Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



THANH CÒI TẨM QUẤT





  Nếu ai không biết sẽ không thể nào tin nổi, với dáng vóc nhỏ thó tong teo cùng đôi chân ngắn ngủn mà từ Gò Vấp, thằng Thanh Còi đạp xe qua quận 7 đêm đêm để hành nghề tẩm quất. Với chiều cao khiêm tốn 1m45, áo lúc nào cũng bỏ vô trong, Thanh Còi ta đạp xe lắc qua lắc lại theo nhịp đạp, không lẫn vào đâu được.


Đã bảy năm rồi, cứ tầm ba bốn giờ sáng là cậu ta ghé ngồi trước cửa tiệm của tôi, giải khát bằng hai chai Sài Gòn đỏ cùng một bịch đậu phụng rang muối. Khách đến mua hàng, ai nói chuyện kim cổ đông tây gì, cậu ta cũng tham gia được tất, mồm không để cho kéo da non.


Thanh Còi được sinh ra và lớn lên ở một làng quê nghèo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Năm mười ba tuổi, sau một trận ốm liệt giường thập tử nhất sinh, cậu ta dường như không lớn nữa, chỉ già đi theo năm tháng mà thôi. Nên hai mươi bốn tuổi, bạn bè trương lứa thảy đều có vợ có con, riêng Thanh Còi chưa có vẻ ra trai. Người nhà và dân làng tán chuyện, chẳng biết bao giờ nó mới có vợ được, mà bé choắt thế này muốn có cũng chẳng ai ưng. Thanh Còi nghe được ức lắm, cậu ta bắt đầu sửa soạn. Mà nghèo quá áo không đủ mặc, lấy gì để sửa soạn kia chứ, cậu ta bèn đóng thùng ngày ngày đi hái cau dạo cho bà con bởi cậu ta leo trèo rất giỏi. Thế rồi ông tơ bà nguyệt cũng thương.Một hôm đi hái cau dạo ở làng bên, bởi sáng nhịn ăn, khi bẻ xong buồng cau cuối cùng, leo xuống thì cậu ta ngất xỉu. Cô bé Mắm chủ nhà ôm cậu vào chăm sóc rồi nấu cháo cho ăn. Mắm năm ấy đã tròn hai mốt tuổi mà vẫn chưa có đám nào dạm hỏi. Ở ngoài Bắc thời ấy, con gái qua hai mốt tuổi chưa có chồng cho là ngoác và được bổ sung vào danh sách hội lên thẳng. Là con gái út, do người cao lớn đẩy đà dù mặt mày cũng dễ coi nhưng trai làng chê béo chẳng mống nào léo tới hòng tính chuyện trăm năm. Khi Thanh Còi tỉnh lại, thấy con Mắm ngồi mớm cháo cho mình, nó như bị sét đánh ngang mày, nhìn không chớp mắt người con gái cân nặng 67kg (trong khi nó chỉ 37kg), cao hơn nó cả một cái ghế nhựa của bà bán nước.


Thời gian sau, không hẹn mà chiều nao Thanh Còi ta cũng đóng thùng, tà tà đạp xe sang làng bên ve vãn. Có người để mắt đến con gái, mẹ con Mắm mừng lắm. Bà chỉ buồn một điều là vóc người nó nhỏ như trái ớt xiêm, sợ về sau việc lớn việc nhỏ gì chắc cũng khổ con mình. Một đêm nọ, làng bên có chiếu phim ngoài sân bãi, Thanh Còi ta hí hửng mặc bộ đồ vía rộng thùng thình của anh trai, lai quần phải gấp lên năm bảy bận, lấy kim chỉ khâu lại, vừa đi vừa huýt gió vi vu đến nhà con Mắm. Sau giây phút thẹn thùng e ngại, con Mắm cũng đồng ý đi xem. Vì bạn gái nặng quá, mấy lần suýt té, cậu ta đèo không nổi, con Mắm đành phải để cho người thanh niên oách tướng ra ngồi phía sau mình như một đứa trẻ con. Đến nơi thấy phía trước bà con đã ngồi chật cứng, Thanh Còi đành lẫn trong đám đông, tay giữ xe, nhón người lên xem nhưng chẳng thấy được gì. Xe không có chân chống, thế là con Mắm bạo dạn đưa một tay nhấc bổng đức lang quân tương lai đặt lên yên, một tay giữ lấy xe, người tựa vào lưng cậu ta để giữ thăng bằng. Lần đầu tiên được chạm vào da thịt người con gái, Thanh Còi ta tẩn mẩn tê mê, xem để mà xem chứ chẳng biết gì phim hay dở nữa. Người càng nóng rần lên cậu ta càng hun đúc ý chí, dồn sức mạnh, hạ quyết tâm, quay lại lấy hết can đảm tỏ tình: “Mắm! Anh yêu em! Anh xin được hỏi cưới em làm vợ” và đưa tay định ôm choàng lấy người bạn gái nhưng Mắm đã cản lại: “Đừng anh! Người ta cười cho đấy” rồi hai đứa dắt xe đi ra cổng dù phim vẫn còn dài. Và sau đó, bên khóm trúc sau cổng làng, đôi bạn trẻ chưa một lần yêu đã trao nhau nụ hôn đầu đời nóng hổi dưới đêm trăng thượng tuần bát ngát những yêu mơ.


Ngày lành đã tới, chú rể xênh xang hân hoan trong bộ đồ bính quá khổ, cùng hai họ xôn xao hồ hởi rước dâu về. Nhà quá nghèo, không có lấy một chiếc giường tử tế, đành lấy hai con ngựa bằng tre cũ kĩ ghép lại làm chỗ cho đêm động phòng hoa chúc. Chẳng may cho cô dâu, đến nửa đêm xảy ra chuyện hy hữu, một con ngựa tre đang kẽo cà kẽo kẹt bỗng gãy cẳng đổ nhào, nàng phải ngồi khóc huhu chờ trời sáng bước ra ngoài. Đời hồng như quay lưng, ruộng bàu bao khó nhọc, thoắt cái đã hai mụn con, vợ chồng bữa đói bữa no cũng bám đất mà cày. Mấy anh em trai đời sống không đến nỗi, nhưng chẳng ai ưa cái tính ba hoa khoác lác của Thanh Còi, nên không hề giúp đỡ buộc cậu ta phải tự lập. Con Mắm thả cày vay bừa mà gạo ăn không giáp hột. Những khi quá túng quẩn, người vợ đảm đành phải đèo cả chồng con về ngoại xin ăn. Cái nghề hái cau càng ngày càng ế ẩm bởi từ khi cau rớt giá, người ta đã đốn phá đi nhiều. Cùng đường, Thanh Còi buộc phải tìm kế sinh nhai.


Tết đến thấy mấy đứa ở trong thôn đi vào Thành phố làm ăn,về quê ăn Tết có phần khấm khá, cậu ta dò la tìm đường đi nước bước khi nghe ở trong Nam nghề tẩm quất cũng hái ra tiền.


Ngày đầu tiên đặt chân vào thành phố, Thanh Còi sống nhờ vào thằng em bà con làm nghề xây dựng ở Gò Vấp. Đêm về nó chở ông anh lòng vòng khắp quận cho thuộc đường thuộc lối, sau nó mua hộ cho chiếc xe đạp cũ cùng bộ đồ nghề tẩm quất. Thanh Còi bắt đầu tập sự từ tấm lưng của thằng em, rồi đến những thanh niên làm đủ nghề trong dãy trọ. Nhờ sáng dạ, chẳng mấy hôm cậu ta đã có vẻ thuần thục và bắt đầu đạp xe vừa đi vừa lắc lắc kiếm khách trong phạm vi gần. Mới được hơn một tháng, đi rảo xa xa chưa nhớ lối quay về thì thằng em vì lý do công việc phải chuyển đi nơi khác, để lại cái phòng trọ cho Thanh Còi cheo ngoeo một mình một bóng, quá lẻ loi nơi đất khách quê người. Chẳng biết trời xui đất khiến thế nào. Đêm nọ gặp toàn những vị khách không chịu nằm trên vỉa hè để đấm, buộc cậu ta phải theo về nhà làm cho khách. Hết người tới người, cậu ta lạc dần qua quận Bảy lúc nào không hay và chẳng biết đường về…


Gần bốn giờ sáng, từ trong tiệm nhìn ra tôi thấy một thằng đấm bóp bé tí tẹo đứng ngoài xa lớ ngớ nhìn mình. Tôi bước ra vỉa hè hỏi có gì không. Nó liền thưa: “Chú ơi! Cháu bị lạc mà không có ai để hỏi, chẳng biết từ đây về Gò Vấp có còn xa không ạ”. Tôi nói: “Khoảng hai mươi mấy cây số”. Nó giật mình sửng sốt: “Xa thế cơ à!”. Tôi hỏi: “Chứ anh mày đi sao mà để lạc tận bên này?”. Nó trả lời: “Dạ cháu vừa đi vừa có khách gọi làm, đi mãi làm mãi mà chẳng biết bị lạc xa thế này cơ đấy. Chú dậy sớm nhỉ?”. Tôi cười: “Không! Tao thức suốt đêm. Anh mày cần ngủ nghỉ gì không có ghế xếp đây”. Nó mừng rơn: “Dạ cho cháu xin, bán cho cháu một chai bia được không ạ”. Tôi đùa: “Hai chai cũng được, nhưng chỉ hai mà thôi, không ngoại lệ”. Tôi định khui chai bia để sẵn, nó vội ngăn lại: “Để đấy cho cháu”. Rồi cầm hai chai bia chụm đầu nắp vào khui đánh “bốp” một phát nghe thật đã tai. Rót bia vào ly đá xong nó nhảy tót lên ngồi lọt thỏm trên ghế xếp, khiến tôi phải nín cười giả mặt làm nghiêm. Uống xong hai chai bia, nó lăn kềnh ra ngủ thoải mái trên ghế xếp như mình nằm trên chiếc giường rộng thước mốt không bằng. Dẫu xa lạ nhưng thấy thương, tôi lấy xích cùm xe nó lại rồi vào mang ra chiếc áo khoác phủ lên người nó, vừa vẹn đắp từ cổ tới chân trông thật khôi hài. Gần sáng tôi gọi nó dậy đưa tờ giấy chỉ đường đã vẽ sẵn, bảo nó cứ theo đó mà đi sẽ về đến Gò Vấp. Nó ngước nhìn lên cảm ơn tôi rối rít và nói rằng có khi cháu sang đây hành nghề cũng nên dẫu đường về khá xa.


Lời nó nói quả không đùa, hai hôm sau, tôi lại thấy nó dừng xe trước quán nhăn miệng cười rộng ngoác đến mang tai: “Chào chú ạ! Thế mà hôm nay cháu làm được ra phết đấy, những gần hai trăm cơ”. Tôi cười: “Làm được quá ta! Chúc mừng, chúc mừng!”. Nó lấn tới làm thân: “Hôm nay cũng cho cháu hai chai bia được chứ chú nhỉ?”. Tôi vờ khó khăn: “Nhưng không được nằm vào ghế của tao đó nghen”. Nó cười tít mắt: “Nếu cháu buồn ngủ thì chú cho cháu nằm nhờ một tiếng thôi nhé, cháu sẽ về ngay”. Tôi cười vui vẻ rồi lấy bia ra khui uống cùng với nó cho vui và bỗng hai chú cháu như đã thân quen tự thuở nào kể từ đêm hôm ấy.


Đời cứ thế trôi đi tiệm của tôi thành trạm nghỉ chân của Thanh còi và tôi xem nó như con cháu trong nhà vậy. Đói cho ăn, khát cho uống, buồn ngủ cho ngủ, chỉ riêng hai chai bia và bịch đậu phộng rang muối là phải tính tiền không được lôi thôi.


Vài năm sau đó, một bữa nọ đã gần năm giờ sáng mà chưa thấy Thanh còi ghé đến, chẳng biết có chuyện gì xảy ra với nó không. Đang lo lắng thì nó bỗng lù lù xuất hiện, đầu tóc huỷnh lên như bị bão hất tung bay. Tôi chưa kịp hỏi nó đã vội nói: “Chú biết hôm nay cháu gặp chuyện gì không? Cháu bị giang hồ quận tư hội đồng trấn lột cơ đấy”. Tôi lo lắng hỏi: “Tụi nó lấy hết của mày rồi hả?”. Nó vênh vểnh bộ ria: “Làm sao lấy được chú! Chú này buồn cười thật, gặp tay cháu thì chỉ có mà chết. Chú biết không! Chúng vây quanh cháu những sáu thằng cơ đấy, toàn giang hồ thứ thiệt, chú nghĩ có hốt không? Nhưng cháu không hốt, bình tĩnh xuất chiêu học được của Lệnh Hồ Xung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ. Nói cho chú biết nhé! Không đầy một phút, cả lủ chúng nó đều bị đả thương, nằm lăn ra đất hết. Cháu cầm cây lắc trên tay bước tới gõ vào đầu tên đầu đảng, vừa nghiến răng vừa nói: “Chúng mày có biết ông là ai không mà dám đụng vào ông hử? Bộ muốn chết mà không có đất chôn thây à”. Bấy giờ đã biết nó phịa, tôi vẫn vờ hỏi: “Rồi sao nữa?”. Nó khoái chí khỏ cây lắc vào tay một cái: “Cả sáu thằng cùng lòm còm bò dậy xin ông tha mạng. Cháu bảo Cút! Từ nay mà để ông mày thấy mặt là không còn đất sống nghe con”. Tôi lấy tay che miệng hỏi tiếp: “Mày đánh chúng bị trọng thương vậy có thằng nào bất tỉnh nhân sự hay không?”. Nó vội đáp: “Có chứ chú! Có một thằng cháu lỡ ra tay mạnh quá, nằm không nhúc nhích, đồng bọn phải khiêng lên mà chạy trốn cơ đấy. Từ nay có ăn gan trời đi nữa chúng cũng chẳng bao giờ dám trấn lột cháu đâu. Thấy mặt cháu là chạy dài chú nhỉ?”. Tôi phì cười nho nhỏ và hỏi: “Anh mày ra tay đả thương trong nháy mắt, vậy cánh tay sao bị tróc lóc thế này, quần áo thì lấm lem lấm thỉnh thế kia, tóc tai thì bù xù gớm chết”. Nó nhăn mặt: “Chú này buồn cười thật. Đấy là do bị té xe, chứ thằng nào đả thương được cháu”. Nó nói xong xoay nhìn cánh tay của mình rồi nhìn vào tôi, thấy tôi cười nó cũng tịt ngòi luôn.


Một hôm nữa, uống xong ly bia nó hào hứng tâm sự: “Chú có tin không! Cháu từng là bộ đội đặc công cơ đấy. Hôm tuyển quân ở làng, cháu xung phong ra khám tuyển, mấy anh tuyển quân cười nhạo cháu bảo rằng: “Chú mày mang súng chấm đất mất thôi làm sao đánh giặc”. Cháu nói: “Nếu em mang súng vào không chấm đất, các anh phải cho em đi đấy”. Cháu lấy súng mang vào còn cao hơn mặt đất cả khúc ấy chứ, họ phải cho cháu đi thôi. Rất tiếc đã qua thời chiến trường K đẫm máu, không thì cháu đã biết được đất nước bạn như thế nào và bây giờ lên cấp tá rồi cũng nên chú nhỉ?”. Tôi không dám cười vì sợ nó mất vui nên phải nói: “Ừ! Tiếc thật!”.


Mới năm ngoái đây thôi, vào một đêm mưa gió nó bỗng nói với tôi: “Chú Toàn này! Sắp tới cháu đi học lái xe cơ đấy! Có bằng rồi cháu có thể chạy taxi, à không, cháu sẽ lái xe khách năm mươi hai chỗ ngồi tuyến Sài Gòn – Vĩnh Phúc. Bà con ở làng mà đi xe cháu không lấy tiền đâu nhé! Mỗi lần về quê là khối người phải ồ lên: “Thằng Thanh còi nó lái xe về tận làng mình cơ đấy bà con ơi!”. Oách chứ nhỉ! Nhưng cháu vẫn đối xử tử tế đường hoàng với bà con làng xã, không hách với họ đâu. Lâu lâu cháu sẽ ghé quận bảy đưa chú về thăm quê cháu. Chú có đi không đấy? Hay là chê làng cháu nghèo. Nói thật với chú nhé! Làng cháu nghèo thật nhưng rất hiếu khách, chú ra đấy rồi khắc biết kẻo bảo cháu nói ngoa”.


Mấy tháng sau, cũng chẳng nghe nó nhắc về chuyện ấy. Đùng một phát nó không từ mà biệt. Tôi gọi điện thì thuê bao tạm thời không liên lạc được. Sau tôi tìm hỏi mấy đứa đồng hương thì chúng bảo nó mất tích đâu rồi, ngoài quê cũng không liên lạc được chú ơi.


Chợt nhớ lại có một lần nó đã kể với tôi: “Hôm ấy ngoài đại lộ Nguyễn Văn Linh, thấy đường khuya vắng người qua lại, cháu băng ẩu qua đường, không để ý một chiếc xe container đang tới, chiếc xe đạp lớn thế này mà thằng tài xế nó không nhìn thấy cháu hay sao ấy. Nó đi chậm thôi nhưng không hề dừng lại, cháu hốt quá định lùi nhưng không kịp nữa rồi. Nó tông sao mà cả người và xe cháu đều lọt vào giữa dưới gầm xe lớn. Xe đi qua cháu kinh hãi ngồi dậy kiểm tra người mình thấy trầy trụa chút thôi, chỉ có bánh trước xe đạp một phần nằm bẹp dí sát mặt đường, cháu phải khênh đi tìm nơi sửa lại…”.


Giờ nó ở đâu! Bỗng tôi thấy lạnh ở xương sống, nổi cả da gà…


Sài Gòn 24/05/2014



@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 28.6.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn