Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



BẤM ĐỐT NGÓN TAY





N ắng quái chiều đổ xuống cánh đồng trơ gốc rạ, gò đống nhấp nhô. Gió Tây thổi khói lửa, tàn tro bay loạn. Lửa đốt đồng như con rồng khổng lồ cuồn cuộn bay, trong nắng ngột ngạt. Xa xa, vài chiếc máy cày lật lên những luống đất nâu, tỏa mùi cỏ cháy hăng nồng...

Trên sườn đồi tím hoa sim, lũ trẻ chăn trâu đánh trận giả. Các “tướng” cưỡi trâu reo hò đuổi “ giặc” tháo chạy về phía bờ sông. Quang cảnh lửa khói, xen tiếng nổ từ chai lọ đựng thuốc diệt cỏ, trừ sâu vương vãi trên đồng gặp lửa nổ đì đùng như súng trận. Vì nóng và phấn khích, mặt các “ chiến binh” đỏ gay mồ hôi nhễ nhại vẫn say mê đuổi “giặc”. Lạ thật. Không biết bao thế hệ trẻ con Việt Nam tập đánh “ trận” ? Phải chăng, đất nước này luôn đối mặt với giặc ngoại xâm, buộc các em quen trận mạc từ thời niên thiếu?


Tôi lặng lẽ xem hai bên bầy trận hồi lâu, lựa lời hỏi tốp “lính” đang phục kích “địch” đường vào nhà anh Thành. Một cháu nhanh miệng trả lời: Nhà ông Thành bên cây đa to ở cổng làng kia. Nhưng đóng cửa. Chắc ông ấy vào bệnh viện.

Vì sao vậy cháu? Tôi buột miệng hỏi. Cậu bé khoảng mười hai, mười ba tuổi lưng đeo vòng lá ngụy trang, tay cầm ống nứa gọi là “súng AK”. Cu cậu buồn bã trả lời: Cách đây hai mươi ngày, thằng Hùng con ông Thành, với ba bạn lùa trâu trên núi vướng mìn, chỗ cắm cờ đỏ kia. Một con trâu chết, bốn bạn bị gẫy chân tay, lòi ruột sợ lắm... Làng cháu nhiều người đi chăn trâu, đạp phải mìn trên đồi kia kìa.


Tôi nhìn lên đồi theo tay cậu bé chỉ, những lá cờ đỏ cảnh báo sự nguy hiểm khu vực còn nhiều bom, mìn sót lại trong chiến tranh mà ái ngại. Dẫu cuộc chiến đã lùi xa. Bao người chết, bị thương trên ruộng đồng, nương rẫy vì bom, mìn Mỹ cài trong lòng đất.

Một số người vì cuộc mưu sinh săn lùng đào bới bom mìn, đạn pháo lép... tháo vỏ lấy thuốc nổ. Đùa bỡn với tử thần chết tức tưởi, hoặc tàn tật suốt đời. Bọn trẻ đang xem các bạn đánh trận giả, có mấy em cụt chân tay, hỏng mắt... vì bom mìn, để lại bao khó khăn cho gia đình và xã hội. Nhìn các cháu trên mình đầy thương tích xót xa, đau đớn biết chừng nào!

Bộ quốc phòng cho biết: “Muốn rà phá khoảng tám trăm ngàn tấn bom mìn, chất độc hóa học, làm trong sạch môi sinh, môi trường trên ba mươi phần trăm diện tích nước ta, phải tiêu khoản tiền khổng lồ, với ba mươi năm rà phá. Nếu có sự cộng tác của Hoa Kỳ và các nước đồng minh của Mỹ, tham chiến tại Việt Nam mới khắc phục được hiểm họa chết người này!”


Hàng triệu tấn bom san phẳng bao xóm làng, thành phố, hệ thống cầu cống, những trọng điểm giao thông, khu công nghiệp quan trọng... Tương đương hàng chục quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Nhật Bản thế kỷ trước. Hàng chục triệu quả bom, mìn sót lại trong lòng đất. Hàng chục tấn thuốc diệt cỏ, chất độc màu da cam gây hại nhiều thế hệ. Tội ác chiến tranh xâm lược, hay nền“văn minh” của hợp chủng quốc Hoa Kỳ?!

Chúng ta hy vọng khi Việt Nam và Hoa Kì nâng mối quan hệ song phương lên tầm chiến lược, người Mỹ cùng bạn bè quốc tế hỗ trợ Việt Nam nhanh chóng khắc phục hiểm họa này !

Trên hành tinh có nơi đâu chịu nhiều hi sinh, gian khổ như mảnh đất hình chữ S. Hàng chục triệu người chết trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc chống Pháp, chống Mỹ. Chiến tranh biên giới Tây Nam cứu dân tộc Cam Pu Chia thoát nạn diệt chủng. Chiến tranh biên giới phía Bắc, ngoài biển đảo bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trước sự xâm lược của anh bạn láng giềng, núi liền núi sông liền sông. Hàng triệu thương binh, bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam tàn phế... Tội ác chiến tranh khủng khiếp này do ai gây ra, nếu không phải là bọn chúa đất, âm mưu thôn tính, chiếm đoạt tài nguyên Việt Nam !


Miên man suy nghĩ hậu quả chiến tranh. Tôi bước vào ngõ nhà anh Thành lúc nào không hay. Nghe chó sủa, một cậu bé lùn tịt, dị dạng: đầu tròn như quả bí ngô không một sợi tóc, hai tròng mắt lồi, mũi tẹt, miệng rộng quá cỡ ra đón khách:

- Ông hỏi ai ạ?

- Chào cháu. Đây có phải nhà anh Thành không?

- Đúng ạ. Nhưng bố, mẹ cháu đi vắng. Mời ông vào nhà. Bố, mẹ cháu sắp về.

- Cháu tên gì, bao nhiêu tuổi, học lớp mấy, mà ngoan quá. Tôi xoa đầu và ôm hôn cháu. Cơ bắp thằng bé nhũn như con sứa. Tôi cay đắng nhận ra nạn nhân chất độc da cam.

- Cháu tên là Công, mười bốn tuổi, đang học lớp bảy thưa ông.

- Trường cháu học cách nhà xa không. Hằng ngày tự đến trường, hay bố mẹ đưa đi học?

-Trường cách nhà hai cây số. Hằng ngày em Hùng lai cháu, hai anh em học cùng lớp. Những hôm bố và em bận, cháu được các bạn cùng xóm giúp đỡ.

- Thế thì tốt. Cháu gắng học giỏi, thành người có ích cho đời!

- Vâng.


Con mực kêu hư hử, mừng quýnh chạy ra ngõ đón chủ. Vừa lúc anh Thành dựa chiếc xe đạp vào cây rơm, cạnh chuồng trâu. Xởi lởi:

- Ôi, chú Khiêm! Chú đến chơi mà không phôn cho cháu ra đón cuốc bộ vào nhà, nắng nôi vất vả thế này. Mời chú vào nhà. Trời nóng quá chú nhỉ. Hôm qua nhiệt độ giữa trưa lên ba mươi chín độ/ c. Theo đài khí tượng dự báo: Trưa nay nhiệt độ lên bốn mươi độ/ c. Những chân ruộng cao cá cờ chết nắng, cua bò lóp ngóp vào bờ cỏ tránh nóng. Đi một lúc có nồi canh cua...

Ông Khiêm nắm chặt bàn tay chai sạn của Thành, ngỡ mình đang cầm tay người đại đội trưởng biệt động, từng sát cánh bên nhau những năm khói lửa ở miền Đông Nam Bộ. Tiếng nói, dáng người Thành giống cha mình như lột.

Ông Khiêm lại bàn thờ thắp hương. Đứng trước chân dung đại đội trưởng, ông nghẹn ngào khấn: “ Lạy vong linh anh Thắng, sống khôn, chết thiêng. Nhân trở lại thăm chiến trường xưa, và di tích Sơn Đòng, em vào nhà thắp hương cho anh. Mong anh phù hộ cho con cháu, bạn bè khỏe mạnh, người lớn có công ăn việc làm, ổn định đời sống, xóa đói giảm nghèo, trẻ nhỏ học hành tiến bộ!”

Ông khiêm lau mắt kính, nhớ người đại đội trưởng nổi tiếng gan lỳ, thọc sâu vào hang ổ quân thù diệt ác phá kềm. Nghe tên ông, kẻ thù khiếp đảm, nơm nớp đề phòng... Ngắm di ảnh, hình như đại đội trưởng Thắng nhìn ông Khiêm mỉm cười... Làm ông nhớ trận đánh táo bạo giữa hang ổ kẻ thù, bèn hắng giọng kể lại cho hai cha con Thành nghe: Chúng tôi nhận lệnh: “ Diệt tên đồn trưởng ác ôn nhiều nợ máu!” Sau mấy ngày điều tra nắm quy luật hoạt động của địch, được cơ sở cho biết: “Tên đồn trưởng thường thay đổi chỗ ngủ. Nhưng, hắn vẫn đến số nhà 75 mây mưa với tình nhân, không rõ ngày giờ nào.”

