ Quyên vốn không dễ nhá, riêng Chuyện cái mũi khoan và bom dị bào có thể sẽ sinh sự đấy. Khi lâm cảnh ‘chồng chị chồng em’, em mới hiểu chị ấy trong văn cùng ngoài đời.


Còn về Madeleine Meilleur - Nguyễn Định Chi: bài nghiêm túc, tin đồn thổi nhiều lắm và cũng không ít cái nhàm cái nhảm; nay để trung thành và nóng sốt, em dẫn lược bài vừa đăng sáng nay, ngày 19 tháng Bảy trên mạng của họa-văn sĩ Nhật Tuân, bạn hiền của thi sĩ Nguyễn Định Thính - trưởng nam của phê bình gia:


‘… Năm 1951 ông Chi sang dự Đại hội Văn sĩ Toàn cầu ở London, và bị ‘sét đánh’ ngay khi vừa gặp gỡ mỹ nhân tài danh Meilleur; đến 1954 chiến dịch Điện Biên Phủ sắp toàn thắng, bà đến chiến khu Việt Bắc xin chính thức làm dâu đất Việt. Về thủ tục bình thường thì không có vấn đề; họ đều là trai chưa vợ gái chưa chồng. Lãnh tụ tối cao của chúng ta khi đó là người đắc nhân tâm, có nhời rằng nếu vậy Đảng Cộng sản Pháp sẽ mất một cán bộ tốt và rất lo bà ăn ở làm việc lâu dài tại Đại Việt sẽ cơ cực. Dư luận cho rằng hai nhân tài Pháp-Việt dù không thành hôn nhưng vẫn là nhân tình. Tôi chỉ biết họ đi lại, thư giao đều đặn…


Di cảo của ông Chi trao cho tôi là hơn 2.000 lá thư của hai người viết cho nhau từ năm 1951 đến 2004. Sau khi ông Chi tạ thế, bà Meilleur viết ngay cho tôi phong thư dài lắm. Nó dài tới 15 trang giấy lớn, bày tỏ nỗi đau đớn lớn lao trước sự ra đi của ông Chi. Đáng kể, bà còn ngỏ ý như thể muốn xin nhận lại hết thảy ngàn ngàn lá thư thiên thu đó. Chắc bạn đọc muốn biết số phận của Di cảo? Một bạn văn có mẹ cũng là văn nhân lớn, hỏi tôi có theo ý muốn đó không; tôi đáp chỉ làm theo di chúc của ông Nguyễn Định Chi viết riêng cho Nguyễn Định Thính. Có thể bật mí: dự tính của tôi và cũng là thể theo di chúc của ông Chi, trong năm 2014 này toàn bộ di cảo (nguyên văn tiếng Pháp) sẽ được in. Sách hoặc trên mạng, cũng vậy. Và độc giả cũng đừng bất ngờ: có thể tôi sẽ cho thiêu cháy toàn bộ di cảo, bởi chính ông Chi cũng lại dặn tỉ mỉ, chính xác: ‘Nếu như Thính thấy nên đốt đi thì bố nghĩ cũng chớ tiếc một mồi lửa’.


Đừng trách tôi! Là người cầm bút, tôi xin bảo đảm những gì thuộc về giá trị văn học của nhà lý luận - phê bình Nguyễn Định Chi, tất cả đã in thành sách và được công nhận hay bị phê phán như đã từng. Với một tac gia chân chính chỉ những sáng tạo chữ nghĩa mới nên là di sản hậu thế. Di cảo của ông Chi ư? Đó là một kho ẩn mật ái tình của riêng ông thôi mà.’


Chưa ai được biết tâm sự hối lỗi của em. Anh có quyền giữ như của riêng hoặc làm tư liệu khi viết về một phê bình gia cổ thụ trong khuôn viên văn học Việt thế kỷ 20, một huynh đệ tình thâm giới văn nhân Việt-Trung. Phần em, không có nhu cầu thanh minh:


Với kẻ làm thơ hay ngó nghiêng sang phê bình như Mỵ Châu thì Nguyễn tiên sinh là một khối óc lý luận - phê bình không gặp may. Ở một thời đại hòa bình hay bình thường, tệ hơn là dưới thời Pháp thuộc, ông sẽ thành một Belinsky của cả cõi phương Đông mà ngay như đất Trung nguyên chắc cũng chưa có ai sánh ngang.

Em biết anh muốn biết nhiều về chuyện riêng giữa Võ Thị Mỵ Châu và Nguyễn Định Chi. Bình thường thôi. Sẽ kể dần. Tin là anh đã không tin lời bá tánh; chúng như cỏ, không hoa nào sống nổi. (Ừ mà em đâu chỉ là hoa. Là cỏ dại, khi cần.) Hôm nay, đọc bài của Nguyễn Định Thính trên mạng, em đã thắp hương lòng, ngắm ảnh người cố quá, xin tạ lỗi về ‘ly nước hắt thẳng vào mặt’ để đời tiếng xấu trong cuộc họp năm nào. ‘Đồ hèn mạt! Loại trí thức hèn mới tự nhận là ‘hạt bụi lóng lánh tư tưởng’ của người khác!”… Anh biết không? Phần quỷ trong người nổi lên giữa giây phút đen, vì em nhớ ngay đến tượng đài mình từng được mục kích khoảng 20 năm trước đấy.


Phải, 20 năm trước cuộc họp đó, em còn làm chân bưng nước pha trà cho Hội Văn nghệ sĩ Hà Thành. Vào một buổi chiều, phê bình gia đã đến… Cô bé ranh con đang viết những bài thơ tình đầu đời dĩ nhiên phải cảm kích, đến mức pha quá tay hai ba lần trà cho vị thượng khách hào hoa phong độ ngồi trước mặt như một huyền thoại sống.

Đó là buổi nói chuyện nội bộ với lãnh đạo Hội và một số Hội viên dưới trướng. Nguyễn Định Chi lúc đó là sếp của hai cơ quan văn học hàng đầu đất nước: Viện phó Viện Nghiên cứu Văn học kiêm Tổng biên tập tuần báo Văn Chương của Liên hội Nhà văn Đại Việt. Ngày xưa thế là to lắm lắm! Cả buổi sáng, mấy sếp Hội em cứ là lo xoắn đít dựng tóc. Còn em hoa cả mắt mà bóc ra dán vào các thông báo trong phòng khách và mọi xó xỉnh của Hội. Suốt năm ấy làng văn nghệ nước em sôi sùng sục với hai vở kịch của thi sĩ Trần Dân, chắc anh cũng nhớ, Con Nai Trắng và Nguyễn Trãi Ở Hà Thành. Trần quân từng dính đậm vụ Nhân Văn, sau hàng chục năm thủ khẩu như bình tựa tường nín thở, vừa được phục hồi là thi sĩ quăng luôn hai quả bom tấn! Nguyễn tiên sinh có nhiều bài ‘đánh Con nai, phang Nguyễn Trãi’ trên những báo chí lớn, và chọn buổi nói chuyện tại Hội em là diễn đàn bán công khai thổ lộ chất Người của mình. Văn giới ai cũng biết tính hai mặt mà ông sở hữu, mặt nào cũng trên cả tuyệt vời.


Có thể anh nghĩ rằng em mê mẩn trước mỹ học hình thể của một người đàn ông trung niên Việt lai hai đời với ông bà nội ngoại là Pháp và Ấn, rằng em choáng ngợt dưới ánh sáng thông tuệ trên mọi lĩnh vực khoa học nhân văn tỏa ra từ đó? Đúng, và chưa đủ. Hơn cả, em kính phục bản lĩnh văn đàn của người đó, anh ạ.

Phải tả kỹ, hơn là kể. Em mang ly nước chanh đá pha đường vào phòng họp… Ly nước vừa mới được pha chậm rãi, cẩn trọng với niềm mê mẩn cùng sự choáng ngợt. Chiếc thìa ghếch điệu đà trên một dĩa nhỏ riêng, xinh xẻo. Tất cả được xếp đặt hòa nhã trong khay tròn tráng men thanh lịch. Cuộc chuyện hình như đang ở cao trào gì đấy… Khi em quay nhẹ gót trở ra hành lang và, tới cửa, ngoái nhìn khay nước trên bục diễn giả như một thao tác kiểm tra lại công việc (mà thật ra để chiêm ngưỡng người sắp nâng ly nước lên uống). Thì người bỗng ngưng nói, nhìn chậm từng ánh mắt đang dõi lên; gương người mặt đanh lại rồi bừng sáng và cao giọng như thất thanh: ‘Làm nhà văn, mỗi chúng ta khi không thể nào viết theo bàn tay của mình, chỉ có thể dùng bàn tay còn lại mà… bẻ bút!’ Cả khán phòng đang im như chết bỗng hực lên. Không bởi những tiếng động hay lời nói, mà bởi những luồng hơi thở ra, những tiếng tim đập vào. Một khán phòng đang phục sinh. Rồi, người đột nhiên nhìn chăm chăm về phía em. Không, hai con mắt nâu nâu đau đáu đổ trọn vẹn vào hai mắt em (về sau khi đã thân tình, người bảo với em là ‘nhìn để xin lỗi đang làm điều thất thố trước món quà thơm thảo vừa được đôi bàn tay đẹp mang đến’); và rất nhanh người dùng bàn tay trái bóp cong chiếc thìa chộp được từ trước mặt! Nếu được làm đạo diễn phim về Nguyễn Định Chi, sau khuôn mặt và dáng vóc, em sẽ phải chọn diễn viên nào có đúng ‘đôi bàn tay Nguyễn Định Chi’. Thiết Ngôn, đã gặp gỡ ông nhiều lần, anh có hình dung nổi bàn tay trắng hồng tưởng chỉ vò nát biết bao búp tay nhỏ dưới mưa, trong khoảnh khắc đã bẻ cong queo chiếc thìa dài đura được làm từ xác máy bay B-52 Hoa Kỳ rơi trên hồ Trúc Bạch?

Nếu trí nhớ của một con đàn bà cô độc không phản Mỵ Châu thì lúc ấy từng có mặt khoảng 30 nhân vật với nhiều vị hiện nay đang là VIP; như văn sĩ Phong Đào, lý thuyết gia Nguyễn Huệ Tri, nhà Hán Nôm học Chương Đăng Dung, kịch tác gia Lại Nguyên Tình… Bất luận điều gì hay dở xảy ra với em và nhiều người khác, cũng như với cả di sản chữ nghĩa Việt hiện đại, Nguyễn Định Chi trong em nguyên vẹn tượng đài được dựng lên bằng bàn tay thẳng và chiếc thìa cong như nét đẹp nhất của một hình mẫu đa tài đa đoan trong đường văn nghiệp đời.


Cầu chúc người mãi thong dong áo sơ mi trắng cộc thả ngoài quần tây thẳng tắp đậm màu vè vè con xe máy Peugeot xanh dương lượn quanh như lạc hướng bên hồ Thiền Quang của thiên đàng và bàn tay đẹp mượt năng cử động vẫn cứ vung lên vuốt hờ mớ tóc ngược gió thiên đàng cầu chúc người mãi thong dong…”


3.5


Tham kiến Thiết Ngôn tiên sinh.

Mỵ Châu viết tùy hứng; gửi anh, không bổ âm cũng bổ dương. Hãy đọc với con mắt Vũ Trọng Phụng! Em vốn ngu lâu về chính trị. Lại động chạm tới các đồng nghiệp, hầu hết là liền anh liền chị thân thiết bên các diễn đàn lề trái và lề giữa. Biết là không chuẩn cần phải chỉnh nhiều, nhưng vì muốn giải tỏa thắc mắc của hiền huynh về cuộc Thảo luận ‘Thoát Trung về văn hóa’ của Văn hội Độc lập Việt.


Thoát Trung? Theo em, vào lúc này cả đất nước của em thấy rõ rồi. Hàng trăm diễn đàn từ trái qua phải, từ giữa ra lề đã, đang và sẽ bàn thảo, thu hút hàng triệu nhân mạng. Sinh tử, không vớ vẩn viển vông. Hôm nay thoát chưa xong, ngày mai thoát nữa; đời mình không thoát nổi, trao lại con cháu thoát tiếp… Chuyện ngàn năm đâu dễ một sớm chiều, hở anh?

Thoát như thế nào? Câu hỏi khó cho mỗi người, mỗi nhóm người, mỗi cộng đồng; cho từng lãnh vực, từng cơ quan, từng đoàn thể.

Với riêng nữ sĩ Tổng thư ký Võ Thị Mỵ Châu, đã muốn ‘thoát’ cả năm nay, trước vụ giàn khoan từ lâu cơ (Anh còn nhớ hay anh đã quên?). Nay tái xác định: trước khi muốn thoát về văn hóa, về tư tưởng, về kinh tế hay về gì gì thì - tiên quyết - phải thoát về tình cảm tình ái cái đã! Mà thôi, chuyện hai chúng mình coi như xong.

Trên trang mạng Việt Văn cuộc thảo luận có 30 bài và khắp các trang khác tới 500 bài ngoài khuôn khổ của cuộc thảo luận. Mỵ Châu cố đọc hết những gì dính đến hai chữ ‘thoát Trung’. Chưa thể nào thấu hết. Cho hết vào kho. Vội vài ý vụn, phục vụ riêng cho sự lưu tâm của một công dân tốt, một văn sĩ giỏi đến từ nước Trung là Thiết Ngôn.

Ủng hộ tinh thần thảo luận trên Việt Văn, và như không ít độc giả khác, Mỵ Châu chỉ lăn tăn về hình thức, cách thức, tên gọi…


Một là, thật tình, lâu rồi, từ khi hiểu vụ Cách mạng văn hóa của bên anh, em thường rùng mình mỗi khi thấy có gì liên đới đến hai chữ ‘văn hóa’ như muốn đào bới, xáo trộn tất cả lên. Em nhạy cảm quá? Định nghĩa văn hóa thì vô vàn; Mỵ Châu coi văn hóa là mạch nước ngầm len lách, thẩm thấu vào từng cái giếng khơi trong mỗi làng mỗi nước. Động vào văn hóa, không chừng là tịt ngòi (tiệt nguồn nước)! Bỡn sao?


Hai là, có một cái tức mình. Hội mở đến kỳ thứ ba, ngày 26 tháng Sáu, chủ xị đã phải giương sáp pô thế vầy:


Sau khi lời mời gọi Thảo Luận Thoát Trung Về Văn Hoá được vietvan.com công bố, chúng tôi nhận được ‘bài’ (Em bình: sao lại nháy nháy ạ? Thế rồi tới buổi tọa đàm ở Trung tâm Văn hóa Đức, nhà phê bình Hoàn Hưng vẫn tỏ ý khen ‘bài nháy nháy’ này. Đó là lời xin lỗi, một thao tác bỏ nháy nháy phải không ạ?) sau đây của một cây bút không lạ lắm với cư dân mạng. Để tôn trọng ý kiến đa chiều, Việt Văn tính đăng ‘bài’ này mà không có ý định trả lời. Song vừa được đọc bài viết mới của Giáo sư Nguyễn Văn Tuân, thấy có thể giúp ta hiểu thêm vì sao phải ‘thoát Trung về Văn hoá’, Việt Văn quyết định đăng bài đó (Em chú: bài ‘Thảo luận kiểu chọc tiết vịt đằng đít’ của thi sĩ Phạm Thánh). Và từ nay chúng tôi xin phép không đăng những ý kiến gửi đến chỉ để bày tỏ không cần, không muốn thảo luận ‘Thoát Trung về Văn hoá’ vì bất cứ lý do gì.’


Nghe sao hao hao báo lề phải chúng em! Ngày mai, câu cuối cùng đó được dùng lại trên báo lề phải số 1 là Người Dân thì cụ Phạm Quỳnh sẽ tái sinh để phán: Lề trái - Lề phải đuề huề. Vui! Ô kê con gà đen, có điều nếu vậy tên của diễn đàn cần đổi Thảo Luận Thoát Trung Về Văn hoá thành Luận Thoát Trung Về Văn Hoá. Bởi nếu từ điển Thanh Nghị mà đúng thì ‘thảo’ là ‘tìm xét’ (cho cái cần ‘luận’). Thảo luận là cùng trao đổi ý kiến về một vấn đề, có phân tích lý lẽ. Đằng này các bác ứ chịu tìm cũng chả chịu xét các ý kiến không cần, không muốn ‘Thoát Trung về Văn hoá’. Tóm, ở đây định hướng chỉ luận việc phải ‘Thoát Trung về Văn hoá’ mà thôi.

Nói cho ngay, trong buổi thảo luận tại Trung tâm Văn hóa Đức, đại diện Văn hội Độc lập Việt và Ban biên tập Việt Văn, phê bình gia Hoàn Hưng cũng điểm xuyết 3 ý kiến không đồng tình với chủ đề, và mới nhất hôm qua Việt Văn còn tiến bộ sửa sai quất thẳng một bài của học giả Nguyễn Thanh Giảng ‘Có nên đặt vấn đề thoát Trung?’ với những câu đầy chất tái phản biện: ‘Dẫu sao, nêu cao nan đề Thoát Trung e không rõ ràng. Tôi thì tôi cho rằng, chẳng cần hô hoán thoát cái gì cả. Mà khẩn cấp hơn phải là chống Trung bành trướng, phá ách đô hộ từ xa của Trung, cản âm mưu xâm lược độc quyền Biển Đông của Trung.’


Ba là, Thiết Ngôn thấy thích thì xem tiếp nhé. Tiện nói leo một lèo. Cái này dường như không xảy ra trên vietvan.com mà ở nhiều mạng khác. Nhưng là một diễn đàn mới, kỳ vọng với trong và ngoài văn giới, thiển nghĩ Việt Văn nên chăng cũng chịu dính chút trách nhiệm? Nhân vụ giàn khoan…


Đàn bà con gái quần thâm không hiểu sự đời quá ngọn cỏ, em cứ nói liều. Các bác phản kháng, phản biện nhìn chung thì cũng phải thôi, có điều về cung cách thi thoảng chưa ổn thỏa đâu ạ. Ví như, nói thế nào cho phải phép… À từng làm con làm mẹ, em thấy giông giống chuyện trẻ nhỏ bị cha mẹ đánh chửi oan sai thì thích khóc dài khóc lâu khóc mọi nơi khóc mọi lúc. Em nhất trí màn ‘khóc dài khóc lâu’ cho đến khi lý tưởng của mình thành hiện thực (chứ đâu chỉ giải oan chiêu tuyết giải thưởng xong là hết khóc). Riêng màn ‘khóc mọi nơi khóc mọi lúc’, nên chăng tùy nghi cân nhắc lợi bất cập hại. Khóc giữa phòng khách: OK! Khóc khi đi lên tỉnh: cũng OK! Khóc giữa đám giỗ tết: cũng OK luôn! Thế nhưng - quan trọng! - khi nhà đang cháy, lúc trộm giơ dao cũng khóc sao? Chí ít không chạy đi bưng xô nước phụ mẹ (vừa nện mình nát đít) hay cắn vào tay trộm cứu cha (vừa phang mình vỡ đầu), thì cũng kêu la gọi hàng xóm hay phone hoặc email báo cảnh sát. Trường hợp đặc biệt, ghét cha giận mẹ chán nhà quá đỗi thì cũng tạm đứng im mà nhìn mà ngẫm.

Vâng, các bác sẽ phản kháng, phản biện: ‘Chính lúc đó phải tranh thủ khóc gào và thậm chí tận dụng cơ hội còn phải lên lớp thẳng thẳn (‘dạy cho cha mẹ một bài học!’), phân tích thấu đáo (‘nói phải củ… cha mẹ cũng nghe’!) vì sao nhà cháy, duyên cớ gì trộm vào thì họ mới tỉnh ngộ, tiếp thu. Vì có bao giờ chúng tao khóc gào, có lúc nào chúng tao phê phán mà họ chịu nghe đâu.’

OK, gái hàng Quạt cưa đứt đục suốt, vậy em xin hỏi thẳng, câu chót: ‘Văn nghệ sĩ với nhau một câu tới giời, nói thật lòng xem nào. Chính vào thời khắc cháy nhà, trộm đến thì các bác thấy phải cứu nhà, giữ của hay là thấy phải phản kháng, phản biện ạ? Nếu như các bác đáp ối a mày hỏi vậy chúng tao ngu gì giả nhời nhưng thế là mày giỏi đã biết phản kháng phản biện trước sự phản kháng phản biện thì con bé này chịu thua.’

Có câu thơ rất nghiêm túc từ thi sĩ Việt nọ ở hải ngoại: ‘Làm thơ khó bỏ mẹ’. Than ôi! Làm phản biện phản kháng khó bỏ mạng!

Đã nói là cạn lời. Trong gian nhà Việt đương đại có ba tấm ‘phản’ rất khó bày biện nhưng là đồ đạc gia đình, mà thời Giàn khoan này không thể quăng bỏ ra đường như thời trước Đổi mới: Đó là ‘phản biện’, ‘phản kháng’, và ‘phản bội’ [viết kỳ khu cho chắc ăn: ‘(bị cho là) phản bội (Tổ quốc)’]. Đúng sai tùy người đối thoại. Không lạm bàn. Tâm tầm Mỵ Châu còn lùn lắm. Chỉ bàn đền hai tấm đầu. Đụng đến tấm sau cùng là chết giữa hai làn đạn. Gái này chưa đủ gan.


Bốn là, anh ơi hết nhiệm kỳ này Trâu xin về hưu non. Bé Nghé Ọ (giờ thành ‘con gái Hàng Quạt’ rồi, nick gaihangquat trên phây, chú Thiết Ngôn vào xem nhận ra cháu không?) vừa trúng cả hai học bổng ở Singapore và Úc. Phúc ba đời nhà em! Bán thơ có ra đô cho con tự túc du học đâu? Mấy lần gọi người tính nhượng cái căn nhà hồi môn bé xíu mẹ để lại, Nghé Ọ chống. ‘Mẹ bán, con lao ngay ra cầu Long Biên trầm mình!’ - ‘Ấy đừng, đừng con! Cho mẹ xin, mẹ hiểu mà… Mẹ đã từng đùa với lửa, nay mẹ sẽ không đùa với bọn teen các con đâu!’ Con nhóc giỏi vặn vẹo, chịu nghiền ngẫm, ham sinh ngữ lại thêm tính lỳ; sẽ theo học ngành lý luận văn chương anh ạ. Thực hiện mộng của mẹ. Đường con cái, xong!

Xong là em sẽ chạy sang chơi sân Văn hội Độc lập Việt. Chắc các bác ấy cũng cho vào thôi? Là chú tiểu quét sân chùa cũng thích. Đâu dám làm sư ông sư bà. Cánh phản biện, phản kháng khó quản lắm. Ai còn lạ? Với nhiều bác dạo còn bên chính thống này, lắm khi em tức ói cả phở, không tranh biện nổi. Quốc gia hưng vong, Mỵ Châu hữu trách. ‘Sau Giàn khoan, người Việt còn có thể làm thơ tình hay không?’ - đó là dự phóng phỏng vấn hàng loạt văn thi sĩ trong tháng tới. Là một văn nghệ sĩ Trung yêu nước, Thiết Ngôn trả lời em đi! Em biết thơ mình cạn rồi. (Tình cạn theo; số anh đen nhỉ?). Cảm ơn giàn khoan đã cho Mỵ Châu làm thêm được chút gì với đời. Thật lòng, Hội em thì vẫn ô kê con gà đen, sống đủ viết đủ. Còn để sống đầy viết đầy, như em đang vương vào ba cái chuyện Trung-Việt Việt- Trung là vướng ngay ‘ông Cơ Văn Chế’. Anh rành quá mà! Thơ văn của chúng em không thể nào thành một nghề; như dịch thuật của anh, như lý luận phê bình của Nguyễn tiên sinh để còn tạo ra thế giới khác cho riêng mình mà vẫn có thể hiến đời. Văn chương là nghiệp, là đạo. Nhất biên đảo, văn thi sĩ không thể có hai gương mặt mà gương mặt nào cũng được coi là gương mặt.


Còn như các bác bên Việt Văn, vì lý do nào đó ta chẳng thèm biết, dứt khoát ứ chịu cho đàn bà hàng Quạt này nhập hội cùng, chưa biết chừng sẽ xuất hiện thêm một diễn đàn mạng, anh ạ.

Vị trí: Lề giữa (nếu tính theo Việt Văn: trang mạng ấy không là lề trái, mà lề trai trái. Chẳng trai trái sao bị cản phá nhiễu nhương tá lả như thấy trong dư luận và trên mặt báo? Nhiều nơi còn không vào được trang mạng này. Chứ mà lề trái thứ thiệt á, toi hẳn củ tỏi rồi!).

Nội dung: Chỉ có văn chương và chỉ có Biển Đông. Ngoại lệ: về lĩnh vực nhân văn có thể thêm lịch sử lúc cần thiết; về phạm vi địa lý còn có cả biên giới lãnh thổ khi thích hợp; và về trào lưu - tất nhiên chủ báo là đàn bà, phải bênh phe đờn bà! - cũng có dòng văn học nữ quyền gắn với cương vực lãnh thổ lãnh hải. (Chứ thân gái cô đơn, mạng Mỵ Châu không thể và không nên như mạng Việt Văn hầm bà lằng xáng cấu 1001 thứ về Việt về văn, lại thêm cả về Trung về triết về vân vân và vân vân).

Tên gọi: Đang chọn giữa ‘Văn Biển Đông’ cho mạnh mẽ, hoặc ‘Biển Đông, văn’ để điệu đà?

Motto: ‘Quốc gia hưng vong, quần thoa hữu trách’.

Phong cách: Đàn bà hơn nhau tiếng gáy. Không nói chàng cũng hay, lâu nay mỗi lần cờ-lích mạng của các nữ sĩ liền chị liền em như Gió Ù / Lê Thi Huê, Màu Da / Đăng Thơ Thơ chăm sóc chính, procontra.vn / Phạm Thi Hoài, Phong Diệp / Phong Diệp… là đàn bà hàng Quạt nóng hết cả mao (không phải lông đâu, nhà ngôn ngữ đôi khi chậm hiểu ạ: mouse! Mà mouse trong tiếng Việt vẫn là con chuột, ngôn ngữ gia lắm lúc thông minh đột xuất cũng đừng biến nó thành beaver/ con hải ly nha. Hi hi…


Anh thấy sao? Chắc chắn dịch giả - ngôn ngữ gia Thiết Ngôn sẽ phải là một cây bút đỉnh cho ‘Văn Biển Đông’ hoặc ‘Biển Đông, văn’. Văn lệnh như sơn! Bằng không, một dấu chấm vĩnh biệt to bằng núi Thái sẽ chính thức và không chậm trễ rơi xuống email này.


À, trước ngày đi Úc du học, Nghé Ọ bị Trâu dẫn dạo mấy vòng quanh Bờ Hồ. (Thời nay dân Hà Thành gốc không còn lệ đó.) Con bé khăng khăng không chịu nuôi giữ nghề gia truyền làm khuôn bánh anh ạ, dẫu là nghề phụ. Lạ thế? Lý do giống hệt em ngày trước: thiếu nữ ‘thanh lịch’ gì mà mồ hôi nhễ nhại, tay đục tay dùi, ghếch chân lên... Cuối cùng, em phải kể cho con nghe câu bà ngoại nó từng mắng mẹ nó: ‘Tiên sư bố nhà cô chứ. Mẹ cô không ghếch chân lên thì sao mà ra cô?’ Hai mẹ con ôm nhau khóc. Không nhớ con nó thế nào, chứ em lúc đó nước mắt đầm đẫm chẳng nhìn thấy Tháp Rùa trước mặt. Lại nhớ mẹ của em! Con thì khỏi lo. Thời nó chắc chắn không còn chịu đựng khổ đau như thời bà thời mẹ của nó đâu, anh nhỉ?


Chia sẻ riêng cùng anh. Có bị rò rỉ ra ngoài chắc các tiền bối cùng bạn văn chẳng nỡ trách. Thời đại của xì trét. Dân văn nghệ, sướng là dù buôn chuyện hay dở với đích văn chương và bằng lòng lành thì văn hữu chẳng ai rỗi hơi kết tội. Nhà thơ Đỗ Khờ năm ngoái trả lời phỏng vấn của Gái Hà Thành rằng đám văn thi sĩ chỉ nên là kẻ mua vui thiên hạ, như anh hề cung đình thuở xưa.”


Không ít đoạn trong những trao đổi trên được viết giữa các cú làm tình động đất cùng cuộc rượu ngất trời giữa Thiết Ngôn và người tình nam lý tưởng Trương Du. Những khi chủ nhân của bàn phím mê mị là thời cơ xọc vào của bàn tay lông lá từ Cục Tình báo Hoa Nam.


3.6


+ “Nỉ hãy thử cho ngộ biết về tác giả và về hai truyện đó; nhất là Truyện 2, Chuyện cái mũi khoan và bom dị bào”?


- “Trước khi là vợ đầu của chồng cũ của em, Đỗ Quyên là cán bộ Hội Phụ nữ; chưa hề cầm bút. Và chị đã từng không giữ chân được anh ấy lâu hơn em là bao. Cùng với một người đàn ông, cả hai chúng em đều không may về đường tình duyên; bù lại được trời thương trong nghiệp viết lách. Em và nhiều bạn viết không ngờ: vốn rất lãng mạn yểu điệu cà tửng cà tưng thế mà Quyên dám bám theo đề tài hết Trung-Việt lại Việt-Trung mạo hiểm dằng dai đau đáu đến vậy. Đã soạn ý, toan phân tích cho anh đôi chút; nhưng hỏi chuyện tác giả xong, em phát sợ. Cái trò phỏng vấn phỏng véo lắm khi báo hại nghề phê bình. Thảo nào sinh thời Nguyễn tiên sinh hay đe, ‘khi chết đi tôi muốn kéo theo vài cậu nhà báo, vài cô ký giả’.


+ “Thật rành mạch, ký giả kiêm phê bình gia Mỵ Châu có thể kể về nỗi sợ đó được chăng?”


- “Được chứ, sẽ nói về 8 cái Sợ theo từng điểm của thi pháp. Chưa bàn đến hay dở, bằng quan niệm của Roland Barthes, Mỵ Châu chưa hề được đọc sáng tác nào tương tự truyện Đỗ Quyên như một tác phẩm, cũng như một văn bản. [Mà sao hôm nay chàng hỏi khô khan thế? Ngọc thể bất an? OK, tiếp tục… Chàng động vào nơi nhạy cảm của cơ thể văn chương này rồi! Em thích…]


Sợ về chủ đề Trung-Việt:

Nuôi cả 10 năm, từ buổi đọc trên mạng ‘tin mật’ về cuộc thảm sát và cưỡng chiếm quân sự 1988 ở đảo Gạc Ma, chị Quyên vẫn cảm thấy chưa đủ sức viết. Đến cuối năm 2007, phía Trung đẻ ra cái gọi là thành phố Tam Sa (tiếng Việt bèn đặt cho tên là thành phố Ba Sàm!) ôm trọn Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt. Nó đã làm bùng nổ các đợt biểu tình dữ dội của giới thanh niên, sinh viên tại Sài Thành, với dự phần của nhiều văn nghệ sĩ lề trái trong Nam như Nguyễn Viên, Trịnh Cương, Tuấn Kha, Trần Tiến Dung, Thận Nhi, Nynh Bakardi, Phan Bá Thơ, Vương Văn Quảng, Hà Vũ Trịnh… Thế rồi chị Quyên chỉ viết nổi 4-5 trang chưa thành truyện, đành dí tạm vào trường ca. Anh nhớ không, trước khi chính thức và đại trà cao trào văn học nghệ thuật chống xâm lược Biển Đông của năm 2014 này, ngay từ năm 2007 đã bùng phát mạch văn thơ kháng Trung ngoài luồng phi chính thống với ‘những ngôn ngữ chưa từng có trong văn chương Việt, phần nhiều được đăng trên tienve.info và damau.com như một hiện tượng của lịch sử văn học Việt đương đại’. Rồi tới hai năm 2011 2012 nóng nhất là sau vụ cắt cáp tàu Bình Minh ngoài Bắc đâu chịu kém cạnh cũng quất liền tù tì mươi cú biểu tình mỗi chủ nhật khi hoành tráng như voi hổ lúc xẹp lép như con tép đi đầu cùng với các chiến sĩ chống Tàu thực thụ còn có các vị văn nhân chí sĩ Hà Thành Huệ Chi Quang A Phạm Xuân Nguyên Nguyên Ngọc Chu Hảo… Vậy mà chị Quyên cũng chỉ dám phác dàn bài cho ‘rất nhiều truyện dài trong tương lai’. - Chị cười cười bảo em... - ‘May nhờ cái thằng chó HD-981 xông đến bà mới đẻ được thành tấm thành miếng thế này. Mà còn ở dạng hỗn mang văn bản, chưa nên một hình hài tác phẩm; nói theo lão Barthes của ông Nguyễn nhà mày!’ Em hoảng, dập máy liền. Mấy con mẹ văn sĩ sồn sồn lên đồng chữ nghĩa chạm mạch ngứa ghẻ hờn ghen thì thôi rồi…


Sợ về luận đề Trung-Việt:

Chị ấy bảo thử nghiệm lần đầu nên rất lo. Lấy đích thời cuộc uýnh Tàu làm cảm hứng, nên tự thấy có phần lơ là hiệu ứng nghệ thuật. Ở Truyện 1 tác giả không che giấu sự áp đặt mục tiêu chính trị qua 2 luận đề Trung-Việt như chân lý ngàn năm. Bốn hồi đầu: như một nhược tiểu quốc, Đại Việt bị định mệnh bắt làm láng giềng bất hạnh với cường quốc Trung, mọi toan tính thoát quẫy đều bất thành. Hồi kết: chỉ còn duy nhất một cách sinh tồn là củng cố, phòng thủ đất nước vững mạnh mà mỗi người dân Việt tự nguyện là một cột biên giới. Đọc góp ý từ bạn bè, tác giả tiết lộ rằng hồi kết đã được hoàn thành trước cùng với hồi đầu tiên, nên có thể chưa được tự nhiên.


Sợ về hình thức thể loại hòa trộn:

Truyện dùng quá nhiều thể tài rất khác nhau, mang tham vọng quá lớn đến mức ôm đồm cả nghệ thuật lẫn ngoài nghệ thuật. Quyên nói chị ấy muốn tạo ra ‘một văn xuôi hòa trộn’ 5-6 thể loại (truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, sử ký, bình luận, văn bản khoa học, khoa học giả tưởng…)

Chị em bạn gái với nhau, em chẳng lạ. Bà này dân xự Huệ gốc mà nữ công gia chánh tệ vô cùng anh ạ. Để giải thích ‘văn xuôi hòa trộn’ chứ không là ‘văn xuôi hòa tan’, 36 món chè đất Thần kinh quốc túy quốc hồn đâu không bày ra, phải dùng đến món pizza tít tận xứ Ý. ‘Mỵ Châu nghe nầy, em nên hiểu văn xuôi kiểu Đỗ Quyên của chị là trộn các loại hình văn học sao cho hòa cho thuận với nhau, mà không tan không biến trong nhau. Khỏi cần ăn em cứ nhìn vào chiếc bánh pizza là hiểu truyện chị. Những đoạn văn dã sử còn nguyên màu lịch sử, như các miếng nấm thái vụn vương mùi thời gian. Những đoạn văn tư liệu còn tươi xanh như sóng Biển Đông, chính là rau. Sốt cà chua, đó là tinh thần truyện ngắn. Pho mát là kiểu bình luận văn chương. Riêng với các đoạn bình luận văn chương, độc giả nào thích các sáng tác hư cấu mà lại dễ bị ói với loại văn nặng mùi chủ quan đó thì có thể bỏ qua nó; như thực khách nhúp từng lớp phó mát mà vứt đi, pizza vẫn ngon như pizza!’ Anh biết không, nghe bà chị giảng, em bụng bảo dạ: ‘Đích thị là thứ văn xuôi lổn nhổn!’


Nghiêm chỉnh mà nói, có lần bàn về cuốn tiểu thuyết khác của Đỗ Quyên, nhà văn kiêm lý thuyết gia tài tử Khai Minh đã vung tay phải vạch ra chân tướng của dòng văn này: ‘Thực chất đây không là tiểu thuyết theo nghĩa ‘truyện’, mà là một loại tiểu luận núp bóng hình thức truyện. Một ghép nối của nhiều tiểu luận, nhiều phê bình không những ở từng bài chỉn chu mà cả ở từng ý tưởng, từng đoạn rời rạc có ý đồ của tiểu luận, phê bình.’ Bà chị chỉ còn biết lè lưỡi: ‘Thế mới là con dao bác sĩ của phê bình chứ!’ Lý thuyết gia đó vung tay trái, vạch tiếp: ‘Dân trong nghề thấy một Đỗ Quyên đọc và nhớ rất nhiều chuyện từ văn chương đến thời sự. Không gian bao trùm mọi ngõ ngách địa cầu. Nhược điểm: dễ làm người đọc cứ thấy người viết ‘cầm lựu đạn’ mở chốt đứng ngồi với thế sự; sự cô đọng bằng thành ngữ dân gian, thổ ngữ, điển ngữ sẽ làm người đọc tầm thường bị hất ra khỏi câu chuyện, ngoại trừ phải chú thích, chú giải như điển tích mà Nguyễn Du làm Truyện Kiều.’ Bà chị chỉ còn biết ứ hự: ‘Chê mà sướng tê. Quyên mà được như Du thật sao?’

Em bổ sung hai điều: Dịch giả Thiết Ngôn nếu dịch Đỗ Quyên ra tiếng Tàu ắt cũng phải có phần phụ lục gồm chú thích, chú giải như từng làm với bản dịch Lolita của Nabokov. Và em thấy cũng nên dùng cách gọi mà thi sĩ kiêm phong thủy gia Nguyễn Nguyễn Bảy, phu quân của nữ sĩ Lý Phượng Liên thơm danh một thuở, tuần trước đã định danh cho văn xuôi kiểu Nhật Tuân ở cuốn Đi Về Nơi Hoang Vắng là loại ‘văn dài’. Hay! Không là truyện dài, cũng không tiểu thuyết. Truyện vừa, không! Trường thiên, càng không! Văn dài. Như thơ dài vậy thôi. Nói về dung lượng, thơ dài thì dài hơn thơ không dài, nhưng không dài bằng thơ trường ca. Đại loại thế, về nỗi sợ thể loại. Sợ chưa nào? [Thiết Ngôn, anh đâu rồi? Ngủ gật à? Đọc tiếp đi. Viết, em thấy sướng…]


Sợ về trào lưu - ‘hiện thực bò tái chanh’:

Muốn nói gọi hai truyện là nồi lẩu hậu hiện đại, nhưng em thấy chưa trúng hoàn toàn. Với các lối viết hậu hiện đại (nhiều người hay quên: có bao nhiêu tác giả hậu hiện đại, có bấy nhiêu lối viết hậu hiện đại) cái hay đi kèm cái dở. Những gì người ta không đọc nổi thì hoặc được tôn lên, hoặc bị đạp xuống bằng cùng nhãn hiệu hậu hiện đại. Nỗi sợ trào lưu lớn nhất trong em mỗi khi có ý định phê bình truyện của chị Quyên. Dễ hiểu hơn, nếu muốn bảo truyện là hư cấu hiện thực thì đó là thứ hiện-thực-tái, hay tái-hiện-thực cũng được. Ai đã mê món ăn Pháp bít tết (beefsteak) cũng phải biết có 3 loại, để mà gọi khi vào nhà hàng: tái đỏ (real), tái vừa (medium), chín (well done). Loại truyện hiện thực thông thường, đó là bít tết chín. Truyện hiện thực huyền ảo hay các thứ ảo khác: bít tết tái vừa. Truyện hậu hiện đại và các thứ truyện ‘lổn nhổn’ (như truyện Đỗ Quyên): khi thì là bít tết tái đỏ, lúc lại là bò tái chanh theo kiểu An Nam!


Sợ về hình tượng Việt:

Có 2 hình tượng làm nên cấu tứ của chuỗi truyện. Cả hai đều là truyền thuyết về nòi giống Việt (mẹ Âu Cơ đẻ bọc trăm trứng; nguồn gốc của ‘đồng bào’) và sự bất khuất của người Việt chống ngoại xâm (cột đồng Mã Viện). Truyện 2, Chuyện cái mũi khoan và bom dị bào muốn nói: nếu một cái ‘trứng’ Việt nào đó không được thụ tinh để thành ‘người’ Việt thì sẽ có thể thành một trái ‘bom’ để diệt kẻ ‘dị bào’ (ngoại bang xâm lăng Tổ quốc của người Việt). Mà, như ở Truyện 1, dẫu được thành ‘người’ Việt cũng không thể yên ổn với kẻ thù phương Bắc luôn rình rập cơ hội xâm phạm đất nước. Vậy, để chịu đựng láng giềng to lớn hơn rất nhiều mỗi ‘người’ Việt hãy hóa thân thành một ‘cột đồng phản Mã Viện’ bao bọc lãnh thổ, lãnh hải của mình. Chẳng còn lựa chọn khác!


Lý giải kỳ cùng đến nóng ran cả điện thoại, miệng nói tay nữ tác giả còn gửi điện thư cho em cái câu tổng kết tâm huyết của học giả Hoàng Xuân Hãn: ‘Bản sắc của người Việt là nhân phẩm người Việt, mà cũng là nhân phẩm của nhân loại trong chuyện làm người - đó là phải luôn đấu tranh để bảo vệ chủ quyền, độc lập, tự do của mình trước mọi thế lực ngoại xâm, nhất là những thế lực cường quốc’.


Ngoại đề: Dù rất tế nhị, khi người phỏng vấn tỏ ý hơi nghi ngờ kiến thức khoa học về vũ khí bom hủy diệt hàng loạt và về hoạt động sinh lý, trứng phụ nữ của một người chưa xong trung học (bỏ dở trường Đồng Khánh ‘vào bưng’) và cũng vì thế không thể sinh con (đàn ông các anh khỏi cần biết lý do!), nữ văn sĩ đã khóc anh ạ. Lại thấy thương quá! (Khổ, chỉ vì thế em mới lấy được chồng của chị ấy đấy!) Không sao, hết nước mắt đàn bà chúng em lại cười nói thôi. He he… Rồi chị kể trước khi viết về ‘bom trứng’ đã phải tư vấn hai người thân; một nhà khoa học thâm niên từng phục vụ trong Viện Kỹ thuật Quân sự, một giáo sư trẻ của Viện Sinh đẻ Kế hoạch. ‘Mày ạ, cả hai vị đó đều choáng, bảo không chắc truyện có hay không nhưng chắc tác giả hơi điên điên... Tao khoái quá cảm ơn rối rít được duyệt về mặt khoa học, và còn nhắc nhở không điên điên sao được làm nhà văn. À cưng, chị nghe các anh trên Thành ủy nói, cuối tháng Ban thường vụ Hội ta họp định kỳ sẽ xét nâng một số hồ sơ Hội viên dự bị lên chính thức?’


Sợ về chủng loại nhân vật:

Mọi nhân vật ở đây dường như không lãnh trọn đặc điểm văn học cần có, mà phải mang phục vụ lý tưởng chính trị và mục tiêu thời sự. Của tác giả; của các nhân vật và sự kiện ngoài đời; tối cao là của Tổ quốc Đại Việt lâm nguy. ‘Khi Tổ quốc gọi, chúng con lên đường!’ - Chính xác, đó cũng là lời của các loại nhân vật văn học trong truyện Đỗ Quyên. Lên đường! Các nhân vật từ tác phẩm lần lượt dạo bước, nhảy nhào ra khỏi trang văn chật hẹp, viển vông. Chúng hành quân, sinh tử cùng chúng ta. Ngoài đời… Vì một Tổ quốc chung: Đại Việt!

Nhiều tuyến nhân vật trong Truyện 1 có cũng như không có; mỗi nhân vật chết ngay sau khi luận đề được hoàn thành. Với Truyện 2, tuyến chính là Vương Thúy Kiều - Lưu Tiểu Tinh Đan. Cặp đôi này có ít nhất 2 ẩn dụ văn học cùng 3 ẩn dụ ngoài văn học. Không ẩn dụ nào lãnh đạo ẩn dụ nào. Mỵ Châu hứa sẽ có một tiểu luận riêng. Dư luận trên mạng và ngoài đời đang nóng lên vì cuộc tình đầm đẫm âm thủy (kéo theo tinh dịch, tất nhiên), nước mắt và cuối cùng là máu. Máu của nhị vị trai tài gái sắc đã nhuộm đỏ Biển Đông và biển Nam Hải. Vì nông nỗi nào? Hỏi là đáp. Điều em cần chốt lại: Vương Thúy Kiều - Lưu Tiểu Tinh Đan đã lặp lại lịch sử thì lịch sử sẽ không được phép tái lặp lại thêm một lần nữa! [Chàng có chăng nghe lời em nói? Lại đi đâu bỏ máy thế này…]


Sợ về điểm nhìn, người phát ngôn:

Cứ gọi là loạn cào cào! Nếu đọc nhảy cóc sẽ không thể hiểu ai đang nói trong truyện: nhân vật của truyện, nhân vật trong trích dẫn và đối thoại, nhân vật thật (ngoài đời), tác giả thật (Đỗ Quyên), tác giả giả… Và, những cái đó liên hệ với không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật - hai yếu tố thi pháp quan trọng vào bậc nhất mà chính hai yếu tố này trong truyện Đỗ Quyên lại cũng lung tung beng đảo quay tít mù nó lại vòng quanh. Cần một trao đổi khác chỉ về không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật ở hai truyện ta đang bàn. Tuy thế, đây cũng là loại tác phẩm mà độc giả có thể bắt đầu đọc, tiếp cận tác phẩm bằng bất kỳ chương hồi nào. Việc đọc thơ trường ca cũng như vậy.


Sợ về phong cách - ‘cầu thang biếm hài không chiếu dừng’:

Nữ tác giả của chúng ta rõ ràng không đếm xỉa đến cảnh giới của văn hào Bernard Shaw: ‘Trò đùa phải chấm dứt ngay khi nó thành công nhất.’ Theo các bậc cầu thang biếm hài và phóng dụ kiểu Đỗ Quyên, bạn đọc nên chuẩn bị trước sẽ không ngưng nghỉ, không có chiếu dừng. Lời đề từ của Truyện 2 có vẻ ‘hơi điên điên’? Tay bút này không ham thành công, cũng không muốn thành văn, chỉ mong thành thể loại.

Em điểm nhanh 3 định nghĩa thể loại của các tên tuổi đáng tin cậy để thấy tham vọng nơi tác giả:

Một cách hữu ích nhất, thể loại được định danh là công cụ giải bình, là cách hữu lý và uy lực nhất để xác định giá trị của văn bản văn chương.” (Adena Rosmarin)

Các thể loại chính - đó là những mặt trời thu hút các thể loại khác vào trong quỹ đạo của chúng. Lịch sử văn học, trước hết là lịch sử hình thành, phát triển, tương tác giữa các thể loại.’ (Mikhail Bakhtin/ Phạm Vĩnh Cư)

Trong tiến trình văn học dài lâu, thể loại là ‘nhân vật’ bao giờ cũng có mặt và giữ vai trò chủ yếu.’ (Lưu Văn Bổng)


Khách văn không chịu nổi các dích dắc của những trò chơi chữ, các lắt léo nhằng nhịt của liên văn bản, các ma trận của dụng điển, giai thoại thì không hiểu nổi và dĩ nhiên không cười nổi cùng Đỗ Quyên. Nhảy cóc. Bỏ cuộc. Là hai loại khách dễ gặp trong phòng văn này. Xin phép thầy Hoàng Ngọc Hiên cho em nhại lời chúc quen thuộc trước một tác giả khó là Nguyễn Huy Thiếp hai thập niên cuối thế kỷ trước: Mỵ Châu không chúc Thiết Ngôn thuận buồm xuôi gió!


+ “Khủng khiếp, khủng khiếp và khủng khiếp! Tám nỗi sợ đó sẽ tiêu diệt những độc giả lười biếng. Siêu độc giả như Thiết Ngôn cũng chưa chắc sống sót. Nhưng nếu cần nhận xét ngắn gọn về mỗi truyện thì sao?”


- “Biết sẽ bị hỏi vậy, em đã đòi Quyên chuyển cho ‘còm’ của các bạn văn và vẫn đợi nhiều ‘còm’ nữa chỉ ra những gì chưa đạt. Đây, chàng xem…


Độc giả Y., trang mạng V.C.H. (Tây Nguyên):

Chuyện hay, đậm tính thời sự. Có lẽ do được viết bởi một hình thức cách tân khá lạ lẫm với thói quen đọc của người Việt, nên không dễ tiếp nhận nếu không có tính... kiên trì. Hì hì... Mới đọc cứ ngỡ đây là truyện của các tác giả do bức bối với ‘thời tiết xã hội’ nhưng e dè ‘cơn mưa chính trị’ dội xuống đầu, do vậy thường viết theo lối lấy chuyện xưa hoặc bên Morocco Congo gì đó làm nền cho chuyện nay. Đọc vào thấy thực ra tác giả viết lộ liễu, không kiêng dè gì cả; chẳng qua như một thủ pháp tung tẩy nhằm lật mặt mọi bề hiện thực.’ (Truyện 1)


Ban biên tập trang mạng BoVN (Hà Thành):

Tác giả đặt chúng tôi vào một thế khó khi gửi đến BoVN - là nơi không đăng truyện bao giờ - một truyện ngắn trào lộng nhằm giễu nhại những nhân vật và những vấn đề thời sự hiện nay. Đọc truyện ngắn khí dài này thú thực muốn đăng lắm, hiềm rằng quy chế của BoVN. rất chặt nên khó lòng phá lệ. Vì vậy xin gợi ý một giải pháp khả thủ để tác giả suy nghĩ: chúng tôi sẽ chuyển truyện ngắn này sang trang Việt Văn có được không.’ (Truyện 1)


Thi sĩ N. Đ. T. (Vancouver):

Truyện 1 đầy tính phúng dụ và tính văn học nhân chứng. Bất ngờ! Bất ngờ! Bất ngờ! Mạch đi của Truyện 2 OK lắm và có phần sắc sảo hơn Truyện 1. Phần lời đề tặng mở đầu hình như hơi dài. Có lẽ không nên viết bóng gió ẩn dụ nhiều quá. Đã nhận ra một số vấn đề khác, sẽ nói sau.’


Văn sĩ N.T.H. (Bình Định):

Truyện 1 gọi là tiểu thuyết cũng được, tiểu luận cũng được, hay là một văn bản lịch sử được văn chương hóa cũng được. Một sự ‘tân hóa’ thật thú vị. Tất nhiên phải chú hết tâm để đọc mới thấy được những kết hợp nhuần nhuyễn của người viết. Một câu chuyện thế sự, một câu chuyện lịch sử, đọc xong cứ thấy ngậm ngùi và căm phẫn. Một ước mơ như một bi kịch: chẳng bao giờ có chuyện đó đâu, chuyện di dời tổ quốc. Ở Truyện 2 thì là một viễn mơ khoa học, nhưng biết đâu… Biết đâu lại là một khơi gợi cho khoa học mai sau.”


Văn sĩ Đ. T. (Hà Thành):

Truyện 1 và 2 của bác kinh dị đấy! Nhưng cần ‘thâm hiểm’ hơn. Sơ phê thế đã. À, muốn viết cái này hay thì phải viết nhanh, nhịn ăn nhịn uống, phọt c. ra quần không hề biết, thì sẽ đắc chính quả. Chỉ mới xem tiếp được một số hồi của Truyện 3, đã thấy tất cả như một siêu từ điển: Trung-Việt Việt-Trung mâu thuẫn từ điển, hay Trung-Việt Việt-Trung trắng đen từ điển.’


Thi sĩ M. V. P. (Hải Phòng):

Truyện 2 viết theo lối liên văn bản, hậu hiện đại. Cách nhại truyện chương hồi của Tàu, ngả giọng Tàu giả cầy rất giỏi. Truyện vừa có tính giải trí vừa đánh trúng huyệt Tầu.’


Ký giả P.P.L. (Toronto):

Em thích kiểu viết này, rất mới; mang sắc thái ‘tân cổ giao duyên’ và upside down (đảo nghịch). Nội dung không mới với người Việt ở Canada (Ai cũng mong giá như chỉ cần đưa được tất cả 90 triệu dân Việt sang đây ở đủ 10 năm thì chẳng phải làm gì mà dân trí, dân khí cũng lên, hehe... Toàn là giấc mơ ngày như chị viết); nhưng là mới với người trong nước. Chưa đủ trình độ góp ý về nhân vật theo chị yêu cầu, vì em cảm thấy câu chuyện thế là được. Tuy nhiên hơi lấn cấn cái kết luận, khó nói là khiên cưỡng nhưng cảm thấy chưa nhuyễn; hay em chưa hiểu hết ý? Trên hết, truyện (cũng có thể gọi là ‘bài viết’) giống một bài thuốc, hay mạnh hơn là một lưỡi gươm. Dù là kiểu gì vẫn có tác dụng trong tình thế nóng bỏng hiện nay. Và cách viết dễ làm độc giả đọc tới hết vì thấy hay, lạ. Sau là dễ nhớ. Rồi sẽ có thể kể lại cho bạn bè: này, có người đã từng nêu ý tưởng như thế... Tức là theo quan điểm giáo dục của em thì có tác dụng tốt cho quảng đại quần chúng 30 tuổi trở lên, trừ một ít tuổi trẻ tài cao ở trong nước.’ (Truyện 1)

Em vẫn thích kiểu viết này của chị và tin sẽ có rất nhiều người thích cùng. Tác dụng chống Tàu vẫn giữ nguyên giá trị như Truyện 1 và như chị muốn. Ngạc nhiên trước ý tưởng táo bạo! Phải đọc đi đọc lại vài ba lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 10 tiếng, em mới dám trả lời. Lạ, hay và sâu sắc - đó là những gì em cảm thấy. Truyện 2 hơn Truyện 1 cả về ý tưởng lẫn bút pháp chị ạ.’


- “Sẽ lĩnh ý của các ‘còm’. Giờ ta nói về Đặc công trứng trong truyện Chuyện cái mũi khoan và bom dị bào?”


+ “Vẫn cái giọng ra lệnh, ghét Chủ tịch Hội quá! Này nói riêng anh. Không phải em hờn ghen chị ấy đâu, nhưng cũng thấy dù là sáng tác theo kiểu khoa học hoang tưởng thì cung cách viết văn dựng chuyện về vũ khí dị bào với các Đặc công trứng sẽ chịu rủi ro về mặt nhân bản, khi tác giả đã dùng thân thể con người làm phương tiện hủy diệt nhân loại. Vậy ra nhà văn đã viết trái với chủ trương của nhà nước ư? Anh thấy đấy, hôm 20 tháng Năm vừa rồi, Ngoại trưởng Phạm Bình Sinh tuyên bố Đại Việt chúng em đã tham dự vào sáng kiến chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (proliferation security initiative) mà trước đó chính nước chúng em cùng nước Trung các anh vẫn khước từ. Một tiến bộ lớn của Đại Việt về lợi ích chiến lược ở khu vực và toàn cầu theo hướng Hoa Kỳ tán đồng. Chắc chị Quyên lãng quên. Nhà văn là thư ký của thời đại kia mà.


Không ít đoạn trong những trao đổi trên được viết giữa các cú làm tình động đất cùng cuộc rượu ngất trời giữa Thiết Ngôn và người tình nam lý tưởng Trương Du. Những khi chủ nhân của bàn phím mê mị là thời cơ xọc vào của bàn tay lông lá từ Cục Tình báo Hoa Nam.


3.7


- “Mấy hôm trước Mỵ Châu còn so sánh ảnh hưởng thời cuộc của truyện Đỗ Quyên với thơ ca gì đó của một thi sĩ tên Tú…”


+ “Đàn ông Trung nhớ dai thế! Anh hết mệt chưa? Đừng thức khuya quá mà xấu giai. Ừ thì là Hồn Phàm, trường ca của Nguyễn Đinh Tú, nick trên mạng là Cậu Tú. Cuốn Hồn Phàm sắp là tác phẩm văn học đầu tiên mô tả trực diện và vỗ mặt không chỉ cuộc chiến tranh xâm lược Biên giới Trung-Việt 1979, mà cả hai trận cưỡng chiếm Hoàng Sa 1974 và Gạc Ma 1988. Trực diện: sự kiện, chiến sự của ba cuộc chiến. Vỗ mặt: tên tuổi, địa danh thật, không nói bóng nói trại. Đúng là văn học có chức năng dự báo. Anh nghe này: Sách thơ của cậu thiếu tá Cảnh sát biển chưa hề xung trận lại trùng với tinh thần của một kiến nghị do 20 cựu sĩ quan từ trung tướng đến đại tá quân đội, công an vừa gửi các vị lãnh đạo nhà nước và chính phủ, làm nức lòng dân tình trong các ngày qua:


Việc cố tình phớt lờ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979 và mấy trận chiến bảo vệ biển đảo không chỉ phủ nhận lịch sử, xúc phạm đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tinh thần và quyết tâm chiến đấu của Lực lượng vũ trang. Đó là sai lầm không được phép tái phạm.’


Đàn bà như em thích nhất câu cuối, hôm qua vừa đọc tới thì mắt nhòa lệ lúc nào không hay. Tướng thế mới xứng danh tướng Đại Việt chứ! Tổ quốc Trung nhà anh tha hồ mà chết với chúng em. Cậu Tú, thiếu tá Cảnh sát biển độc thân lênh đênh nhưng tham vọng và bút pháp văn chương đã nhà nghề ngang ngửa văn sĩ chuyên nghiệp sống trên cạn như chúng em. Đẹp trai kinh hồn! Nguyễn tiên sinh thời trẻ cũng không bì được nữa là Thiết Ngôn tiên sinh thời nay. May, con Nghé Ọ đi du học chứ ở nhà là khổ với ‘cậu’.

Cứ theo Mỵ Châu thì ý nghĩa ‘thơ đại dương’ của Hồn Phàm có thể tương đương với phong cách ‘thơ quảng trường’ trong trường ca Quay Trái của Maia. Sách đang còn trong nhà in của Hội em, anh ạ. Sắp ra lò. Nhiều người đoán nó có thể tạo chấn động hơn hai truyện của bà Quyên. À anh có nghe tin đồn hãng phim nào đó lớn lắm ở Bắc Mỹ tính mua bản quyền hai truyện đó không? Quả này thì nước Trung các anh mất mặt! Sách của Tú, anh biết không, em chạy giấy phép muốn đứt hơi. Khổ cho dân viết lách nhà em! Có còn ‘nhạy cảm’ e ấp nữa đâu cơ chứ. Sau giàn khoan 981, mọi sự già dơ tô hô ra cả như gái thập thành rồi.”


- “Mỵ Châu hẳn theo dõi kỹ các nhận xét về Hồn Phàm từ khi nó đăng rải rác trên mạng?”


+ “Tất nhiên! Nhưng dạo đó ít lắm ai dám động vào ‘nhạy cảm’. ‘Mùa thu nay khác rồi’, nên sách chưa in mà tác giả đã có ngay 9 bài mới toanh phê bình, giới thiệu, tựa, bạt... Em bảo: ‘Đưa hết đây chị mày tống hết vào Phụ lục. Tội vạ đâu chị chịu, mày đi tù!’. Làm sách già đời, ngán gì! Ở bên ấy anh chắc đã biết tên tuổi Tổng biên tập Phạm Sỹ Sau với câu ‘Thà hy sinh chứ nhất định không chịu chết trên bàn kiểm duyệt!’ Tú bảo: ‘Ôkie thằng em chỉ biết nghe bà chị. Dịp may. Mai kia nhỡ các bố ấy lại ‘treo cờ đỏ bỏ cờ xanh’.’


Tạm gửi anh coi trước vài thu hoạch của riêng em, lọc từ Phụ lục:


Với Hồn Phàm, thi sĩ Nguyễn Đinh Tú đã thực thi một ván bài lật ngửa của dân Việt với người láng giềng phương Bắc đúng lúc có sự kiện giàn khoan HD-981. Vô giá, chúng ta lấy lại tiếng nói dân tộc, tròn vành rõ chữ, đúng âm hưởng. Cũng với Hồn Phàm, lần đầu tiên trong văn học Việt hiện đại đã xuất hiện đàng hoàng một cuốn sách viết trực tiếp về các cuộc chiến đẫm máu bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải; đã xuất hiện kiêu hãnh bởi một nhà xuất bản đàng hoàng trong nước’. (Phê bình gia Nguyễn Quan Thiều)


Nguyễn Đinh Tú đã thành quả khi xử lý bằng thơ các chất liệu chiến tranh. Hồn Phàm là lời cảnh tỉnh với các tác giả viết tiếng Việt: không được phép quên quá khứ đau thương của dân tộc, nhất là khi quá khứ đó chỉ cách hiện tại ‘vài ba bước sau lưng’. Tôi đánh giá cực cao tác giả khi cậu ta nhanh nhạy chọn hình thức trường ca, dũng cảm ở đề tài Trung-Việt và tài hoa ở thi pháp nghệ thuật.’ (Nhà mỹ học Nguyễn Thị Thông Thái)


Một thách đố về lối viết trường ca; sử thi mà hiện đại, tự sự khốc liệt mà đau đáu trữ tình. Tính trường ca được thể hiện hài hòa: Qua thể tài mang tinh thần không chỉ của từng cá thể hay giữa các cá thể, mà thuộc về giá trị chung của dân tộc và nhân loại trong một chủ đề nhân văn có ý nghĩa xã hội rộng lớn. Qua cốt truyện có có không không. Qua chất liệu hiện thực về trạng thái nhân thế lẫn trạng thái sử thi. Qua cảm xúc đã chấn động lại mềm mại. Qua giọng điệu như cuộc tình tay ba của hùng ca, bi ai và hài ca. Qua tư duy mạnh nhanh với chủ đích lôi cuốn trong thái độ chủ quan. Qua cấu trúc và thủ pháp sử dụng hình thức kỹ thuật của trường ca chuẩn tắc (chương, khúc) và phi chuẩn tắc (đa ngữ điệu, cạnh tranh các mặt đối lập). Chúng tôi đang nói về cái gì đấy ạ? Thưa, Hồn Phàm của Nguyễn Đinh Tú, nhà xuất bản Người Hà Thành sẽ ra lò quý III năm nay!’ (Giáo sư Cao Giá và Nhà lý luận Phạm Ngân Xuyên)


Tôi bật cười khi đọc tập trường ca của Cậu Tú. Cuốn sách nói tới vấn đề và sự kiện mà người Việt hiện nay ai cũng biết nhưng không ai nói.’ (Nhà thơ - Họa sĩ Phan Huyền Thu)


đây là lời của chính tác giả Nguyễn Đinh Tú:


Tôi cho nhân vật Hồn Phàm phải lên cõi niết bàn để giải phẫu chuyển đổi giới tính: đó là hình thức và cũng là nội dung của câu chuyện thơ. Để kể về Chiến tranh Biên giới 1979, về hai cuộc Hải chiến 1974 và 1988: đó là chất liệu của trường ca.


Theo Giáo sư Lê Ngọc Trà, ông Hegel là người đầu tiên tìm hiểu rất hệ thống cặp phạm trù nội dung và hình thức để rồi kết luận:

Nội dung không phải là không có hình thức, trái lại, nó không chỉ có hình thức ở bên trong mà còn có hình thức như cái gì ở bên ngoài nó.

Do đó sự chuyển hóa qua lại của cái này thành cái kia, khiến nội dung không gì khác hơn là sự chuyển hóa của hình thức thành nội dung, và hình thức không gì khác hơn là sự chuyển hóa của nội dung thành hình thức.

Sự chuyển hóa này là mối quan hệ tuyệt đối giữa nội dung và hình thức.

Vì thế, một tác phẩm nghệ thuật thiếu hình thức thích đáng thì không thể được gọi là tác phẩm nghệ thuật.


Thừa thắng theo ông Hegel, ông Bakhtin đã xông lên với nhận định sắc hơn:

Hình thức nghệ thuật là hình thức của nội dung; Hình thức như là hình thức của nội dung và nội dung như là nội dung của hình thức.

Đặc biệt, với Bakhtin, chất liệu không phải là hình thức; chất liệu muốn trở thành hình thức phải được tổ chức lại trong một kết cấu; những hình thức kết cấu này được quy định bởi những hình thức kiến tạo là hình thức tồn tại của bản thân nội dung cái nhìn nghệ thuật hay nhãn quan thẩm mỹ.


Thôi quên đi các ông Hegel ông Bakhtin lằng nhằng rách việc. Tôi muốn nói nhanh cho sớm chợ. Thông điệp của trường ca Hồn Phàm là: dù ở biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn hay ngoài biển đảo Gạc Ma thì câu chuyện chiến tranh Trung-Việt đã thành ẩn ức không dễ bày tỏ.

Cái đau cái nhục có cả máu và nước mắt mà không được nói ra. Phải chăng đó là một Việt tính, một bản sắc? Hay chỉ là tâm thức của một thời đại?’

(Trả lời phỏng vấn báo Văn Chương Trẻ).


Thời gian qua nhiều người hỏi nhà cháu Hồn Phàm có cái gì giấu trong đó mà báo chí nhòm ngó lắm thế. Bài tin đùng đùng, lời đồn đoàng đoàng cứ như thời anh Kim Đồng lên chiến khu. Các bạn nhà báo nhà đài mách hỏi nhau: ‘Sách vẫn còn bị gác ở trên bàn Tổng biên tập đấy?’; ‘Trường ca về chiến tranh biên giới phía Bắc à? Đã đọc chưa? Liệu có gì không?’; ‘Sao không? Còn dám mô tả hải chiến của ‘ngụy” nữa cơ đấy!’; ‘Thôi bảo bên truyền hình không nên đưa tin khi sách phát hành nhé, phiền phức lắm’. Ô hay, các bác các thím sợ Hồn Phàm của nhà cháu đến thế à? Nhà cháu tự ngoái sái cổ nhìn lại hành trình sáng tác 15 năm qua thấy mình tương tác ngon lành cành đào với bạn đọc nên chả cần phải gây sốt bằng chiêu trò này nọ. Nhà văn viết khi có sự trống vắng trong nội tâm của mình và của bạn đọc. Nhà cháu viết về các cuộc chiến tranh bị vắng bóng trên văn đàn. Năm ngoái nhà cháu cho ra tập truyện ngắn Hoang Tình, viết về biên giới Tây Nam hồi 1977-1978 mà cứ phải ẩn dụ hoán dụ đánh hỏa mù lung tung cả lên mới xin được giấy phép khống đấy. Năm nay, bám càng cái giàn khoan HD-981 Hồn Phàm thừa cơ xốc tới đàng hoàng hơn. Báo cáo hết ạ!’

(Trích Facebook Cậu Tú)


+ “Anh mới nghe nói tuần báo Văn Chương vừa ra mắt tuyển tập truyện và thơ mang tên Mặt Biển? Và cả vở kịch Họ Và Mình của đại tá - kịch tác gia Nguyễn Lập Phương đang tập vở tại Nhà hát kịch nói Quân đội?”


- “Sao anh ma xó thế? Sau vụ giàn khoan, chắc dịch giả Thiết Ngôn thành ký giả Thiết Ngôn mất thôi! Cũng tốt, bang giao văn chương Trung-Việt được nhờ.


Vâng, ngoài các tác giả, tác phẩm nói trên đang gây sóng gió, còn tập truyện ký Đến Đảo Sinh Tồn Đi Qua Gạc Ma của văn sĩ thủy quân Lê Hoài Lam ra mắt âm thầm đúng hôm giàn khoan 981 sôi sùng sục. Ôi! Gạc Ma bi hùng, Gạc Ma phẫn uất, Gạc Ma đau thương! Để dành thư sau ta sẽ ‘xơi’ nó anh ạ. Đâu như đang bị các sếp ‘soi’? Em nghiệm rồi, sách văn chương cũng như trái chín trên cành, trái nào vặn vẹo nổi u sâu cắn mới ngon ngọt.


Muốn hiểu thực tế của Hải quân ta, ý là quân Đại Việt nhà em ấy đâu phải Hải quân Trung nhà anh, sống chiến đấu lao động và học tập ra sao ngoài biển đảo, không được phép bỏ qua lớp tác giả thủy thủ. Hiển nhiên!


Như cựu văn sĩ hải quân, cựu thần đồng Trần Đặng Khoa với nhiều thơ văn chuyên trị biển đảo mà danh tác là tập truyện ký Biển Chìm từng được tái bản liên hồi kỳ trận từ năm 2000 tới nay; lần thứ 26, bản mới nhất cũng ăn theo cái giàn khoan. Phê bình gia tinh tường hàng đầu Đại Việt là Lê Lưu gọi Biển Chìm là một thần bút.


Song thế hệ ‘nhà văn trung úy’ xông xáo cỡ như Trần Đặng Khoa cũng không được xông vào vùng nhậy cảm trên cơ thể Trung-Việt. Phải đợi thế hệ ‘nhà văn trung tá’ xông xáo và phản biện như Nguyễn Lập Phương, Nguyễn Đinh Tú, Lê Hoài Lam… Nhiều năm trước Lê Hoài Lam lên hương nhờ tiểu thuyết Những Ngày Huyền Ảo với đa số chương viết về lính thủy đánh bộ trong chiến tranh biên giới Tây Nam 1979.

Thử nghe nhà văn cấp tá hải quân vừa tâm sự trên báo mạng Văn Chương Quê Nhà:

Hỏi: Nói về dòng văn học biển đảo, sự kiện giàn khoan từng khiến các tay bút cùng chĩa cả về Biển Đông. Nhưng giàn khoan đã được nhổ đi, liệu các sáng tác có lắng dịu không, và rồi lại chỉ còn các thủy thủ cầm bút như Trung tá là thủy chung với biển đảo?’

Đáp: Câu hỏi hay! Trước hết, phải nhất trí ngay với nhau một điều: đất nước và con người Việt không thể không dính liền với biển; tức là nhà văn không thể quay bút trước đề tài sống còn này. Với tôi, những sáng tác vừa có chất thời sự vừa mang giá trị nhân văn, đích thị đó là văn chương. Kỷ nguyên đại dương đã đến, văn nghệ sĩ Việt mà thờ ơ với đại dương thì có ngày mất nước! Nhất trí ngay chưa nào? Điều nữa cũng cần nhất trí, nhưng từ từ. Viết về biển đảo ta và Hải quân ta không dễ. Đâu phải văn sĩ, ký giả nào cũng đi biển được. Rồi tình tiết, tự sự, diễn ngôn hàng ngày trên biển cả trùng khơi nói chung là không ‘sóng gió’ trừ những khi sóng gió, nên văn sĩ khó bề hư cấu mắm muối như chuyện trên cạn hay đồng rừng. Nếu chưa kinh qua cuộc sống đại dương, các nhà văn đi thực tế, ngay cả dịp nóng giàn khoan vừa rồi, khi trở về đất liền thường chỉ viết được loại văn chương thoang thoáng hơi gió hâm hấp muối biển. Cũng là quý rồi. Chờ cho giàn khoan cút xéo đi, hãy là kẻ quý trọng biển đảo đau đáu, hãy là người yêu thương lính biển ngút trời thì may ra mới tiếp tục viết, viết cho hay cho đẹp cho đúng về biển đảo Đại Việt ta! Từ từ nhất trí nhé?’


Họ Và Mình? Ôkê! Sân khấu kịch là con khủng long cổ đại sống sót vào thời Phục hưng và đầu thai vào thế kỷ 20, tới đất Việt thì nhập thân kịch tác gia Lưu Quang Võ thời 1980. Dở là ở chỗ Mỵ Châu không thích kịch cọt anh ạ. Trong kịch ‘tốn’ người chết quá! Nhưng lần này phải phục Nguyễn Lập Phương khi chàng dẫn độ khá ngon lành cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc lên tới tận… sân khấu. Đến mức panô buổi công diễn dự tính giật tít ‘Không thể xóa nhòa lịch sử giữ nước!’ Độc giả phải chờ thêm, vì trong Họ Và Mình tác giả chỉ đang he hé đề tài nhạy cảm.


Này anh, cũng nên ghi nhớ bài bình của phê bình gia kiêm kịch tác gia đàn anh Bảo Linh vừa gửi cho báo Hội. Kịch diễn là em đăng.

Trên cả hay! Bản thảo kịch Họ Và Mình tôi được tác giả cho đọc từ khuya. Nhưng mãi không thấy được ra ngoài ánh sáng, dù là ánh sáng đèn pha sân khấu. Bây giờ sắp diễn rồi, ngẫm thấy ân hận mình đã vội nghĩ không phải về các ‘ông’ kiểm duyệt nước mình. (Có lẽ thua cả nước ‘họ’?). Theo lối đọc thành nếp hằn và tất nhiên già nua của tôi, kịch bản Việt sau năm 1986, bậc nhất là Nguyễn Huy Thiếp ở các vở Không Có Vương, Thương Nhớ Chân Quê, Những Bài Học Nông Dân, Sang Mương; rồi Nhật Tuân với kịch Đi Về Nơi Hoang Vắng, Lê Mận với Thời Xa Tít, đến Dương Hường với Bến Không Vợ, thì dừng lại. Cho tới giờ mới có vở này. [Thiết Ngôn cũng biết anh giai này ‘sĩ’, không dám nêu vở Nỗi Buồn Chiến Chinh của mình từng được đóng đinh vào bảng phong thần kịch Việt hiện đại. Hollywood đã có hợp đồng chuyển thể phim mà vì sao đó cứ lần khân? Ký giả nghe đồn gì không?] Ấy là tôi nghĩ thế, độc giả khác nghĩ khác. [Phê bình kiểu này có mà dụ dỗ độc giả ‘ma’? Em sẽ đục bỏ. Câu tiếp lại rất đạt.] Họ và mình là người bên mình với người bên kia biên cương, là người âm người dương, là người mất kẻ còn... Một trong những bi kịch lớn nhất của đất Việt kể từ năm 1979 mà thật ra từ ngàn xưa. Không phải bây giờ mới được nghe khen hết lời, mở lại tờ Văn Chương Trẻ số Tết 2010, độc giả sẽ thấy tôi nói thập thò về ‘một tuyệt tác của một nhà văn đàn em’’.


+ “Nguyễn Lập Phương thì anh cũng thích. Hơi văn ma ảo. Khí văn lồng lộng. Người Tàu bọn anh không đọc mà ‘ngửi’ văn, nên trọng hơi và khí. Bác này đâu như năm 2010-2011 gì đó cho in bên Pháp cuốn kịch bản Xe Xuống Xe Lên?”


- “Ma xó thành ‘khí gió” rồi, trời ạ! Đúng thế, Họ Và Mình chỉ là phiên bản công diễn của bản văn học Xe Xuống Xe Lên. In sách ở hải ngoại coi như ném đá xem tăm. Anh lạ gì! Các bác ở ngoài ấy người khôn văn khó, viết được cái gì hay cái đó; đâu còn sức bình bàn tác phẩm người khác. Thế nên ‘xe xuống xe lên’ cả ba năm mà ‘xe’ vẫn như mới toanh. Phí rượu! À quên, phí cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung lần đầu tiên đi vào văn học. Dư luận trong nước nay mới biết qua vở diễn.


Còn đây, mời ký giả Thiết Ngôn thẩm định lời bình của học giả Thụy Khê viết giới thiệu sách. Hơi dài đấy, nhưng có vấn đề:

Hơn 20 năm trước, Bảo Linh diễn tả chiến tranh như cỗ máy nghiến vụn tất cả, trừ tình yêu. Nay Nguyễn Lập Phương tiến thêm một bước: chiến tranh nghiến vụn cả tình yêu, chỉ để lại tội ác, tức là chẳng cho con người hy vọng nào. Nguyễn Lập Phương đã rọi ống ngắm vào tội ác của một dân tộc được giáo dục thường trực trong bài học anh hùng và chiến thắng mà bản chất sâu xa chỉ là thổ phỉ. [Thổ phỉ? Thiết Ngôn thấy sao? Em ngứa tay biên tập quá!] Chiếu vào hậu quả từ các chiến thắng từ thời Lý tới thời Tây Sơn-Gia Long, thời Cách Mạng-Thổ Phỉ [Ngứa tay biên tập lắm rồi. Biên tập chứ không kiểm duyệt.] đến cuộc chiến Trung-Việt. Văn hoá ‘chặt chém’ đã thấm vào máu, nằm trong nồi cơm: dân ta mải chặt mải chém mà quên sinh quên sống. Dải đất biên giới anh hùng vắt trên dãy thây người. Những hệ gia đình thui chột như gia đình Hiếu là ví thế: ông ngoại trùm phỉ bị chặt đầu; mẹ buôn lậu vào tù; chú ngớ ngẩn; anh bộ đội đánh Tàu sau chết vì điên, bị chuột gặm hai cánh mũi và mắt; em trùm phỉ bị phục kích chết trên đỉnh Tà Vần… Sự giáo huấn chiến thắng chỉ sinh ra thánh nhân, nhưng không có bà mẹ nào muốn con là thánh. Cơ sở đầu tiên của con người là gia đình đã bị hủy hoại. Hệ thống cầu vồng phủ lên trọn lãnh thổ, khiến con người ta không thể vùng ra khỏi vòng ánh sáng đó đi đến chân trời mới. Nam thanh nữ tú chìm lặn trong đất thánh của tội ác, bị rình rập, vừa chạy lên đỉnh đã bị sập lưới, đẩy xuống đáy vực. Họ chưa được ý thức về khái niệm tội ác đã lìa đời.’ [Vừa diễn kịch vừa đọc lời bình này, trẻ con hết dám khóc.].


Thôi bỏ kịch cọt đi. Trong kịch ‘tốn’ người chết quá! Đã bảo là Mỵ Châu này dị ứng kịch mà! Văn thơ sướng hơn…


Vâng, tập sách Mặt Biển em cũng dính vào nhiều; Phụ trách biên tập phần truyện. Trừ vài trường hợp còn thì biên tập dễ như ăn cơm sườn. Sách gồm toàn tác giả gạo cội và đang phất. Bài vở hầu hết đã in ngon lành trên báo Văn Chương trong 4-5 năm qua, thậm chí mươi năm trước.”


+ “Cụ thể hơn nữa nào, nữ Phụ trách biên tập phần truyện?”


- “Mặt Biển hơn 500 trang gồm 30 truyện ngắn và 100 bài thơ của 80 tác giả, nhà xuất bản Nữ Nước Nam ấn hành. Các tác phẩm tạo dư luận ư? Như truyện ngắn Mộ Sóng của tác giả trẻ Lê Mạnh Thương từng được chuyển thể thành phim truyện cùng tên, sắp đi dự Liên hoan điện ảnh quốc tế Toronto. Như truyện dài Những Cánh Thư Gửi Từ Biển của nhà văn Vũ Thị Xuân Hà được hoàn thành nhanh nhất ngay giữa biển khơi Trường Sa tháng trước. Như trích đoạn tiểu thuyết của đại tá - văn sĩ Khuất Quan Thụy. Như thơ của đại tá - thi sĩ Nguyễn Hữu Quy, trung tá thủy quân - văn sĩ Lê Hoài Lam, thi sĩ cựu phi công Nguyễn Trọng Võ. Rồi ba truyện liên hoàn của một cây bút xứ Huế là Nhuỵ Uyên nữa cơ…

Em còn đoán giới văn nghệ sĩ Trung sẽ phát sợ trước tiền đồ của nền văn học Việt khi nghe lời phát biểu của phê bình gia - dịch giả Nguyễn Quan Thiều, Viện phó Viện Văn học Quốc gia kiêm Giám đốc Trung tâm Truyền bá Văn học Việt ra Ngoại quốc: ‘Mặt Biển có 3 điều đã nổi lên: Một, tình yêu biển đảo và ý thức chủ quyền Tổ quốc đã được nghệ thuật hóa bằng ngôn ngữ văn chương. Hai, sứ mệnh của văn học không gì khác hơn là thiết lập một Nhà nước của ngôn ngữ’…


+ “Cũng không mới. Từ thập niên 1950 Mai Thao và nhóm Sáng Tạo đã đòi lập Cộng hòa văn chương thế kỷ 21. Rồi Asturuas trong diễn từ Nobel 1967 từng bàn tới việc ‘giành chỗ đứng trong Nước cộng hòa văn chương’. Gần hơn, mươi năm trước đây, báo mạng Tiến Về cũng khẳng định sẽ góp phần xây dựng một khối Thịnh Vượng Chung của văn học nghệ thuật Đại Việt. Thì ra làng văn Đông-Tây đều tỏ vẻ sính tuyên ngôn?”


- “Anh nói tức như bò đá ấy! Phải, ai chẳng biết Thiết Ngôn giỏi! Chỉ giỏi nói leo bới bèo ra bọ. Hôm nao qua đây đấu khẩu xem mèo nào cắn mỉu nào: Thiết Ngôn ‘bắn’ tiếng Việt, Quan Thiều ‘nã’ tiếng Trung. Mới hay không mới, Đại Việt chúng em lúc này không cần, đúng ra là chưa cần. Miễn sao phục vụ tình hình mới.”


+ “Ừ thôi nỉ xin lỗi ngộ. Sợ gái nước Nam quá! Hảo… hảo.... Thế Nguyễn Quan Thiều phát biểu gì nữa?”


- “Làm mất cả hứng. Đang nói đến đâu rồi? À may cho em. Đúng buổi Ban biên tập họp đột xuất bàn về truyện chị Quyên gửi vào quá giang trên tập Mặt Biển thì mẹ Trâu phải ra sân bay tiễn con Nghé Ọ đi Úc. Kể riêng anh biết tin này nghe xong bỏ đó nhé; lộ ra là em chết đấy! Truyện của bà chị được một vị có chân trong ‘Bộ to nhất của các Bộ’ bảo lãnh với ‘chỉ đạo miệng’: ‘Về tư tưởng truyện mang thiện ý sâu sắc, dù về nghệ thuật tự sự hơi khó tiếp cập; đặc biệt về tác dụng thời cuộc lúc này thì bất khả tranh nghị nên truyện nhận được sự thu hút từ dư luận và bạn bè quốc tế’. To nhất thì to nhất, có cho kẹo sếp của cả nhà xuất bản Nữ Nước Nam lẫn báo Văn Chương cũng phải ‘em chã… em chã…’ May, không thì bà chị và làng văn Vũ Đại này lại đổ tội oan là Trâu ghen tình tức văn, không cho truyện ấy vào. Nhưng thật tiếc, nếu in trong Mặt Biển thì truyện Đỗ Quyên sẽ nổi như giàn khoan 981 giữa Biển Đông, anh nhỉ?”


Không ít đoạn trong những trao đổi trên được viết giữa các cú làm tình động đất cùng cuộc rượu ngất trời giữa Thiết Ngôn và người tình nam Trương Du. Những khi chủ nhân của bàn phím mê mị là thời cơ xọc vào của bàn tay lông lá từ Cục Tình báo Hoa Nam.



3.8


Có vài dích dắc quanh Thư ngỏ của Chủ tịch Hội Văn sĩ Bắc Kinh gửi Tổng thư ký Hội Văn nghệ sĩ Hà Thành.

Thư đã phải ký thay bởi Phó Chủ tịch Hội , nhà văn Trương Duy. Lý do: dư luận được biết phút cuối trước khi thư được gửi đi thì Chủ tịch Hội, dịch giả Thiết Ngôn “bị rối loạn tinh thần nên ủy nhiệm cho phó của mình thay mặt”.

Ngoài ra, trong quá trình chuẩn bị Thư ngỏ, họ Trương từng có một phóng bút để Thiết Ngôn gửi Mỵ Châu với lời nhờ người sẽ nhận Thư ngỏ chỉ giáo và biên tập phóng bút. Không kể các phần liên quan đến những trích đoạn đã nêu ở Hồi 2, độc giả coi kỹ các đoạn dưới đây sẽ thấy trong đó nhiều mưu đồ ẩn hiện…


Phóng bút cho một Thư ngỏ dự tính gửi vào đầu tháng Tám


Chủ tịch Hội Văn sĩ Bắc Kinh gửi Tổng thư ký Hội Văn nghệ sĩ Hà Thành


Thưa nữ sĩ Võ Thị Mỵ Châu,


Thay mặt Hội Văn sĩ Bắc Kinh và nhân danh cá nhân, trước tiên tôi xin gửi tới nữ đồng chí Tổng thư ký (hay là ‘đồng chí nữ Tổng thư ký’ nhỉ, chỗ này tiếng Việt sinh động quá!) và các nam nữ đồng nghiệp Việt tại địa bàn thủ đô Hà Thành những tình cảm nồng hậu nhất, cùng lời cáo lỗi đã chậm hồi âm thư của Quý Hội mà Quý nữ sĩ Tổng thư ký đại diện đã gửi chúng tôi liên quan tới tình trạng Biển Đông, ồ xin lỗi biển Nam Hải, trong các tháng qua.


Tục ngữ Trung có câu ‘Chiếc chổi ngắn không quét được dài’. Cũng như các văn hữu bên đó là những ‘hạt bụi lóng lánh’, chúng tôi ở đây làm phận các ‘chiếc chổi hùng dũng’. Là thứ dân chỉ biết cứu cánh nghệ thuật, tôi tự cho phép mình không đề cập đến nội hàm của đề tài biển Nam Hải (đúng thế Nam Hải, không phải là Biển Đông).

Trong nhãn quan của những nhà hiện thực - trữ tình ở thời hậu hiện đại, chúng tôi cũng mong Quý văn hữu coi cái giàn khoan bạc tỷ (mà tôi không buồn nhắc tên riêng của nó) chỉ là một cánh bèo trên biển cả. Đại dương Nam Hải của chúng tôi trên đã từng và đang là mây trời, dưới đang và sẽ là những cánh-bèo-bạc-tỉ. Từ quê hương của hình tượng bèo dạt mây trôi với làn điệu dân ca thê thiết đệ nhất thiên hạ, nữ sĩ hiểu hơn ai hết?


Có khi lại hóa hay nếu chúng ta mạn đàm về một số trọng điểm văn hóa, văn nghệ Việt-Trung rồi Trung-Việt. Hãy cứ để giàn khoan, rồi Biển Đông của nữ sĩ và Nam Hải của tôi đi chỗ khác chơi!


*

Trước hết là nhân sự, là tổ chức.


Như Lênin của chúng ta từng nói: ‘Trong cách mạng có 3 vấn đề: tổ chức, tổ chức và tổ chức’. Tôi cũng như nữ sĩ, chúng ta làm văn chương. Chúng ta không làm cách mạng - việc đã hoàn thành bởi thế hệ tiền bối - nhưng vẫn theo phương pháp của tiền bối. Không biết tổ chức con người và tổ chức ngôn từ, không có văn chương!


Nói gần nói xa chẳng qua nói thật: thiệt tình chúng tôi chẳng hề muốn các ‘hiện tượng Nguyên Cơ Thạch’ xảy ra trong văn học tại Quý Hội mà nữ sĩ tài ba, bản lãnh và xinh đẹp đang cầm chịch hai nhiệm kỳ với tín nhiệm cao. Cũng may, không ít những tay bút ‘Nguyên Cơ Thạch’ dưới tầm quản lý của Quý Hội Hà Thành đang trôi dạt như bèo (dù bản chất sinh thể của họ không hề bèo tí nào) sang Văn hội Độc lập của thi lão công thần Nguyên Ngà. Nữ sĩ Tổng thư ký khỏe re như con bò kéo xe nhé! Chuyện nội bộ phương Nam, nhưng ngộ cũng thấy cái Văn hội Độc lập ấy đã làm được khối việc mà bên chính thống của nỉ thật ra muốn làm nhưng bất tiện. Lòng vả như lòng sung, ngộ hiểu.


Chưa hiểu hết; coi bài trên mạng BoVN mà phê bình gia Hoàn Hưng giả nhời phỏng vấn báo Đàng Trước, sẽ hiểu liền. Người hỏi người thưa, nhâm nhi nhấm nháp nhấp nháy hai chữ ‘độc lập’ khi luận về nguyên nhân khiến Văn hội đang bị nhà chức trách gây khó. Kể ra thì cũng hay, có dịp PR chính đáng cho đại sự chính nghĩa của mình. Kể vào thì bỉ nhân thấy không trúng hồng tâm. Ngày mai cụ Nguyên Ngà, bác Hoàn Hưng, cô Ý Nhị cùng tập thể Ban vận động Văn hội các vị thử hè nhau dỡ tạm hai chữ ‘độc lập’ khỏi danh xưng, xếp vào kho mà vỡn ôm chặt chủ trương giữ rịt mục tiêu như tuyên bố ngày 3 tháng 3 năm 2014 và cụ thể hóa hành động như trong bài phỏng vấn nói trên? Ngờ là Vũ Văn Cẩn thôi! Bác phê bình gia Hoàn Hưng nếu làm thơ chắc sẽ mộng mị lắm nhỉ, vì thấy bác cứ đoan quyết ‘chỉ có thể vì hai tiếng ‘độc lập’ nên bị khó dễ’. Đã biết thế, đã vì đại nghĩa ‘góp phần tích cực xây dựng và phát triển một nền văn học Việt đích thực, nhân bản, dân chủ, hiện đại; có thể đóng vai trò tiền phong trong sự nghiệp phục hưng văn hóa, phục hưng dân tộc mà lịch sử đang đòi hỏi’, sao các cụ các bác các cô không bắt chước truyền thống Việt sá gì xài tên xấu kiểu như cái Hĩm thằng Cún cho dễ nuôi? Này, giới văn bút Trung của ngộ đang mơ có những văn hội tương tự; để các hội đoàn chính tông hết phải lo hành chính sự vụ, chỉ còn lo viết các tác phẩm nhớn tương xứng tầm thời đại. Khi nào Tổ quốc cần và cũng gặp lúc bí chẳng viết được gì thì chúng ta chạy qua các diễn đàn, hội thảo (chẳng hạn như cuộc ‘Thoát Trung’ mà Văn hội Độc lập đang tiến hành). Thảo xong luận xuôi có thoát được hay không cũng mau trở về bàn văn nơi những tác phẩm nhớn tương xứng tầm thời đại đang chờ. Nhé?


Ta hãy chỉ đích danh. Khoanh vùng thời điểm xảy ra vụ giàn khoan, Hội Bắc Kinh chúng tôi thấy 2 trường hợp ‘Nguyên Cơ Thạch’ đang dưới tay Quý Hội Hà Thành: nữ văn sĩ Đỗ Quyên và nam thi sĩ Nguyễn Đinh Tú. Nay tạm chưa bàn về trường ca Hồn Phàm của Cậu Tú, nó chưa ra lò. (Biết đâu mai sách bị thu hồi như tiểu thuyết Rồng Gỗ của văn sĩ Vũ Ngọc Tiên?)


Nữ văn sĩ họ Đỗ có hai truyện Chuyện tổ quốc moving bất thành, Chuyện cái mũi khoan và bom dị bào, và từ đó - theo tin của cơ quan an ninh Trung - sắp chuyển thành phim Chuyện tình Trung-Việt Việt-Trung được sản xuất bởi một hãng điện ảnh đầu bảng thế giới. Sự phản cảm của chúng đã rõ rành rành như canh nấu hẹ, đặc biệt ở việc trong truyện có lực lượng tinh nhuệ Đặc công Đại Việt với Bom dị bào như một hình thức văn học khủng bố và hủy diệt hàng loạt độc giả.

Chúng tôi rất không hài lòng.


Tôi viết đến đây, BBC loan tin về vụ ‘laptop ngày tận thế’ của một phiến quân IS ở Iraq, Giáo sư Muhammad Alibaba, lưỡng khoa tiến sĩ hóa học và sinh học tại Đại học Chicago (đồng nghiệp của vật lý gia xuất chúng Ngô Bao Châu mà Quý văn hữu thường tự hào với tình đồng bào cao cả, như chúng tôi hơn 50 năm trước từng kiêu hãnh về nhị vị kiệt xuất Nobel Vật lý Lý Chính Đạo và Dương Chấn Ninh vậy). Nào, cùng đọc tài liệu bằng tiếng Ả Rập trong laptop để so sánh và thấy Bom dị bào Đại Việt mà nữ văn sĩ họ Đỗ tưởng tượng ác chiến ra sao: ‘Hỡi các thần dân của Chính phủ Hồi giáo! Cách phát triển vũ khí sinh học đang trong lòng bàn tay chúng ta. Vũ khí sinh học không quá tốn kém nhưng gây thiệt hại nhân mạng rất lớn. Ví dụ vi khuẩn dịch hạch là cái chúng ta làm được. Đọc 2-3 trang này sẽ có thể dùng để tấn công khủng bố các đám dân không có Đức tin, dù là người Mỹ hay Anh. Chỉ cần dùng lựu đạn loại nhỏ chứa bột vi khuẩn dịch hạch, ném cật lực vào vị trí đặt điều hòa không khí tại các nơi khép kín như tàu điện ngầm, trung tâm giải trí. Là xong!’


Trong văn chương Việt có nhiều điều huyễn mộng viển vông phi lý ở thời hiện tại mà lắm khi được Trời thương chúng trở thành hiện thực ở tương lai gần. Đó! Nửa thế kỷ trước, Hoa Kỳ từng chống mắt ra để thấy: kể từ lúc có câu thơ ‘Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” chỉ sau vài năm đã hiện ra độc nhất vô nhị trên hành tinh này một con đường mòn từ ‘thời kỳ đồ đá’ trở thành ‘thời kỳ đồ nhôm’ biến quân lực Hoa Kỳ thành ‘thời kỳ đồ bỏ’.


Không rõ các tỉnh thành khác thì sao, riêng văn sĩ Trung tại thủ đô Bắc Kinh chúng tôi phản đối tính phi lý của Đặc công trứng; phản đối tính vô minh của Bom dị bào; phản đối hình thức kỳ thị phân biệt huyết tộc tinh vi và cay độc đến thế. Thà cứ hủy diệt sạch sành sanh như bom hạt nhân, bom hóa học, bom sinh học khiến toàn nhân loại chết chùm thì đã đi một nhẽ. Lụt, lụt cả làng. Là phương ngôn sống tôi được thầy Đinh Gia Khanh dạy dỗ trong những năm làm phó tiến sĩ Việt học ở Hà Thanh đấy!


Cũng thoang thoảng thấy yếu tố nhân bản trong truyện của họ Đỗ (như việc Thúy MC tỉnh ngộ khiến viên đại úy rồi đại tá tình báo trong cô gần như thành kẻ đào ngũ mà trở về bản năng nữ tính Việt), song âm hưởng chủ đạo của truyện là trò tiểu bá trong văn chương.

Chúng tôi rất không hài lòng.


Ngoài hai trường hợp lớn như trên, còn không ít sáng tác nóng hổi về đề tài Trung-Việt Việt-Trung qua các tranh chấp vũ trang xưa nay và sau vụ Nam Hải 981. Chúng tôi sắp có trong tay toàn bộ bản thảo truyện dài đang nằm trong nhà in, mang tên Em Có Còn Gì Sau Cuộc Chiến của nam văn sĩ Hà Khánh Ninh.

Hai chương đã trích đăng trên tuần báo Núi Ngự tháng rồi với những câu huỵch toẹt, chẳng có ẩn dụ ẩn dẹo gì sất (tất nhiên gắn vào môi lưỡi nhân vật). Trích nguyên văn:

Từ năm 2012 bọn tà đảng Trung Cộng đã thành lập một đơn vị hành chính mới mang tên là thành phố Tam Sa gồm đảo Hải Nam của chúng với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của ta! Bọn chúng bảo đó là thành phố cực Nam của Trung! Cái ngụy quyền Tam Sa ấy vừa đã thông cáo cho biết khu trường học trên đảo Phú Lâm sẽ được xây cất trong 18 tháng!’;

Đối với Trung phải chăng cứ nện những hèo nặng tay hơn thì mới giúp nó tỉnh ra?’- ‘Theo chị Phương Ánh những hèo nặng tay hơn mà phía Việt cần ‘ra’ trong lúc này là gì?’ - ‘Khỏi suy nghĩ nhiều, Phương Ánh nói luôn: Một là phải đưa hắn ra Tòa án Quốc tế. Hai là đánh cho hắn một trận!’

Còn với việc Ủy viên Dương Khiết Trị đến Hà Thành với ‘4 điều không được làm’ thì:

Nữ ký giả Quỳnh Hường la lên: Ôi chao, tập đoàn tà đảng Trung Cộng! Bây chừ là thời đại nào và các người tự coi mình là ai mà hung hăng con bọ xít gởi sứ thần đến nước Nam ta để nói những lời ngang ngược đó?’

Chúng tôi rất không hài lòng.


Nữ sĩ còn nhớ dạo bên chúng tôi có một tẹo cái tập truyện thơ Ma Chiến Trường do thi sĩ Mạc Ngữ viết dở ẹc, thế mà cả dải đất hình chữ S nhảy lên đong đỏng. Kia, ta nhìn nhanh vào blog của văn-họa sĩ Nhật Tuân tuần trước:

Dù không nêu thẳng địa danh Việt, cuốn sách viết về ‘cuộc chiến phía Nam nước Trung tháng 2 năm 1979’ do Trần Trung Hảo dịch, nhà xuất bản Văn Chương in năm 2008, tái bản 2009 đã tạo đợt sóng phản đối ầm ầm trên mạng. Ý kiến đầu tiên là từ blog Người Ôm Gió ngày 22 tháng 2 năm 2009 với cái tít rất căng, ‘Sự khốn nạn của nền văn hoá Đại Việt lúc này!’;

Còn em Natasa người Nga gốc Việt viết trong blog với kết án nặng: ‘Nhà xuất bản Văn Chương ra sách ca tụng lính Tàu trong cuộc chiến tranh biên giới 1979!’;

Dịch giả Trần cũng bị cư dân mạng ném đá như thụi, nể tình đồng nghiệp tôi không nỡ trích ra những câu mà năm xưa dân Việt thường dùng khi nói tới Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh… À, tôi nghe đồn họ Mạc của chúng tôi bị xì trét quá phải về quê ở ẩn. Cũng phải thôi, viết như thế mà ẵm trọn giải Nobel thì thi nhân đại lục bắn đi không hết. Đúng như ký giả Tuấn Khánh đã quả quyết mà Nhật Tuân dẫn lại: Nhà văn có quyền ca ngợi dân tộc và quân đội mình, có quyền phủ nhận chủ quyền các đất nước khác. Đó là sứ mệnh công dân của một nhà văn. Song anh ta phải viết trong tinh thần của một công dân thế giới, phải biết văn học hóa sao cho chính xác bản chất của hiện thực chiến tranh.’


Về tham vọng xưng hùng xưng bá trong văn chương, bổ sung chắc chắn cho nhận định của chúng tôi là nhiều cố gắng vượt bậc và cũng phải nói là có khá nhiều thành tựu trong thập niên qua của Liên hội Nhà văn Đại Việt trong việc tô đậm dấu ấn ngàn năm của một ‘dân tộc thơ’ để trở thành đẳng cấp ‘cường quốc thơ’. Theo nhiều nguồn tình báo và phi tình báo, chúng tôi được biết đồng nghiệp phương Nam đang say sưa chuẩn bị một chiến dịch mang tên ‘Đại thắng mùa xuân văn học 2015’, dự tính kéo dài từ lễ Tết Nguyên Tiêu Ất Mùi bằng Ngày thơ Việt lần thứ 13 cho đến ngày 30 tháng Tư kỷ niệm 40 năm thống nhất sơn hà bằng một loạt các hình thức ‘khủng’ ở tầm vóc toàn cầu như Hội nghị Quốc tế Quảng bá Văn học Việt lần thứ 3, Liên hoan Thơ Châu Á-Thái Bình Dương-Phi-Mỹ Latinh lần thứ 2, và vài ba hội thảo khác đang trong vòng bí mật.

Còn nữa và xa hơn... Qua một tham luận của vị chuyên gia văn học so sánh là Phó giáo sư Nguyễn Quan Thiều, Viện phó Viện Văn học Quốc gia kiêm Giám đốc Trung tâm Truyền bá Văn học Việt ra Ngoại quốc, người ta thấy Đại Việt đang tăng tốc hậu hiện đại hóa nền văn học của mình để cao vọng một cách viển vông đến năm 2030 được thành ‘nhà nước ngôn ngữ’ theo tiêu chuẩn Liên Hiệp Quốc mà danh sách hiện thời chỉ có dưới 10 quốc gia. (Đến như đất nước Trung với văn hóa và ngôn ngữ già đời và to tướng đến vậy còn chưa được xét nữa là…).

Chúng tôi rất không hài lòng.


*

Nữ sĩ Mỵ Châu quý mến,

Bây giờ, chúng ta cùng nhau nhìn nghiêng theo vài luồng quan niệm đang nóng trong khảo cứu văn hóa dân tộc Việt. Mà xưa nay giữa con mắt bá tánh thì văn hóa Việt lại là… văn hóa Trung!

Công bằng, không phải vậy đâu. Đến như tôi yêu Tổ quốc Trung lắm lắm mà vẫn phải chịu phục Giáo sư Trần Quốc Vương của các bạn từng khu biệt rất đúng về văn hóa Việt trong sự đối sách với văn hóa Trung.

Tiền đề chuẩn nhất của Trần quân: ‘Từ trong cội nguồn, văn hóa Việt khác văn hóa Trung, tuy cả hai nền văn hóa cổ truyền ấy đều thuộc phạm trù văn minh nông nghiệp.’;

Kết luận rành rọt nhất của Trần quân: ‘Dù có giao tiếp và hỗn dung văn hóa Việt-Trung nhưng khuynh hướng giao tiếp và hỗn dung đó vẫn là Việt hóa chứ không phải là Trung hóa; và văn hóa Việt không khi nào là một bản sao chép từ văn hóa Trung.’;

Ví dụ sát dạ dày nhất của Trần quân: ‘Việt: ăn cơm, xôi: dùng đôi đũa; Trung: ăn bánh, cháo.’


Thế nhưng nhiều người Việt ưa xuề xòa mất cảnh giác ‘trái tim nhầm chỗ để trên đầu’ thấy gì na ná Trung-Việt Việt-Trung thì bảo không sao đâu lọt sàng xuống nia. Còn người Trung vốn khắt khe cực đoan luôn lấy mình là trung tâm, coi thiên hạ chạy trời không khỏi nắng Hoa Sơn, không thoát nước Hạ Thủy. Cả hai đều sai! Chỉ Trần quân đúng!


Vậy mà đến nay tôi mới thủng cái vấn đề vì sao mươi năm qua câu chuyện nguồn gốc dân tộc, văn minh của người Việt và người Trung lại sôi sùng sục trong các lò tư tưởng Việt. Đúng ra chỉ ở các lò ngoại biên. Tôi không biết các nhà dân tộc học Việt chính thống tự xử ra sao. Chỉ biết ngẫu nhiên, đúng dịp giàn khoan kéo vào kéo ra biển Nam Hải, tại Hà Thành ngàn năm văn vật của nữ sĩ Hàng Quạt đã bùng lên một cuộc hội thảo bất thành tại Trung tâm Văn hóa Ý, nhưng lại thành công với một chuỗi tranh luận trên mạng. Đó là về cuốn sách vừa ra lò từ nhà xuất bản Trí Thức: sách chuyên khảo mang tên Thủy Tổ Người Việt - Người Mường của học giả độc lập Tạ Đạo. Tất nhiên chúng tôi, bằng trách nhiệm công dân (là chính) và bằng lương tri khoa học (là phụ), phải tán đồng công trình đó chứ. Bên cạnh các phản bác sấm sét về nội dung lẫn phương pháp từ cả phía chính thống lẫn phi chính thống (với các tính từ mạnh như ‘phản dân tộc’, ‘ngụy khoa học’) thì tính độc đáo, chất nghiêm túc và sự kỳ khu trong phong cách học thuật của Tạ quân cũng được nhiều đồng nghiệp đồng bào khác tán thưởng dẫu kết quả của công trình là rất bất lợi cho người Việt lúc này và mai sau. Nể phục giới nghiên cứu Việt biết cách tỏ ra khách quan, tôi thấy mình không nên lạm bàn. Nhưng nữ sĩ cũng nên đọc nhanh hai nhận định gọn từ các gia chủ.


Nội dung cuốn sách: Nguồn gốc của hai nền văn hóa Đá mới Phùng Nguyên và Đồng thau Đông Sơn; sự tạo thành các nước Xích Quỉ, Việt Thường, Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt như là những quốc gia tổ tiên người Việt; qua đó làm sáng rỡ nguồn gốc người Việt-người Mường, hai tộc người vốn khác nhau từ 4.000 năm qua. (Lời nhà xuất bản)

Kết luận: Người Mường là chủ nhân văn hóa Phùng Nguyên, đến trước; còn người Việt hay Lạc Việt là chủ nhân văn hóa Đông Sơn, đến sau. Và cả hai đều là những di dân từ phương Bắc. (Tạ Đạo)


Sấm sét đã sinh ra từ câu sau cùng!


Càng thấu hiểu dân Việt bao nhiêu khi họ thường nhắc đến cái trường tồn của người Lạc Việt (với cuộc Hán hóa ngàn năm trước) và của người Việt hiện đại (trong sự thực dân hóa trăm năm mới đây) như điều kỳ diệu có một không hai trong lịch sử các tộc người trên thế giới, chúng tôi càng thông cảm bấy nhiêu trước quan điểm ngược lại với khuynh hướng chính thống từng được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận từ đầu thế kỷ 20 khi người Pháp cai trị hoàn toàn đất nước này.


Kết luận nổi tiếng của trường phái Viễn Đông Bác Cổ đã đóng đinh vào trước tác của các sử gia độc lập và quan trọng nhất (như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh…) và xuyên thấu đến nền sử học chính thống hiện đại:

Chúng ta đủ chứng cớ quả quyết rằng, người An Nam ngày nay là dòng dõi trực hệ của người nước Việt bị diệt năm 333, và tiên tổ ngàn xưa từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên đã ở tỉnh Triết Giang nước Trung ngày nay; rằng tiếng Việt vay mượn khoảng 70% từ tiếng Trung.’


Thế nhưng, hiện nay, luồng quan niệm ngược chiều đã cho rằng người Việt (có gốc là người tiền sử từ châu Phi qua biển Hồng Hải đến) 40.000 năm trước đã khai phá đất nước Trung rồi lan ra toàn châu Á với những chiếc rìu đá như công cụ ưu việt nhất của loài người thời ấy; rằng một khi người Việt mang đa dạng di truyền cao nhất trong 7 nhóm dân Đông Á thì đất Việt hiện nay từng là cái nôi của các dân tộc châu Á và cũng là nôi văn minh châu Á.


Hiền hữu Võ Thị Mỵ Châu, nàng có nhận ra đó là các luận điểm kỳ dị không? Điển hình và nồng thắm đến mức cực đoan trong mươi năm qua là 2 nhà nghiên cứu độc lập: Cung Đình Thành quá cố và Hà Văn Thúy - người đã, đang và sẽ ‘viết lại’ lịch sử dân tộc và đất nước Trung của chúng tôi.

Chúng tôi rất không hài lòng!


**

À, mới nhất, mấy tháng trước, có thêm vị thứ ba là Tiến sĩ Đỗ Kiên Cương đưa ra một giả thuyết mới nữa về nguồn gốc người Việt, khi sử dụng các chứng cớ nhân chủng học phân tử trong 20 năm qua và phát hiện năm 2012 về nguồn gốc mới của lúa nước thuần hóa.


Cứ theo Tiến sĩ Đỗ thì trong làn sóng thiên di thứ nhất, người Việt là hậu duệ của người hiện đại châu Phi với nước da đen nguyên thủy tới đất Việt hiện nay từ 40.000 năm trước; họ góp khoảng 20% vào vốn gien người Việt hiện tại. Người theo làn sóng thiên di thứ nhất chính là nguồn gốc chủ yếu của cư dân Đông Á. Rồi khoảng 30.000 năm trước, người thiên di thuộc làn sóng thứ hai men theo núi Himalaya tới miền bắc đất Việt hiện nay và nhiều nơi khác tại Đông Nam Á, cũng như tới Vân Nam, Quảng Tây (để hình thành người hiện đại đầu tiên tại Trung). Người theo làn sóng thiên di thứ hai góp khoảng 80% trong vốn gien người Việt hiện nay.


Giả thuyết của Đỗ Tiến sĩ đang tạo bàn tròn cãi cọ giữa tam vị: tác giả cùng nhị vị Hà Văn Thúy (vị này á, bàn nào bất kể tròn méo cứ dính đến nguồn gốc Việt là có mặt) và Lê Nguyên K. (mới xuất hiện).

Đả phá tanh bành luận điểm của học giả Tạ , Tiến sĩ Đỗ có 2 kết luận giống như 2 học giả Cung và Hà: Một, người Việt cổ đã tham gia vào làn sóng Bắc tiến của các cư dân nông nghiệp để tạo nên cộng đồng Đông Á ngày thêm đông đúc. Hai, bằng chứng phân tử và di truyền học chứng tỏ người Việt có tính đa dạng di truyền lớn nhất trong dân cư Đông Nam Á và cả vùng Đông Á; tức là họ nằm trong nhóm cư dân lâu đời nhất trên khu vực rộng lớn này.


Nữ sĩ thấy sao ạ? Cũng oai và oách đấy nhỉ! Còn về sự hòa huyết giữa người phương bắc (tổ tiên chúng tôi) và người Việt (tổ tiên của nữ sĩ), Đỗ Tiến sĩ bảo rằng nó chỉ góp phần nho nhỏ vào vốn gien người Việt hiện đại. Ông tiến sĩ đoán: sự hòa huyết đó chắc là chỉ xảy ra từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất, sau khi An Dương Vương Thục Phán nghe lời cô con gái rượu mê giai xúi dại làm mất nước năm 179 trước Công nguyên?

Chúng tôi rất không hài lòng.


Oái oăm là nền tảng khoa học của nhị vị Cung và Hà đã dựa trên công trình của chính những nghiên cứu gia người Trung là Giáo sư P. Chu cùng cộng sự tại Đại học Thanh Hoa. Được công bố năm 1998 về quan hệ di truyền của dân số Trung, công trình đó phủ nhận quan niệm cũ (người Trung tự sinh thành và tiến triển độc lập trên đất Trung) khi khẳng định: Loài người hiện nay có tổ tiên duy nhất ở Đông Phi, xuất hiện khoảng 170.000 năm trước; Nguồn gốc người Trung là từ Đông Nam Á di cư lên, và người Đông Nam Á đó cũng không hẳn tự phát sinh tại đấy mà lại đến từ châu Phi qua đường Nam Á 70.000 năm trước. Cũng thế: 50.000 năm trước người Đông Á di cư ra các đảo Đông Nam Á và rồi sang Ấn Độ; 30.000 năm trước, họ qua eo Bering chinh phục châu Mỹ.


Nữ sĩ chắc cũng nhớ, thật ra cách đây vài chục năm đã có bằng chứng khảo cổ học và địa chất ủng hộ quan điểm nói trên và làm lung lay nhiều thuyết tiền cổ đứng vững qua nhiều thập kỷ của thế kỷ 20 về sự tiến hóa các nền văn minh trái đất.


Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia nói rõ: nền văn minh Đông Nam Á thể hiện qua dòng ‘văn hóa Hòa Bình’ đã có rất sớm từ 15.000 năm trước Công nguyên, và không phải là kết quả của các chủng tộc khác từ Trung di cư xuống. Người Đông Nam Á cổ đã biết trồng cây này, làm đồ gốm này, đúc đồng sớm nhất thế giới này; tức là biết làm các vật đó trước mấy ngàn năm so với 3 khu vực văn minh khổng lồ nhất là Trung Đông, Ấn Độ và Trung. Tôi còn nhớ ý tưởng sau đây từng làm nức lòng dân Việt của nữ sĩ: từ 6.500 năm trước Công nguyên văn minh Đông Nam Á đã lan truyền đến các vùng khác trong đó có Trung, tức là văn hóa Long Sơn và văn hóa Ngưỡng Thiều đều là nối dài của văn hóa Hòa Bình. Mà thị xã Hòa Bình chỉ cách Hồ Gươm có 73 cây số! Hai chúng ta đã từng có những ngày đêm ‘thư giãn’ ở đó, nữ sĩ Tổng thư ký còn nhớ hay nữ sĩ Tổng thư ký đã quên?


Trong học vấn, Thiết Ngôn vốn không xỏ nhầm giầy người khác. Giầy dịch thuật và ngôn ngữ đã vừa vặn rồi. Dân tộc học, đây chẳng rành chút nào, nói thẳng là chí ghét. (Mấy lần quên kể: bạn gái đầu đời của Ngôn tôi thời sinh viên đã bỏ tôi theo một giáo sư dân tộc học!). Tôi kể các chuyện tung ra giả thuyết mới về nguồn gốc người Việt, người Trung chỉ vì chúng xảy ra gần vụ giàn khoan. Thế thôi. Chứ trong khoa học, các giả thuyết sinh ra chết đi, như trong văn học nghệ thuật với các trường phái. Hơi đâu mà để tâm cho nặng tim.


Trước khi xong vụ 3 nhà dân tộc học Việt tận tụy vì lịch sử giống nòi Việt là Tạ Đạo, Hà Văn Thúy (giàn khoan đã rút, Trung-Việt tạm đuề huề, nhưng hai bác này vẫn còn uýnh nhau trên mạng, vui lắm!) và Đỗ Kiên Cương, xin nói lại đôi chút kiến thức phổ cập. Để cho vấn đề nó được rõ rành rành như canh nấu hẹ…


Đến giờ phút này, chưa kịp xem phần tiếng Trung, bên tiếng Việt của Từ điển Wikipedia tôi chưa thấy các khảo cứu của 3 bác đó được bổ sung vào 2 hạng mục “’Người Việt’ và ‘Nguồn gốc các dân tộc Việt’.

Vẫn đang trơ gan cùng tuế nguyệt nơi đây 3 giả thuyết chính về nguồn gốc người Việt, dựa trên 2 quan điểm bản địa và thiên di.


Theo thuyết thiên di, một số học giả Pháp cho rằng người Việt xưa đã phát tích từ giống gốc Mông Cổ ở xứ Tây Tạng dọc theo sông Nhị Hà tràn xuống miền bắc và miền trung của đất Việt ngày nay; (tuy nhiên trong các năm qua nhiều kết quả từ khai tích, khảo cổ và sử sách cho thấy thuyết này sai lầm).

Cũng theo thuyết thiên di, từ sử sách hai nước Trung-Việt, giả thuyết khác được công nhận rộng rãi nhất: người Việt cổ có gốc từ hạ lưu sông Dương Tử tới vùng Bắc Việt gồm nhiều nhóm gọi chung người Bách Việt. Khi người Hoa Hạ tràn xuống chiếm lãnh thổ, các nhóm này bị đồng hóa dần với người Trung. Chỉ duy nhất nhóm Lạc Việt ở miền Bắc Việt tồn tại làm nên tổ tiên của người Việt hiện đại.


Theo thuyết bản địa, trong đó có nhà dân tộc học Pháp L. Finot và nhà khảo cổ học Việt Hà Văn Tấn, thì người từ xứ Ấn chạy tới quần đảo Indonesia rồi vòng lại bán đảo Mã Lai, Thái Lan đến định cư tại đồng bằng Bắc Bộ và hợp với giống Mongolian từ Tây Tạng kéo xuống để sinh hạ ra người Việt cổ.


* *

À nữa, với nghiên cứu gia Hà Văn Thúy, tôi nghe các sếp lớn nói Tổng cục An ninh văn hóa Trung vừa bổ sung một văn bản mới vào hồ sơ mật. Bài này phải nói là thú vị. (Thì cũng từ lấy từ trang mạng xuống, mật mỡ gì đâu nhỉ? Vào vanhoanghean.info.vn gặp liền.) Tiện, dẫn lại cho nữ sĩ tỏ. Tôi rút gọn, lược các chỗ chuyên môn sâu và không kiểm duyệt các chỗ nhạy cảm Trung-Việt Việt-Trung.


‘Tường trình về nẻo đường 14 năm ngậm ngải tìm trầm - Nguồn gốc dân tộc Việt:


Gần 45 năm trước, quyết định bỏ cái nghề vi trùng học được đào tạo đàng hoàng ở nước bạn Liên Xô, bắt đầu cầm bút viết văn tôi nhủ đáy lòng đầu tim: Muốn thành nhà văn chân chính phải tìm hiểu lịch sử dân tộc từ cội nguồn; còn muốn đoạt giải Nobel, bét ra cũng phải thấu tường lịch sử nước nhà 500 năm qua.

Không hài lòng với các tài liệu chính thống cũng như không chính thống mà tất cả đều theo thuyết của Viễn Đông Bác Cổ, tôi cảm thấy xấu hổ và không thể tin tổ tiên của tộc Việt mình không chỉ là dân Tàu lai lại còn phạm tội tổ tông diệt chủng sắc tộc tiền nhiệm là dân bản địa Nguyên Đông Dương.


Thế rồi một ngày đẹp trời của năm 2000 - một thiên niên kỷ mới của nhân loại và biết đâu cũng là một kỷ nguyên khai minh nguồn gốc dân Việt - vô tình tôi coi thấy một đoạn tin nói rằng: loài người chỉ có quê hương duy nhất là Đông Phi và người tiền sử từ châu Phi theo ven biển Nam Á tới Đại Việt từ 70.000 năm trước.

Khi ấy đang ở Cà Mau, đêm tôi nằm mơ cầm bài báo chạy tuốt ra tận ngoài Hà Thành tới hồ Hoàn Kiếm và reo to: ‘Ơ-rê-ca! Độc lập dân tộc đây rồi! Cơm áo là đây!’ Tâm trí tôi tỏa sáng, dạ bảo bụng: nếu thực vậy thì phát minh này không chỉ làm chao đảo lịch sử phương Đông mà còn biến đổi thân phận dân tộc Việt. Nhờ ông bạn Gu Văn Gồ tốt bụng và thông minh, tôi xác minh thông tin trên là tin cậy.

Rồi sau 15 phút suy nghĩ, tôi vứt thẳng tưng vào ngăn kéo tập bản thảo tiểu thuyết dang dở và kỳ vọng ứng cử viên Nobel, đoạn ra bàn thờ song thân thắp hương nguyện dồn góp hết tâm sức, thời gian, tài sản, thậm chí cả hạnh phúc gia đình nếu cần, vào công cuộc tìm nguồn gốc dân tộc.


Trong 14 năm, như độc giả cũng biết ít nhiều, tôi cho xuất bản 6 đầu sách: Tìm Về Cội Nguồn Văn Hóa Việt (2004), Con Đường Tìm Lại Cội Nguồn (2006), Về Cội Nguồn Bằng Di Truyền Học (2008), Người Việt Là Ai (2009), Viết Lại Lịch Sử Trung (2011), Hành Trình Lịch Sử Văn Hóa Việt (2014). Bốn cuốn đầu đều của nhà xuất bản Văn Học Dân Tộc, đến 2 cuốn sau thì cạn tiền, may có Amazon nó phát hành miễn phí trên liên mạng không thì công toi.


Bản tường trình này là kỷ niệm 14 năm của đêm mơ ‘Ơ-rê-ca!’ từ Cà Mau chạy một mạch về Thủ đô, như một niềm tri ân những đồng nghiệp, độc giả từng cộng tác và ủng hộ cũng như những vị phê phán, bài bác.


Bốn câu hỏi trong 14 năm tôi từng đặt ra: 1. Tộc người đầu tiên hiện diện trên đất Đại Việt là ai? 2. Vào khoảng thời gian nào? 3. Họ từ đâu tới? 4. Việc tiến hóa, di chuyển thế nào để trở thành người Việt chủng Mongoloid phương Nam ngày nay?


Với tôi chỉ câu hỏi đầu là có sẵn lời đáp: Từ cuối thế kỷ 20 chúng ta có kết quả rằng, thoạt kỳ thủy 2 đại chủng Australoid và Mongoloid có mặt trên đất nước ta. Từ khoảng 30.000-4.500 năm trước, duy nhất người Australoid tồn tại. Nhưng từ 4.500 năm trước, người Mongoloid xuất hiện trở lại và chiếm đa số dân cư, trong khi đó, người Australoid dần biến mất. Như vậy, qua khảo cổ và cổ nhân chủng học, hiện nay chúng ta chỉ biết thực trạng dân cư Đại Việt và Đông Nam Á từ khoảng 30.000 năm trước tới hiện nay.

Nhấn mạnh: theo tôi thấy, chính vì chưa trả lời được 3 câu hỏi cốt yếu trên mà từ những năm 1970, nền khoa học nhân văn Đại Việt bị khủng hoảng.


Có 3 nghiên cứu chính được công bố trong 15 năm qua giúp tôi xây dựng giả thuyết của mình. Đó là công trình Quan Hệ Di Truyền Của Dân Cư Trung của nhóm Giáo sư P. Chu; sách Cuộc Hành Trình Của Loài Người của J. Wells.; và công trình Rời Địa Đàng Chiếm Mặt Đất của T. Oppenheimer. Cả 3 nhóm tác giả đều khẳng định con người xuất hiện đầu tiên tại Đông Phi khoảng 160.000-180.000 năm trước.

Kết hợp nhiều nghiên cứu khác, tôi mạnh bạo đề xướng luận điểm mới toanh như sau về nguồn gốc tộc Việt: 70.000 năm trước, hai đại chủng Australoid và Mongoloid từ châu Phi theo ven biển Nam Á tới thềm Biển Đông của Đại Việt. (Nhấn rất mạnh: Biển Đông của Đại Việt!). Tại đó họ giao lưu hòa huyết sinh ra 4 chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, mà người Lạc Việt Indonesian làm đầu đàn về ngôn ngữ, xã hội… Rồi khoảng 50.000 năm trước, người từ Đại Việt di cư ra các đảo Đông Nam Á, sang Ấn Độ, Miến Điện... Đến khoảng 40.000 năm trước, người Việt đi lên chinh phục Trung, và 30.000 năm trước qua eo biển Bering chiếm lĩnh châu Mỹ. Nhấn tương đối mạnh: Giáo sư Chu và các vị khác chỉ nói về ‘người Đông Nam Á’ nói chung, tôi nói về ‘người Việt’ cụ thể.


Thế là 3 câu hỏi đầu đã được trả lời. Hy vọng ít tháng tới tôi sẽ có thể cập nhật về vấn đề đã nêu trong sách: Vì sao một thời gian dài người Mongoloid biến mất; từ đâu và lý do gì khiến người Mongoloid trở lại vào thời Kim khí để thành dân cư Đông Nam Á hiện nay?


Về nguồn gốc người Hoa Hạ. Đây là kết quả thống khoái của tôi. Xưa nay, người Trung cho rằng tổ tiên mình là người Hoa Hạ. Thế nhưng 2 câu hỏi tiên quyết người Hoa Hạ là ai, hình thành sao vẫn còn là câu hỏi.

Giả thuyết của tôi: sau cuộc xâm chiếm phía nam sông Hoàng Hà lập nhà nước hoàng đế, người Mông Cổ hòa huyết với dân bản địa Mongoloid phương Nam, sinh ra nhóm người tự gọi là Hoa Hạ. Do giao lưu được hai nền văn minh, Hoa Hạ trở thành lớp người ưu tú cai trị xã hội và dựng ra thời kỳ hoàng kim trong lịch sử Trung từ Nghiêu, Thuấn… đến Thương, Chu... Do số lượng ít lại chung sống với người Việt đông đúc, người Hoa Hạ dễ dàng được Việt hóa cả về huyết thống lẫn văn hóa. Trong hơn 2.000 năm, các triều đại Hoa Hạ chỉ chiếm vùng đất nhỏ ở lưu vực Hoàng Hà và bị vây quanh bởi các bộ lạc hay quốc gia Việt: người Tây Nhung, Ba Thục, Đông Di và nhà nước Văn Lang ở nam Dương Tử. Khi nước Văn Lang tan rã, các nước Việt, Ngô, Sở xuất hiện và xung đột với các nước Thương, Chu… Cuối thời Chiến quốc, các bộ lạc Tây Nhung người Việt lập ra nhà Tần, diệt lục quốc và xây dựng vương triều Tần. Từ khi nhà Chu bị diệt, tầng lớp Hoa Hạ hết vị trí lãnh đạo và hòa nhập trong cộng đồng Việt đông đảo của vương triều Tần. Thủ lĩnh người Việt nước Sở là Lưu Bang đã diệt nhà Tần, lập vương triều Hán. Trên thực tế, từ thời Tần-Hán, đại đa số dân Trung là người Việt. Dù không có quan hệ huyết thống với hoàng đế nhưng vì muốn hưởng hào quang của người Hoa Hạ trong quá khứ, nên các vương triều Trung về sau vẫn tự nhận là Hoa Hạ.


Sau cuốn thứ 4, tôi cứ tưởng đã thỏa đáng với 4 câu hỏi lớn và có thể yên tâm quay về với các trang văn ngóng chờ suốt 45 năm. Thế nhưng, cũng vào một buổi chính ngọ, bỗng có cơn gió phương bắc bất ngờ làm tôi chóng mặt, ngất xỉu. Nằm trong giường bệnh, tôi chợt tỉnh ra khi thấy có thể dùng cội gốc lịch sử dân tộc Việt để hé ra bí ẩn của lịch sử Trung và nguồn gốc người Hoa Hạ.

Thế là cuốn Viết Lại Lịch Sử Trung được thai nghén, rồi ra đời. Tên cuốn sách nghe có vẻ ‘hách’. Tôi phải làm việc khốn khổ khốn nạn với các nhà biên tập mới giữ nguyên được. Đúng là phải viết lại. Trả cho César thì tôi không cần biết, nhưng hãy trả cho tộc Việt những gì của tộc Việt. Lạ lùng là ở chỗ dẫu có tới 24 bộ quốc sử, thế nhưng người Trung đương đại cũng cóc thèm biết tổ tiên của họ là ai, tiếng nói, chữ viết, nền văn hóa vĩ đại của họ từ đâu đến. Lần đầu tiên nói với họ những điều như vậy, với cuốn sách này. Thưa vâng, lần đầu tiên và với cuốn sách này.

Cuối cùng, tôi xếp lại hồ sơ sử Trung - sử Việt bằng cuốn thứ 6, với Lời mở:


Cùng Quý độc giả,

Đây đang là sách sử chưa từng thấy của tộc Việt. Không phải 4.000 năm như thường nói trong sách giáo khoa, hay 5.000 năm với các nhà khảo cứu. Mà nó được khởi đầu từ 70.000 năm trước - khoảng thời gian các nhóm người Homo Sapiens từ châu Phi lần ven biển Nam Á đặt chân vào Đại Việt. Rồi từ ‘địa đàng phương Đông’ ấy, người Việt lan tỏa ra Đông Nam Á, tràn ngang sang đất Ấn Độ, và quan trọng nhất là họ đã tiến thẳng lên khai khẩn vùng đất bao la hiện nay có tên là Trung để tạo ra ở đó nền văn hóa nông nghiệp vĩ đại.

Không chỉ tiếng nói Trung hiện nay được sinh ra từ chủ thể là tiếng Việt cổ, mà cả chữ tượng hình Trung cũng từ gốc chữ tượng hình của người Việt cổ. Các kho tàng Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Nhạc, Kinh Lễ tuốt tuồn tuột do người Việt cổ sáng tạo; cả thuyết Âm dương ngũ hành Kinh Dịch cũng made-in-Viet-co luôn. Những gì đẹp đẽ nhất của văn minh Trung đều được sinh thành bởi văn hóa Việt! Đấy là phát kiến vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại vào đầu kỷ nguyên này.

Vậy nên, cuốn sách trong tay Quý bạn không chỉ thay đổi lịch sử phương Đông mà còn dự phần làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt.

Tin rằng đó sẽ là võ khí vô địch giúp dân tộc Việt tự giải phóng khỏi cái bóng Trung không chỉ về văn hóa, lịch sử…


Hà Văn Thúy cẩn bút’

Chúng ta còn nhiều việc khác. Thôi, hẹn hội ngộ Hà Tiên sinh của tộc Việt của nữ sĩ! Thật ra, tôi cũng định khi nào bang giao Trung-Việt Việt-Trung tái hồi hữu hảo, sẽ tìm đường xuống miệt dưới Cà Mau hầu chuyện Tiên sinh. (Sẽ không phiền nữ sĩ tháp tùng đâu. Dạo dịch kịch thơ Cánh Đồng Vô Tận ra tiếng Trung, tôi cũng kịp mang chút thâm tình cùng nữ sĩ Nguyên Ngọc Tư ở đó rồi…). Muốn thưa trước 2 điều cùng nhà ‘dân tộc Việt-Trung học’ Hà Văn Thúy, e khi gặp sẽ bị trễ: a. Viết Lại Lịch Sử Trung chắc sẽ còn tập 2, tập 3. Nếu như Tiên sinh vẫn còn viết bằng ‘đôi mắt hình viên đạn’ thì độc giả sẽ đọc bằng... hai nắm đấm! b. Thật tiếc ngành dân tộc học không có giải Nobel, Tiên sinh nên sớm quay về nghiệp viết văn đang chờ. Với kiến thức và khám phá cội nguồn dân tộc tới những 70.000 năm, gấp 500 năm biết bao nhiêu lần, khôi nguyên giải Nobel văn học không thể thoát khỏi tay Tiên sinh ngay sau tập truyện đầu.


Thế đó! ‘Chung quy chỉ tại Vua Hùng’. Đến mệt cho gốc gác tổ tiên chúng ta, nữ sĩ ạ. Chung quy chỉ tại Vua Tần…


**

À cuối cùng. Hứa là cuối cùng. Sẽ không à uôm gì nữa.

Ngoài 4 nhà dân tộc học Việt độc lập kể trên, trong số hơn một tá sử gia Việt độc lập nghiên cứu về Hoàng Sa - Trường Sa đã ‘nhập kho’ danh sách cần quan tâm của Tổng cục An ninh văn hóa Trung, tôi còn dành thiện cảm đặc biệt với Thạc sĩ Phạm Hoàn Quân. Ở cách thức tiếp cận vấn đề rất độc lập của nghiên cứu gia rất độc lập ấy.

(Bộc bạch ra đây, dễ bị đồng bào mình coi là ‘phản động’. Song đôi khi yếu nhân như tôi - xin lỗi vì sự tự hào cá nhân - cũng cần ‘phản động’ ở những gì mình không ‘phản’ thì nó đã ‘động’ rồi, nếu sự bộc bạch tạo ra lòng tin nơi đối phương. Nữ sĩ khỏi lo, ‘mấy chú Ba Tàu’ chúng tôi ‘thằng nào cũng như thằng nấy’ có đủ 36 mánh chước xử sự.)


Khác với hầu hết sử gia Việt chỉ tìm hiểu từ lịch sử Đại Việt để chứng tỏ chủ quyền của nước này với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Phạm quân thì lại sục sạo mọi ngõ ngách lịch sử Trung để khẳng định ‘mọi vương triều trong quá khứ của Trung, từ thời nhà Hán đến thời nhà Thanh, chưa hề cai quản và thiết lập chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa cũng như trên vùng biển phía Đông Đại Việt hay còn có thể gọi là vùng biển Đông Nam Á’. À, có nhà báo Việt nọ khi tung hê hướng nghiên cứu này lại bảo ‘dùng sách Trung để chống Trung’. Thế là trật ý đồ của Tiên sinh: dùng trung dung để chống Trung. Ngay ở cách định danh, Phạm Thạc sĩ quả là cao minh. Chẳng sợ đồng bào Việt coi mình là ‘phản động’ khi cố tình không gọi Biển Đông, mà nói trại đi thành ‘biển phía Đông Đại Việt’ hay ‘biển Đông Nam Á’. Trung dung!


Cuốn sách mới nhất của họ Phạm mang tên Hoàng Sa - Trường Sa, Điều Nghiên Từ Sử Liệu Trung. Hai chúng tôi đang phải đọc ké hồ sơ của bên tình báo văn hóa. Rách việc lắm! Khi nào đi thực tế Trường Sa về, nữ sĩ tiện tay mua giùm tôi 2 cuốn nha (một cho tôi, một cho phó Trương. Hi hi... Đừng ‘ghen’ mà mất xinh…). Cảm ơn trước!

Nghe nói tác giả đã dành trọn 10 năm kiên trì chí hạnh âm thầm ngậm ngải tìm Hoàng Sa - Trường Sa trên 24 bộ sử chính thống suốt 5.500 năm hình thành đất nước Trung, để dựng nên pho sách của mình: thiết thực và quan trọng; khác thường và can đảm; khách quan và khai phá. Bẩm sinh tôi rất ngán các tư liệu lịch sử rối rít như lông tóc gái châu Phi cùng mớ bản đồ loằng ngoằng như địa đạo Củ Chi. Nhưng bằng hành văn trong trẻo, diễn ngôn minh bạch, luận cứ vững vàng, cuốn sách đã lọt vào cặp mắt xanh của tôi để rồi tiện thể lọt luôn sang cặp mắt thâm (hay là ‘mắt đen’ nhỉ; vì với quần đen của đàn bà thì tôi thấy người Việt gọi là ‘quần thâm’?) của Cục Tình báo Hoa Nam.


Về kết quả, nghiên cứu gia họ Phạm cũng đi tới 2 luận điểm na ná như 1001 nghiên cứu gia Việt và 101 nghiên cứu gia quốc tế cùng dăm ba nghiên cứu gia Trung ‘phản động’:

1. Ranh giới cực nam của Trung trong suốt thời phong kiến kết thúc tại Hải Nam, chứ chẳng thể nào chạy tít hút con mẹ hàng lươn xuống tận Hoàng Sa - Trường Sa trong vùng biển Đông Đại Việt;

2. Các bộ địa phương chí nào đã xác nhận gì đó về biển Đông Đại Việt cũng đều chẳng có cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa trong toàn bộ lịch sử bản đồ, địa đồ hành chính Trung.


Từng có phương pháp khảo cứu tương tự và đi trước Thạc sĩ Phạm Hoàn Quân hàng chục năm, Vương Lang Thị Thánh, nữ Giáo sư hàng đầu chính thống (nghĩa là ‘không phản động’) về lịch sử trung cận đại Trung - từng là đàn em văn nghệ của ông già tôi - phải gọi tôi đến tư gia chỉ để than: ‘Trời đã sinh ra Thánh, sao còn sinh ra Quân?’


*

Đã đến lúc Thư ngỏ vào những lời chót.


Tất nhiên giữa văn nghệ sĩ, chúng ta chỉ muốn nói cho nhau những gì mỹ hảo nhất như một đặc ân của nghệ thuật ngôn từ mà duy nhất giới chúng ta được sở hữu.

Hiền hữu Tổng thư ký rành quá mà, dù dưới gầm trời nào trong thể chế nào, chúng ta nếu không là cái đinh ốc thì cũng là cục… phân (Xin lỗi.) Chúng tôi không hề muốn tái diễn ngôn kiểu như ‘Đứa em hoang đàng Hội Văn nghệ sĩ Hà Thành sớm quay bút trở về’, hoặc ‘Bốn điều Quý Hội Hà Thành nên làm’. Càng không ‘Tiếp tục cảnh báo văn nghệ sĩ Hà Thành cần kìm bút bên bờ vực thẳm, từ bỏ dã tâm’, hoặc ‘Văn nhân Hà Thành khư khư cố chấp, càng đi càng xa trên trang viết sai lầm’. Không, Thiết Ngôn không phải là Dương Khiết Trị. Văn học không thể thành ngoại giao, không thể làm quân sự! Trường văn trận bút không thể giết hại con người!


Sau hết, xin gửi tới nữ đồng chí Tổng thư ký (hoặc ‘đồng chí nữ Tổng thư ký’ thì cũng thế) lời chào trân trọng cùng lời chúc tập thể nam nữ văn nghệ sĩ Hà Thành hành hiệp trên nhiều tác phẩm nhớn.


Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý…

Thân kính


Thiết Ngôn

Dịch giả, Ngôn ngữ gia


Tái bút: Dẫu thế nào, hỡi toàn thể văn hữu Việt, các bạn hãy đợi đấy!”


Toàn bộ phóng bút trên do bàn tay lông lá của Hoa Nam Tình Báo xọc vào dẫn độ. Thì cũng phải thôi…


... CÒN TIẾP ...


.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Vancouver Canada ngày 03.7.2015.