Đại đội trưởng quyết định: Cài người vào gái làng chơi, tiếp cận người tình tên đồn trưởng. Ngay hôm sau: “ chiếc khăn rằn phấp phới trên dây phơi số nhà 75, nghĩa là chồng cô đi vắng!” Thật đơn giản, bất ngờ.

Đại đội trưởng đột nhập vào nhà số 75 phơi chiếc khăn rằn, trước mười lăm phút xem xét đúng phương án tác chiến: Tiêu diệt nhanh gọn, không được nổ súng! Tôi hỗ trợ bên ngoài, khi cần chuyển sang phương án hai!

Hai giờ sáng, tên đồn trưởng ác ôn ôm người tình lên giường quấn riết nhau hôn hít. Bất ngờ một quả đấm cực mạnh, như búa đập vào gáy cổ, hắn “hự” một tiếng chưa kịp phản ứng, ông Thắng túm tóc xoay mặt hắn lại, xỉa lát dao vào yết hầu chết không kịp ngáp! Nhanh như chớp, ông dán băng dính bịt mồm cô gái. Đặt bản án tử hình lên ngực tên đồn trưởng. Không ngờ cô gái xé băng bịt miệng hét toáng lên: “Việt cộng! Việt cộng!” Tên cận vệ lăm lăm súng trong tay xông vào, chưa xác định được mục tiêu, bị tôi xỉa một lát dao vào tim, hắn đổ vật xuống sàn nhà, máu phun đỏ rèm che cửa. Đại đội trưởng nhét khăn lau bàn vào mồm, dùng chiếc khăn rằn trói cô gái vào gầm cầu thang. Hai anh em rút về căn cứ. Về điểm tập kết, anh Thắng tự trách:

- Mình quên không trói con bé, để nó xé băng bịt miệng la toáng lên...Nếu chú mày không xử nhanh tên cận vệ, chúng nổ súng báo động, ta khó ra khỏi hang hùm. Ông bắt tay tôi cười hiền khô... Y hệt nụ cười trong di ảnh!

Khi bước vào nhà tôi nắm tay anh Thành, cứ ngỡ mình nắm tay đại đội trưởng Thắng. Ông Khiêm vừa nói, vừa lau mắt kính ướt nhòe.

- Mời chú rửa một chút cho mát. Thành đặt thau nước giếng trong suốt bên thềm, với chiếc khăn mặt bông trắng tinh trên miệng chậu, ân cần mời khách. Vừa rửa mặt ông Khiêm chậm rãi nói với Thành: Chú cùng đoàn cựu chiến binh thăm động Sơn Đòong, hết tua tách đoàn về đây. Cứ áy náy đã lâu chưa vào thắp hương cho bố cháu. Không có số máy của anh, chú vừa đi vừa ngắm cảnh hỏi đường, nhận ra nhiều điều vui mừng trăn trở...

- Công ơi, con tráng ấm trà, mang cái điếu cày lên đây để ông uống nước, hút thuốc! Ông Khiêm cùng đơn vị với ông nội con. Ông cõng ông nội bị thương luồn rừng cả đêm về trạm phẫu tiền phương, lại tiếp máu cứu sống ông nội. Con phải gọi ông Khiêm là ông chú! Anh Thành dặn con.

-Vâng, thưa bố.


- Thành rót nước mời khách, nói:- Cháu vào viện thăm thằng Hùng vướng mìn khi đuổi trâu trên núi.

- Tôi có nghe bọn trẻ đánh trận giả nói chuyện này. Nhưng không biết anh chị sinh thêm cháu Hùng khi nào? Tôi biết chị Dậu nhiễm chất độc da cam hồi ở thanh niên xung phong, sau khi đẻ thằng Công, bác sĩ khuyên không nên sinh con nữa! Sao... ông Khiêm dừng câu hỏi nửa chừng...

- Thưa chú, chuyện thế này: Cha mẹ Hùng phát rẫy vướng bom bi chết. Thú rừng tha mất xác. Hai, ba ngày sau cháu đi làm nghe tiếng trẻ khóc trong rừng. Lại thấy thằng bé mới bảy, tám tháng tuổi nằm trong địu kiến bâu đầy người, mặt mũi tím tái, tim đập thoi thóp. Chim quạ lao vào rỉa rói, nó khóc ré lên đứt đoạn nửa vời. Một phần sống, chín phần chết. May nó nằm úp mặt cuộn tròn trong địu treo trên lều canh nương, muông thú chưa kịp ăn thịt. Phải cứu mạng người. Còn nước còn tát! Cháu đem về nuôi. Đổ sữa bò, sữa dê, cháo, khi bén miếng cơm nó lớn nhanh như thổi, vợ chồng cháu mừng phát khóc. Hùng kém Công hai tuổi. Hai anh em học một lớp. Công nhiễm chất độc da cam, đi học muộn hơn em hai năm. Trộm vía hai cháu học giỏi, năm nào cũng được giấy khen của trường. Cảm ơn trời, phật thương tình cho vợ chồng cháu đứa con lành lặn! Ai ngờ... Thành rơm rớm nước mắt. Ông Khiêm ý tứ chuyển hướng câu chuyện:

-Vết thương của cháu Hùng bây giờ thế nào?

- Cháu bị gẫy xương cẳng chân phải, vài ngày nữa tháo bột. Cũng mất hơn chục triệu, chú ơi. May mùa lúa năm nay năng suất khá. Cháu nuôi được đàn nhím vài chục con, mấy mệ dê mới có tiền trang trải, không chẳng biết trông vào đâu.

- Chị Dậu lâu nay có đỡ ù tai, chóng mặt, hoa mắt không? Do nhiễm chất độc da cam, và bệnh suy tim đấy! Hôm nay chị ấy đi đâu, giờ này không có ở nhà?

- Vợ cháu đi bán thóc lấy tiền trang trải: Công cày cấy, giống, phân bón, thưốc trừ sâu, tiền xây kênh mương nội đồng, xây dựng nông thôn mới, tiền học cho các cháu, tiền viện phí cho thằng Hùng...mọi nỗi lo không qua lỗ đồng tiền đó chú!

Vụ này cháu làm năm sào lúa, hai sào mất trắng vì giống rởm; ba sào còn lại thu được bảy tạ thóc. Trừ chi phí mỗi sào lãi một trăm cân. Thành bấm đốt ngón tay nhẩm: Nếu tính công chăm sóc hai tháng trời đầu tắt mặt tối, thì chỉ lấy công làm lãi, chẳng ăn thua gì. Mọi chi tiêu phải kiếm thêm bằng cách: Nuôi nhím, nuôi dê, làm thợ xây…lúc nông nhàn.

Tháng trước làng xét cháu vào hộ nghèo nhưng, thấy họ tranh nhau cháu nhường các hộ khó khăn hơn. Mình khỏe chân mạnh tay, nhận hộ nghèo như bị xúc phạm. Có người bảo: “Nghèo rớt mồng tơi còn sĩ. Nhiều người muốn hộ nghèo chẳng được đấy...”

Có thể họ nói đúng. Nhưng cháu nghĩ mình không nên ỷ lại Nhà nước, phải tự đi bằng đôi chân mình. Chăm chỉ làm ăn mới khá lên được! Hay gì anh nghèo mà tranh nhau. Người ta khoe giàu, ai khoe nghèo!

- Anh nói phải. Nhà nước cho các hộ nghèo cái “ cần câu” mình tự “ câu ” mới xóa đói, giảm nghèo bền vững. Dân giàu nước mới mạnh. Chúng ta phải đi lên bằng khối óc, bàn tay mình. Năm một ngàn chín trăm bốn mươi lăm, dân ta chết đói hơn hai triệu người. Ai ngờ Việt Nam thành nước xuất khẩu gạo, tôm cá, cà phê, cao su, vào loại nhất nhì thế giới như ngày nay!

- Vâng, cháu cũng nghĩ thế mà cố làm mọi việc để ổn định đời sống gia đình.

Chị Dậu đi bán thóc về thấy chóng mặt, hoa mắt, nôn khan ậm ọe, nhà cửa quay cuồng... Vội quăng quang gánh vào xó hè, men theo tường vào buồng nằm. Nhà cửa chênh chao, tối sầm mặt mũi. Tưởng như mọi lần nằm nghỉ một lúc sẽ đỡ, nhà có khách không muốn gọi chồng...

Nghe ông Khiêm nhắc đến vợ mình, Thành chột dạ nghĩ: Cô ấy suy tim độ ba người phù nề, ho tức thở mấy tháng nay. Bác sĩ khuyên tránh làm việc nặng. Lúc sáng đã dặn vợ: Để anh đi thăm con về, dùng xe trâu chở thóc đi bán cho đỡ vất vả. Thế mà còn gánh thóc đi, đường xa gánh nặng, nắng thế này... Thành vội chạy ra sân, thấy đôi quang gánh vứt tuông ở đầu hè. Anh xộc vào buồng gọi, lay, áp tai vào ngực vợ như mọi lần... Nhưng, chị Dậu đã ra đi từ lúc nào, nửa người trên giường, hai chân dưới đất cứng đơ không lời trăng trối. Sau nhiều năm nuốt nước mắt vào trong. Khi biết mình nhiễm chất độc da cam tiệt đường con cái. Thương thân, thương chồng, con không thể sẻ chia gánh nặng gia đình. Đau buồn bệnh nặng thêm, mỗi khi trái gió trở trời phải cấp cứu...

Thành nói trong nước mắt với tôi, nỗi đau bất tận của vợ chồng anh. Tôi không cầm được nước mắt. Ôm Thành vào lòng, hai người lính hai thế hệ cùng chia sẻ nỗi đau sau chiến tranh, dẫu năm tháng đã lùi xa. Nhưng hậu quả của nó vẫn bám riết gia đình này. Không biết còn bao nhà có hoàn cảnh như anh Thành?


Vợ chết, còn ba bố con. Một cháu tàn tật vì chất độc da cam, một đạp mìn gẫy chân nằm viện. Tôi ở lại nhà Thành vài ngày giúp anh lo hậu sự cho chị Dậu. Bây giờ tôi mới để ý đến gia cảnh nhà Thành: Bốn gian nhà xây đút nút từ những năm bẩy mươi của thế kỷ trước, còn ghi trên thượng lương. Tường nhà nhiều chỗ rạn nứt, sạt lở từng mảng vôi vữa. Nhà và sân lát gạch; gian giữa kê bộ bàn ghế ba đai, tủ chè cũ thay bàn thờ. Cái ti vi Sam Sung đen trắng từ đời tám hoánh. Hai gian bên kê một giường rẻ quạt, một phản nằm; gian buồng kê một giường đôi, nửa kia là kho chứa thóc, giường chiếu xộc xệch nhà trống hoác. Áo quần luộm thuộm, chả mấy khi được mặc bộ quần áo tử tế, trừ ba ngày tết.

Những ngày đau thương này, may có hàng xóm, nhất là chị Dung giúp đỡ mọi việc: Chợ búa, bếp núc, giặt giũ... chu đáo.

Chị Dung cho biết: “ Chồng chị vướng mìn chết mấy năm nay, đứa con trai mười ba tuổi vấp mìn chết hôm nọ. May cháu Hùng chỉ bị gẫy chân.” Chị Dung kể đến đây bật khóc nức nở. Nước mắt người đàn bà mất chồng, con vì bom mìn, dẫu chiến tranh đã lùi xa bốn mươi năm, làm mắt tôi ầng ậng nước.


Thành vỗ miệng ống điếu, vê mồi thuốc lào nhét vào nõ điếu, xòe diêm, nháy, nháy, rít một hơi dài, kêu như tiếng chim. Trầm tư nhả khói, đôi mắt lim dim, giọng anh trầm hẳn xuống như nói với chính mình: Mỗi năm thu hai tấn thóc, nhà vẫn rách. Bữa ăn quanh năm rau, dưa đạm bạc. Nhiều hộ chán ruộng ra thành phố làm mọi việc, chỉ đủ tiêu vặt hằng ngày. Ốm đau không có thuốc, nói gì tích lũy. Cái khó bó cái khôn, chẳng biết làm gì khá lên được? Lúa, dưa hấu, vải thiều, su su... nhiều năm được mùa, không tiêu thụ được. Bán đổ bán tháo. Vụ su su vừa rồi cho trâu bò, lợn ăn không hết, bỏ thối ngoài đồng hàng chục tấn làm phân xanh. Điệp khúc này diễn đi diễn lại nhiều năm chưa cách tháo gỡ. Đã vậy, mọi chi phí sản xuất: giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công cày cấy... cứ đội giá lên, vụ sau cao hơn vụ trước... không biết địa phương khác thế nào?


Tôi hớp ngụm trà, cố nuốt vị chát đắng, nhìn anh Thành hơn bốn chục tuổi, mặt cháy nắng, hố mắt lõm sâu, râu ria tua tủa. Ngồi nhìn đống thóc giữa nhà đang vơi nhanh vì hoạn nạn. Bấm đốt ngón tay tính các khoản chi: Nếu bán hết ba tạ thóc để lại ăn vẫn không đủ tiền viện phí cho thằng Hùng. Gia tài còn con trâu. Nhà bốn người, ba nạn nhân chiến tranh... Nom anh như ông già ngoài năm mươi tuổi, lòng tôi se lại, mà chẳng giúp anh được gì.

Thành tốt nghiệp cao đẳng sư phạm loại ưu. Vào bộ đội năm bảy ba, năm một ngàn chín trăm bảy sắu xuất ngũ. Không có tiền xin vào trường dạy học, đành gắn bó với ruộng đồng. Không ngờ vợ con bệnh tật, trói chặt anh trong cảnh nghèo. Ở nông thôn, một người làm nuôi ba miệng ăn là không tưởng. Nói gì đến thuốc chữa bệnh nan y cho vợ, con. Ngoài mấy sào lúa, Thành xoay đủ nghề:Trồng dưa hấu, nuôi gà, nuôi nhím, nuôi dê... Vẫn không đủ tiền thuốc hằng ngày. Quanh năm đầu tắt mặt tối. Những năm gần đây có thằng Hùng ngoài giờ học đỡ đần cho bố, tưởng sẽ đỡ vất vả, ai ngờ ...Thành nấc khan nghẹn ngào nước mắt như mưa.

Tôi lựa lời an ủi Thành: Thôi, việc đã rồi, tai họa do chiến tranh để lại chẳng riêng ai. Hoàn cảnh chị Dung còn khổ hơn nhiều. Di chứng chiến tranh để lại phải khắc phục lâu dài. Chúng ta đùm bọc, thương yêu giúp đỡ nhau. “Nợ mòn, con lớn. Cháo húp quanh công nợ trả dần”. Mọi việc trong nhà sẽ sáng sủa hơn, đất nước đang đổi mới từng ngày. Sản xuất nông nghiệp đã chuyển sang sản xuất hàng hóa. Nhiều sản phẩm nông nghiệp Việt Nam có thương hiệu quốc tế. Sự phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn.

Năm 2015 quả vải Việt Nam sẽ xuất khẩu khoảng chín mươi ngàn tấn sang năm nước, là tín hiệu vui. Nếu nông dân chú trọng nâng cao chất lượng nông sản, biết cân đối cung cầu của thị trường, khả năng tiêu thụ nông sản sẽ thông thoáng hơn.

Tệ lãng phí, tham nhũng sẽ được khắc phục, đảm bảo sự minh bạch, công bằng xã hội. Là động lực thúc đẩy, và thách thức xây dựng nền nông nghiệp hiện đại. Việc lớn không dễ làm ngay. Nhưng, nhất định chúng ta sẽ đến được bến bờ hạnh phúc! Cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngư dân đem lại hiệu quả kinh tế, quốc phòng thiết thực, lấy lại lòng tin của dân với Đảng. Làm cho mọi người dân được học hành, no ấm, tự do, bình đẳng trước pháp luật đang trở thành hiện thực!

Trên đường ra bến xe. Chúng tôi ghé vào nghĩa trang thắp hương cho chị Dậu. Thành ngồi trước mộ vợ nước mắt lưng tròng, khói hương nghi ngút. Những chùm hoa bông trang trắng muốt lẫn trong cỏ dại vây quanh mộ chị Dậu như vành khăn tang. Trên cao, mây ngũ sắc quyện với khói đốt đồng lững lờ trôi trong nắng chiều...

Hình ảnh cháu Công dị dạng, cơ bắp nhũn như con sứa, do nhiễm chất độc da cam, những đứa trẻ tàn tật vì bom mìn, đứng xem các bạn chơi trò đánh trận giả, chị Dung mất chồng, con vì bom mìn sau chiến tranh; chị Dậu ra đi từ lúc nào trong căn buồng ẩm mốc, không lời trăng trối. Anh Thành ngồi bên đống thóc bấm đốt ngón tay in đậm trong tâm trí tôi./.


Tháng 3-2013- 5-2015.



@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ Thanh Hóa ngày 28.6.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn