Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




SƠN LA DU KÍ




   Ngày xưa có một bài hát tiễn người tù chính trị bị Pháp đầy lên Sơn La

                                   Sơn la âm u, kín trong sương mù

người ta coi đi lên Sơn La như là đi về một phương trời xa lắm , ngày nay sau ngày Quốc Hội , Chính phủ quyết định xây dựng công trình thủy điện Sơn La , làm lại con đường số 6 vượt qua các đèo,các dốc khúc khuỷu thì Sơn La đã là một địa chỉ tham quan du lịch và con đưường đi lên Sơn La đã là con đưường của những chuyến xe tấp nập đi về.

Ngày 2-3-2009 chúng tôi khởi hành từ Hà Nội đi Sơn La, quãng đường dài hơn 399km , nếu đi bình thường thì 6 giờ xe là đến , nhưng đường đồi núi , xe đi qua Hòa Bình, Mộc Châu rồi đi tiếp lên Sơn La.

Sơn La nơi người các dân tộc Thái, HMông cùng chung sống. Nhưng dông đúc hơn cả là người Thái gồm Thái trắng và Thái đen . Có một cách phân biệt rất tế nhị đó là nhìn vào cổ cô gái Thái . Người Thái Trắng mặc áo hở cổ, ngưười Thái Đen mặc áo kín cổ nên nước da khác nhau, thành ngữ vùng này có câu nói rằng

Thái trắng cổ đen

Thái đen cổ trắng

Dọc đường lên, xe đi qua các địa điểm quen thuộc : Chương Mỹ, Hòa Bình, rồi đến vùng đất mới. Xe di đường dài nên cảm xúc về cùng đất mới, chuyện đời, chuyện xã hội , thơ ca đều được đem ra đọc để góp vui cho quên chuyện mệt nhọc đưường xa

Bác Giang Quân khai mạc trước bằng bài thơ ngẫu hứng :

Đường lên ngược gió Sơn La

Mưõy bay thấp thoáng nhưư là hội ai

Qua bao suối lớn sông dài

Sóng Đà giang vẫn đập hoài bên nhau

Mai đây nhà chuyển về đâu ?

Gửi tin, hỏi lá xuống cầu Tạ Khoa

Anh xin ngược nưước sông Đà

Qua hồ thủy điện tìm ra lại mình

Anh em vui vẻ chào đón, bác lại hứng chí đọc tiếp bài thứ hai :có tên là Hội hè

Hội hè ta đi tìm nhau

Liếc ngang ánh mắt bồ câu tìm mình

Ai mang hộ lá buồng tình

Kẻo thuyền ngơ ngác hành trình đêm nay

Rượu cần chưa uống mà say

Má em tay chửâ chạm tay đã hồng

Để cho đồi núi bập bùng

Ca dao lạc lối giữa lòng cao nguyên


Ngoài hai bài thơ của cụ Giang Quân , có anh Hồ Sĩ Tá đã tham gia cuộc vui bằng bài hát chế “Chiến sĩ ca”

Thôi chết toi tôi rồi

Nhận được tin tôi đâm bàng hoàng

Sáng hôm sau máy bay tới rồi

Tôi nghe tin bà xã tôi sẽ bay sang Nga chuyến này

Hủy ngay bao thư xếp lâu trong nhà để khỏi phiền hà

Là trai nam nhi ! Dáng vóc kiên cưường

Sức vóc coi thưường khi cái con sư tử Hà đông tới đây .

Điện ngay thông tin tới cho cô bồ một điều chẳng lành

Rằng “anh sơ gan ! Bác sĩ cấm rồi ! Chớ có vô nhà

Hai tháng sau sẽ tìm đưường về Mát cơ va ”

Điện xong xoa tay đến ngay sân bay lòng đầy phập phồng

Thôi chết toi tôi rồi , vì đụng ngay thấy ngay cô bồ

Đành xốc tới Tôi đâm liều

Đành hy sinh bồ trong chốc lát để làm việc lớn

Ôi , thấy em đây rồi . Bao ngày chờ mong

Thề một chết quyết không chịu khai

Vì rằng khai mất ngay một tai

Vì bà xã dấn thân liều vô

Làm trai như thế : Chín nhăm phần trăm

Bài hát chế của HST đã làm anh em cười vui Họ vỗ tay ầm ĩ và quên rằng xe đang đi vào vùng sương mù . Xe xuống đèo Thụy Khuê . Mây mù trắng đục ở phía dưới . Lái xe cứ chạy xe một quãng lại hạ tốc độ , lúc này lên cao không khí và đã có hiện tượng ù tai . Xe vẫn đổ đèo, chung quanh xe vẫn mờ mịt sương mù, Đi qua ngã ba Đình Bảng nhìn sang hai bên đường thấy môt bên là vách núi, một bên là những ngôi nhà sàn . Chân nhà sàn cao lênh khênh làm cho cái nhà sàn cứ thấp thoáng trong sương mù.


Ông Phan Văn Đà người của Hà Tây cũ kể rằng :

- Hồi tôi đi gập lãnh đạo Sơn La, tôi đã gập anh Nguyễn Khôi là thư ký của ông Cầm Ngoan, còn tôi làm thư ký cho ông Hậu . Đoàn Hà Tây chúng tôi đưưa dân lên làm kinh tế mới tại các huyện vùng cao Sơn La . Gập nhau rồi, hai vị lãnh đạo uống rưượu với nhau , chưưa thấy bữa rượu nào lại vui và thân tình đến thế . Ông Hậu uống với ông Cầm Ngoan nên không địch nổi, say nằm lăn ra sàn.

Chúng tôi đến huyện Sông Mã bà con lại giữ 2 đoàn ở lại dự múa xòe và uống rươụ, trong cuộc uống rượu đêm ấy ai cũng say sưưa lắm . Sau bữa rượu ấy, hai vị chủ tịch say rượu mất một ngày. riêng chủ tịch Cầm Ngoan say lám nằm dài ra không biết gì, Trời tháng Năm nóng , thế là ông Hậu đành ngồi quạt cho ông Cầm Ngoan suốt đêm , hôm sau ông Cầm Ngoan tỉnh rượu nói với ông Hậu “chúng ta say là vì tình vì nghĩa mà say ” Chương trình lên Sơn La làm việc mất đứt một ngày vì những bữa rượu nhưng lại đạt kết quả rất tôt : Tất cả những văn bản cấp dưới chúng tôi soạn thảo đệ trình lên, hai vị chủ tịch đều ký hết , không có điều gì thêm bớt cân nhắc Đến khi kết thúc cuộc đi làm việc cả hai tỉnh đều kết luận là đã hoàn thành tôt đẹp . Từ chuyện này, chúng tôi rút ra kết luân : lên làm việc với các tỉnh miền núi, vấn đề không phải là đề án dài hay ngắn, mà cái chính là tình cảm hai bê đối với nhau nhưư thế nào . Mà cái tình cảm đó phải được thể hiện trong bữa rưượu, uống càng say thì đối tác càng có niềm tin và quý trọng lẫn nhau .

Ông Đà kể tiếp : Cũng câu chuyện uống rượu, tôi xin kể câu chuyện thứ hai : lúc đó tôi phụ trách Ban Kinh tế mới của Hà Tây

Thưường có việc đưa dân lên vùng cao. Mỗi đợt đi nhưư vậy, cỏn bộ phải đi theo. Đợt ấy có ông Nguyễn Văn Thủy ngưười huyện Đan Phượng là người dẫn đoàn. Mới lên đến Yên Châu , địa phương cũng mời uống rưượu, ông Thủy uống quá say đến mức “tè ra quần”thế mà ông chủ tịch Yên Châu lại coi ụng ấy như người bạn tôt, ông ta phân công bà vợ đi tìm quần áo thay cho ông Thủy, giặt dũ cho ông ấy . Sau cuộc đi , khi về đến Hà Tây chi bộ họp ra nghị quyết kỷ luật cảnh cáo ông Thủy, những lần xuất quân sau, khi đi đều lấy tấm gương ông Thủy để nhắc nhở. Tưởng nhưư thế là tôt, ai ngờ lên đến Yên Châu người ta đều hỏi thăm “Bác Thủy có lên không ” và bà vợ ông chủ tịch cũng hỏi thăm bác Thủy. Công việc không đạt yêu cầu, ngưười ta phải đưa bác Thủy lên. Vùng cao nơi nào không muốn nhận dân thì bác Thủy lên nói với chủ tịch nơi ấy hiệu quả hơn cả lãnh đạo tỉnh Hà Tây hay lời nói của Ban Kinh tế mới . Cuối cùng kết thúc năm ấy, ông Thủy được bình bầu là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đưược các cấp khen thưưởng .

Chúng tôi rut ra một kết luận : đối với đồng bào dân tộc, người ta quý nhất là khách thể hiện nhiệt tình với chủ , và nhất phải là uống rượu, càng say càng tốt. Chúng tôi cũng có kinh nghiệm khi đi lên miền ngược nếu muốn chống say thì lấy cái cuống lá dong nhai lấy nưươc thì không say. Ông Phan văn Đà cũng kể rằng đã có lần ông lên miền núi, chủ mời rượu ông từ chôi thế là họ đổ rưượu lên đầu

Về chuyện đưa văn nghệ lên phục vụ đồng bào miền núi, cũng có chuyện là sau khi kết nghiã, tỉnh Hà Tây đưưa đoàn chèo Hà Tây lên hát. Sau đêm hát, văn phòng hỏi các cô địa phưương rằng :

- các cô xem thấy thế nào ?

- chúng em xem thấy hát rất hay, nhưưng mà chúng em không thích vì mỗi chị văn công có một cái “ấy” thế mà các chị tung ra nhiều “hy”quá

-Lại có một chuyện khác là văn phòng UBND tỉnh Hà Tây có ông Phó Văn phòng tên là Nguyễn Văn Hy , lên họp mặt hai tỉnh giời thiệu ông Nguyễn văn Hy, nghe tên các bà cưười ầm lên . Hỏi tại sao lại cười, các bà nói thật “tên Hy là chỉ cái chỗ kín của phụ nữ trên vùng cao đấy ” Thế là UBND tỉnh Hà Tây đổi tên Nguyễn văn Hy thành Nguyễn Văn Hỷ

Lên Sơn La công tác, ông Phan Văn Đà có một bài thơ :

Giữa ngày nắng đẹp tháng Năm

Hà Tây rộn rã nức lòng niềm vui

Hướng về Tây Bắc xa xôi

Tìm người kết nghĩa sánh đôi bạn cùng

Đưường đi trăm núi ngàn sông

Cheo leo vực thắm xuyên lông trong mây

Sơn La ơi ! Đẹp qua này !

Mộc châu thược dược nở ngày tháng Năm

Đàn bò vui chạy tung tăng

Xòe ban một giải thẳng băng lên đồi

Châu Yên gái đảm đây rồi

Hạ tàu bay Mỹ giữ trời tự do

Muỗm thơm , mía ngọt đang chờ

Cùng làm công nghiệp phất cờ tiến lên

Mai Sơn mảnh đất dịu hiền

Máy bay nghiêng cánh bên triền bãi ngô

Núi rưng trùng điệp nhấp nhô

Đất đai nhiều lắm tha hồ dựng xây

Tới thăm thị xã nơi đây

Núi non hiểm trở giặc xây nhà tù

Xà lim hầm tối năm xưa

Biến thành trường học dựng cờ đấu tranh

Cây đào Tô Hiệu tên anh

Nẩy mầm bất tử, chĩu cành tự do

Mường La chưa đến bao giờ

Mà sao mới gập tựa hồ đã thân

Điệu xòe chân bước qua chân

Mừng nhau mà chúc rượu cần vòng tay

Gương Lò văn Giá còn đây

Sáng trong tình bản đẹp say núi rừng

Chào hai em bé anh hùng

Đẹp như ư bài hát hòa cùng suối reo

Quỳnh Nhai ơi thật đáng yêu

Pu luông cao vút gió chiều ráng thu

Sông Đà thấm mát nương ngô

Phong lan khoe sắc bốn mùa ngát hưong

Về đây sông Mã kiên cường

Tài nguyên giàu có mở đường văn minh

Bản Mèo điện sáng lung linh

Rừng nuôi cánh kiến nghĩa tình nước non

Thuận Châu biển lúa xanh rờn

Hẹn mùa năm tấn hội còn càng vui

Đèo Pha đin dốc ngang trời

Càng say càng mến đất người Sơn La

Kìa trông mây trắng xa xa

Mây hồng bay tới như ta với mình

Mường La gái đảm lại xinh

Hà Tây trai giỏi chúng mình gập nhau

Quyết tâm cao mấy cũng trèo

Sâu bao cũng lội, khó nghèo quản chi

Đường lên giàu có ta đi

Chung lòng chung sức ắt thì thành công


Mải nghe xong bài thơ của anh Đà thì xe đã sang qua dốc Kỳ Sơn, nhìn qua cửa xe chỉ thấy mờ mịt mây và mưa bụi, phía xa xa là núi và cánh đồng . Yên Giang – một cây bút Hà Tây lúc này cũng góp chuyện :

Như các anh đã biết, vùng Xứ Đoài và Sơn Nam thựợng là vùng đất mà đã có nhiều người nghiên cứu . Chị Đỗ thị Hảo, bác Giang Quân đều có tác phẩm , nay chi hội VNDG Hà Tây đã là một bộ phận của Hội Văn nghệ Dân Gian Hà Nội, thời gian vừa qua, anh em Hà Tây chúng tôi cũng đã có một số đầu sách, nay xin giới thiệu để ai cần thì xin gập tôi mà lấy đọc . Đó là :

- Hương ước cổ Hà Tây

- Văn bia Hà Tây và câu đối cổ Hà Tây

- Lễ hội Hà Tây tập 1 và tập 2

- Diễn xướng VNDG Hà Tây

- Hát Dô, hội Giã La, hội Đền Và

- ẩm thực dân gian Hà Tây

-- ẩm thực của làng Đồng Vàng

- Kho tàng VHDG Hà Tây gồm 700 trang A4

- Chương Mỹ xưa và Nay

- Thường Tín đất danh hương

- Đất và con người Phú Xuyên

- Tạp chí Tản Viên Sơn truớc là của Hội VHNT Hà Tây nay là của Hội VHNT Hà Nội , tái bản ra từ tháng 9-2008 , mỗi tháng ra một số, . Như vậy bên cạnh báo Người Hà Nội, lần đầu tiên, Hội LHVHNT Hà Nội có tờ tạp chí đi sâu vào nghiên cứu học thuật.

Trong BBT của tạp chí có chị Đỗ thị Hảo và Yên Giang , chúng tôi dự định có mục Bảo tòn và phát huy Văn hóa truyền thống của Thăng Long Hà Nội, sau đó, chúng ta giới thiệu các đặc trưng văn hóa của 64 tỉnh thành trong cả nước

Cũng xin nói thêm về Tản Viên Sơn, đây là ngọn núi mà từ thế kỷ XIV cụ Nguyễn Trãi đã gọi là Núi Tổ , bởi đức thánh Tản cũng đứng đầu Tứ Bất tử

Xe đã đi qua Hòa Bình , chỉ khoảng 60-80 km là đến Mộc Châu, cách Sơn La 180km nữa. Câu chuyện chính đã xong, mọi ngưười kể truyện tiếu lâm cho vui chuyến đi . Yên Giang đọc câu đối về nghề xẻ gỗ :

Hai thằng lom khom, cúi nom lỗ nẻ

Hai thằng thật khỏe cứ lỗ nẻ mà nom

Câu đối về đánh cờ tướng

Vừa tròn vừa méo

Vừa méo vừa vuông

Dắt nhau lờn giường

Đánh vãi ra nước

Câu đối về con ba ba :

Mum mup như mu của chị

Tý hỵ nhưu đầu của tôi

Ngày ngày nó ăn nó chơi

Đêm đêm nó chui vào mu chị

Những câu đố kiểu đố tục giảng thanh làm mọi người cưoi vui vẻ nhìn ra xe đi lên càng cao càng mờ mịt , bây giờ đã hết đỉnh, xe bắt đầu đổ đèo, lái xe bật đèn pha rội vệt sáng trong sương . Đến lưng đèo thì hửng nắng, khách xuống xe ngắm thị xã Mộc Châu , họ lấy máy ảnh ra chụp phong cảnh ghi lại cái thời khắc nắng đẹp ấy.

Trên đưường số 6 có một quán ăn – tạp hóa mang số hiệu 64 rất lớn, đó là nơi dừng đỗ cho khách ăn uống và lái xe nghỉ ngơi Cửa hàng có nhiều món ăn đón khách, nhưng chưưa có món nào mang cái vẻ hương rừng, mà chỉ thấy món ăn đồng bằng . ăn xong đi tiếp, no cơm ấm bụng, người ta lại nhớ tới thơ của Bùi Giáng

Bây giờ em ở nơi đâu

Cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao

Bay giờ riêng một mình tôi

Có hai con mắt khóc người một con

Dạ thưưa : Xứ Huế bây giờ

Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương

Bình thơ Bùi Giáng xong, lại có người đọc thơ But Tre

Sông Hồng nặng đỏ phù sa

Đỏ thì đỏ thật, thua da Bác Hồ .

Xe đi qua Mộc Châu, cái thị trấn miền núi này đã có nhà xây 2, 3 tầng với các kiểu kiến trúc tùy ý. Không có gì lôi cuốn, ngưười ta lại nói chuyẹn tiếu lâm cho quên mệt mỏi

không biết ai đã đố rằng :

            Tam nam đồng tọa

            Thượng hạ lục đầu .

thì đã có ngưười đối trả bằng câu

            Ngưu- nữ tại điền trung

            Nhất lôn tiền – nhất lôn hậu

Dọc đường lên, đã nhìn thấy hoa ban mọc hai bên vách , có hai loại hoa ban đó là hoa ban trắng và hoa ban đỏ. Ban đỏ có nhiều ở huyện Quỳnh Nhai , còn trên đường 6 chủ yếu là gập hoa ban trắng Hoa ban thường nở vào thỏng Ba, khi hoa nở thì lá rụng hết. Ở Hà Nội người ta cũng mang hoa ban về trồng nhưng cây chỉ xanh lá mà không trổ hoa lần nào , cũng như cây vú sữa trong vưườn Bác, cây vẫn sống nhưng không có quả

Xe đi qua Mộc Châu sang huyện Yên Châu. đặc sản của Yên Châu là xoài, tại Yên Châu có di tích nổi tiếng đó là Ngã Ba Cò Nòi Trong chiến dịch Điện Biên Phủ đây là con đưường huyết mạch nối với Tây Bắc . Ngoài quốc lộ 6 đi lên Tây Bắc còn có ngả từ Phú Thọ qua Thanh Sơn sang Tạ Khoa để vượt sông Đà

Tất cả các ngả đều phải qua Ngã Ba Cò Nòi. Đến nơi đó, ta chỉ còn cách Sơn La 36 km, đây là nơi mà Bộ Chỉ huy Pháp đã tập trung đánh chặn nên bộ đội, dân công và Thanh niên xung phong đã hy sinh nhiều lắm .

Trên đưường đi Tây Bắc có một cây cầu nối với Sơn La , Lai Châu và Sa Pa , đó là cầu Hang Tôm do Trung Quốc bắc qua sông Đà để đưa pháo nặng do Liên xô và Trung Quốc chi viện cho Điện Biên Phủ . Có thể sau khi hoàn thành Thủy điện Sơn La cái cầu đó sẽ ngập chìm trong nươc, chưa biết có dự án làm cây cầu khác cho dân hay không . Sơn la ngoài người Thái có ngưười HMông , người HMông từ Trung Quốc sang Việt Nam từ thế kỷ XVII, họ có đặc điểm không sống ở dưới thấp mà thưường ở độ cao trên 700 met, họ sống theo bản nhỏ, mỗi bản có chừng 20 nóc nhà. Khi mùa mưưa, họ có đủ nước sinh hoạt, nhưng đến mùa khô thì khó khăn lắm , họ phải đi rất xa mới có nưước để sinh hoạt hàng ngày, chính vì thế người HMông không co cách sống vệ sinh như người Kinh.

Người HMông có một cách tắm đặc biệt : đó là tắm gió. Người ta tìm một cái hang hút gió, tại đấy, họ lao động nặng để ra mồ hôi và kỳ cho ra hết ghét bẩn , rồi xoay người trứoc gió để dùng gió thổi bay hết ghét đi.


Buổi chiều Ngày 2/3/ 2009


Sau khi sau khi nhận phòng, tôi đi chơi thăm phố phường Sơn La , có nhiều dẫy phố nhỏ, buôn bán hỗn độn giống như những chợ cóc tại Hà Nội

Vào thăm nhà ông Đạt, một nhà báo đã nghỉ hưu tại phố Tô Hiệu, năm nay 72 tuổi, Trong căn nhà nhỏ, hai vợ chồng bố, hai vợ chồng con cùng hai đứa cháu nôi sống chung chật hẹp. Họ không được xây dựng, vì khu nầy chưa có quy hoạch

Đêm hôm ấy, chúng tôi vui cùng CBCNV của Khách sạn, Tố Uyên lại giở nghề hát chèo, hát quan họ làm đẹp, còn phía KS thì ông Vũ Tiến Quân bí thư chi bộ kiêm giám đốc khách sạn đọc bài thơ hay do anh sáng tác. Tiếng nhạc dân tộc, tiếng đọc thơ chen nhau. Khách sạn này có nhiều cô gái là con của các dân tộc tham gia hay sao mà họ thành thạo công việc phục vụ, múa hát chuyên nghiệp quá. Không ngờ hôm sau, tôi hỏi cô phục vụ phòng rằng : Hôm qua em có múa hát không”? Cô trả lời : “Có, em ở tốp hóa trang người Khơmú, nhưng em là người Thái đấy”


Ngày 3/3/2009


Khoảng 9 giờ sáng, chúng tôi đã đến bờ công trình thủy điện Sơn La. Đây là một công trường lớn, xe vận tải toàn loại trọng tải lớn chạy đi chạy lại, Nhìn xa xa đã thấy xây xong đập chắn, xây xong 12 cửa xả nước, nhưng chúng tôi không được đi sâu vào bên trong. Chỉ đứng bên ngoài hàng rào mà chỉ chỏ nói cho nhau biết một cách phỏng đoán. Đang chỉ trỏ với nhau thì bảo vệ công trường xuất hiện, họ không cho chụp ảnh, nhìn ngó sâu vào công trường và yêu cầu chúng tôi giải tán. Thôi thì tránh voi chẳng xấu mặt nào, cả đoàn bảo nhau rút quân. Nhìn chung, thủy điện Sơn La lúc này chỉ là một đại công trường với những xe bê tông cỡ lớn đang chạy ra, chạy vào.

Bên đường đi tói công trường đã không còn bóng bản cũ làng xưa. Đôi chỗ nhìn thấy vết vườn ruộng không người cầy cấy. Tất cả đã đi xa rồi.

Buổi chiều, đến Bảo tàng Sơn La, cô gái Thái đang thuyết minh về các hiện vật, đang nói về người Dao. Cô nói : “người Dao sang Việt Nam từ thế kỷ XV, họ di cư từ Trung Quốc sang, nên mang theo chữ Hán và sau này là chữ Nôm nhưng Hán tự nhiều hơn. Người Mường cũng sinh sống tại Sơn La, nhưng ở lẫn với người Thái trắng. nên về trang phục vừa có nét Mường, lại vừa có nét Thái. Khác với trang phục người Mường ở Hòa Bình,Th.Hóa


Với 57% dân số Sơn La là người Thái, trong đó có cả Thái Trắng và Thái Đen. Phụ nữ Thái trắng thường mặc áo màu trắng, có khoét hình quả tim ở trước ngực, còn phụ nữ Thái đen mặc sáo kín cổ, Tiêu chí phân biệt hai ngành Thái là cái cổ áo, còn màu áo thì mặc thế nào cũng được m.

Người Thái trắng búi tóc ra sau gáy, đội nón, còn người Thái đen thì búi tóc lên đỉnh đầu và đội khăn piêu. Tại huyện Yên Châu có một nhóm người Thái, gọi là Thái Yên châu mặc váy đỏ, áo đen.

Trong lễ phục của thày mo có kiểu cách riêng.

Áo ngắn của đàn ông Thái đen và Tháu trắng tương đối giống nhau

Người Thái quan niệm linh hồn ở ẩn trong áo, nên trong lễ cưới có tục ghép áo chàng trai và cô gái để họ gắn bó cùng nhau. Sau này, khi chết đi, họ về Mường Trời ghép áo nhận lại nhau, tiếp tục cuộc sống vợ chồng.

Nhà có nhiều con trai thì các con dâu phải tặng áo cho bố mẹ chồng.

        Con dâu cả tặng áo đỏ.

        Con dâu thứ tặng áo trắng

        Con dâu út tặng áo nhiều mâu

Đến khi bố mẹ chồng mất, thì con dâu lại mặc cái áo đó để đưa tiễn linh hông bố mẹ chồng sang thế giới bên kia. Tất cả phong tục này hiện đang được nhân dân Sơn La lưu giữ

Trước đây người Thái còn kiêng cắt áo cho chồng vào tháng Ba âm lịch (tháng Tám người Thái) vì đó là thời gian bận rộn làm việc, người chồng đang ở trên nương, nếu người vợ ở nhà cắt áo thì linh hồn chồng sẽ lìa khỏi xác để về nhà nhận nháo mới, thì chồng sẽ chết. Cho nên người ta chỉ cắt áo vào ngày nông nhàn, vợ chồng cùng ở nhà.

Người Thái có nghề trồng bông dệt vải, xe chỉ rất cầu kỳ.

Trước đây lên nhà người Thái , người ta không coi trọng vàng bạc là sự giàu sang phú quý, mà ở số vải vóc chăn đệm thổ cẩm nhiều hay ít. Một chiếc khăn piêu đẹp là nói lên sự khéo léo của con gái trong nhà, Các cô khi lấy chồng phải phải có khăn piêu để tặng họ hàng chú rể. Nhưng bố mẹ chồng cũng phải chuẩn bị trâm cài tóc, để tặng cô dâu. Người ta còn chuẩn bị vòng bạc để bó mẹ chồng tặng cho con dâu và biếu mẹ vợ để tạ ơn sinh thành, nhưng khi bố mẹ vợ mất thì trao lại đôi vòng bạc đó cho con gái và con rể. coi như ông bà đã hoàn thành nhiệm vụ của mình với con cái.

Sơn La có 250km đường biên giáp với Lào nên có người Lào sống lẫn với người Thái. Người Lào có tục làm Tết Tắm Phật (lễ té nước) Họ sống ở bản Mường Và huyện Sông Mã. Trang phục của người Lào mang nét Thái, có lẽ họ dùng hàng trao đổi với người Thái nên quần áo giống người Thái

Tại Mường Chanh Sơn La, chỉ có người Thái biết làm gốm. Tại đây, có nhiều đất sét, caolin nên làm chum, vại bằng bàn quay. Hầm lò khoét sâu trong lòng đất, nung ba ngày ba đêm bằng củi lá xanh. Muốn có màu đen thì nung bằng lá cây hạt dẻ,

Ven sông Đà có các dân tộc Hán, Khơ Mú, cũng sống lẫn với người Thái,

Người Mông ở Sơn La có 3 dòng: Mông trắng, Mông đen và Mông hoa. Người Mông trắng thường cạo trọc đầu, chỉ để ở đỉnh đầu một túm tóc.

Đàn ông đội mũ nhiều mầu, đàn bà mặc váy trắng xòe rộng,

Người Mông hoa cũng mặc váy xòe rộng, nhưng váy thêu cực kỳ tinh xảo, họ quấn tóc ở trên đầu.

Người Mông đen búi tóc và đội khăn,

Người Mông không dùng bông. Mà dùng lanh để se sợi, dệt vải. Họ thu hoạch lanh về, tước vỏ, lấy tơ, dệt thành tấm vải. Khi dệt được tấm vải trắng, họ lấy sáp ong vẽ hoa văn , sau đem nhuộm chàm, chỗ nào có sáp ong thì không thấm màu, nơi đó dùng chỉ thêu trang trí. Làm bộ trang phục bằng vải lanh như thế phải hàng năm mới xong.

Sợi lanh cũng được chế tác rất cầu kỳ, họ lấy vỏ cây lanh đập dập, tước vỏ rồi ngâm nước suối một ngày, Sau đó vớt ra, đun trong sáp ong đẻ cho cứng sợi, lấy ống tròn lăn qua lăn lại cho sợi bóng lên sau đó se sợi dệt.

Người Mông và người Dao có kỹ thuật vẽ hoa văn rất tinh tế, hoa văn không có mẫu, mà vẽ theo trí tưởng tượng của mỗi người khi nhớ các hiện tượng thiên nhiên,

Trang phục của người Dao :

Người Dao có các họ người Dao đỏ, Dao tiền, và Dao quần chẹt

Phong tục người Dao có lễ cấp sắc cho những người đàn ông đến tuổi trưởng thành, Ai cũng phải trải qua cái lễ ấy. Người nào nghèo, chưa làm được dù chết đi, con cháu vẫn mang nợ với bản làng.

Người Dao đỏ trước đây có tục cạo trọc đầu rồi bôi sáp ong, mỗi năm làm lại một lân. Nay đã bỏ phong tục đó vì mất vệ sinh.

Người Dao không ăn thịt chó, vì họ thờ con chó ngũ sắc đã có công cứu vua thoát nạn, được vua gả công chúa để tạ ơn. Con chó đã sinh ra tộc người Dao, Người Dao ở nhà đất, Trong nhà dành một gian nhỏ để cúng Bàn vương. Trang phục của Dao có nhiều hình ảnh để nhớ gốc tổ là Bàn vương và con chó ngũ sắc.

Trong âm nhạc, người Thái Sơn La có trống, khèn bè, và cái tù và vừa dùng để báo hiệu, vừa dùng để uống rượu,

Trong bảo tàng có trưng bầy nhà mồ của người Thái đen, theo quan niệm của người Thái họ không cải mả như người Kinh mà thường đào sâu chôn chặt. Họ chôn quan tài xuống đất, hay để thiêu cháy trên đống củi. Họ mang quần áo, tài sản đã chia cho người chết bỏ vào trong nhà mồ. Người Thái quan niệm nhà mồ chóng sụp đổ thì linh hồn mới siêu thoát, con cháu mới làm ăn được

Với quan niệm như vậy, người ta thường chuẩn bị vật liệu xấu để làm nhà mồ nhỏ, để khi có việc thì úp nhà mồ lên mộ,

Nhà mồ cũng chia làm hai loại,: của nam thì có lá cờ dài 15 đến 17mets, xếp dài theo chiều nhà mồ, Nhà mồ người nữ thì xếp các lá cờ vòng

Muốn biết người đã chết là quý tộc hay hèn kém, người ta xem lá cờ ở đầu nhà mồ, Hiện nay lá cờ vẫn theo quy định có chiều dài bằng 100 lá cờ nhỏ ghép lại,

Theo lời người già khì linh hồn người đàn ông về đất Mường Trời thì linh hồn cưỡi ngựa bay thẳng lên lá cờ và chỉ đi trong ba ngày đêm. Nhưng linh hồn người phụ nữ thì dọc đường đi hay nhặt nhạnh rau cỏ bên đường nên đi hàng năm, nên các lá cờ phải xếp theo hình xoắn ốc Phong tục đó nay vẫn bảo lưu tại Sơn La.

Người chết chôn xong thì tử 3 đến 10 ngày phải làm lễ gọi linh hồn trú tại nhà mồ về thờ tại gia đình và gia đình duy trì lễ cúng cơm 10 ngày/1lần

Sơn La là vùng đất giàu sản vật, hai con sông Mã, sông Đà đều có dấu hiệu người tiền sử cư trú. Tai huyện Mường La các nhà khảo cổ đã tìm ra nhiều hiện vật ở bản Quỳnh Nhai (trong hang Con Moong bản Quỳnh Nhai)

Trong lịch sử, khi cư dân chuyển lên sống tại các mái đá để lại nhiều vết tích


Thăm di tích nhà tù Sơn La


Dời Bảo tàng Sơn La, chúng tôi đến thăm di tích Nhà tù Sơn La. Đến nơi mới thấy : trái với các dự đoán ở nhà bây giờ nhà tù cũ đã bị phá tan hoang. Người ta chỉ giữ lại cái cổng ra vào và cacs móng gạch vết tích các buồng tù cũ, Các phần chiều cao, mái nhà không hiểu vì ý gì mà người ta phá hết, thành ra khi chúng tôi đên thăm chỉ thấy ngổn ngang một công trường xây dở. Trèo lên chòi gác cao của nhà tù cũ, nhìn thấy thành phố Sơn La với nhiều mái nhà hiện đại đang hiện rõ. Trông cảnh này, có lẽ cái hồi 1930-1945 nơi đây vắng vẻ lắm, âm u khuất trong sương mù.

Trong lịch sử, nhà tù Sơn La là nơi lưu đày hàng ngàn người yêu nước, nhưng khi chúng tôi đến thăm trong bảng tên các tù nhân chỉ có tên người đã làm nên danh phận lãnh đạo. Rât nhiều người chiến sĩ cách mạng khác đã trở thanhg vô danh. Một sự nịnh hót lãnh đạo, phỉ báng quên lãng người dân, thường thấy trong đời sống chúng ta đã ăn sâu vào ý thức mỗi con người khi có vai, có ghế. Có một điều đáng buồn là trong Đoàn chúng tôi có vị Lão thành Cách mạng Chu Hà (tức Lã Xuân Choắt ở 62 phố Tôn Đức Thắng Hà Nôi) đã từng tù ở Sơn La, nay đến thăm nhà tù cú, chỉ thấy tên các ông to mà mình không có tên, bác rất buồn. Sau lần đi đó, bác ốm và qua đời. Chúng nó “vô tình”quá bác ơi ! Trong hàng ngũ nhà văn tôi còn biết Hoàng Công Khanh cũng đã tù ở Sơn La, sau này trong đời thường cũng bị dằm vập, nhưng ông không chịu thua, mà để lại cho đời tác phẩm “Vằng vặc sao Khuê”

Thăm nhà tù Sơn La hôm nay tôi có cảm giác trống vắng. bởi toàn bộ di tích cũ người ta đã phá đi chỉ để lại vết các móng gạch. Không biết tại địa điểm này, người ta sẽ xây nhà tù khác hay một cơ sở thương mại như đã xây tại nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội chăng ?

Thật buồn cho ông Tô Hiệu nơi giam ông năm xưa để chỏng chơ một cái bát hương nhỏ không có vết tích nén hương nào đã thắp lên để nhớ ông. Ngoài sân, có một cành đào (đáng ra phải là cây đào cổ thụ chứ đâu lại là một gốc đào nhỏ) cắm trong chậu đất, ngoài có gạch quây để “giũ gìn một di tích cách mạng VN”

Tên Tô Hiệu đã được đặt cho một phố lớn tại Sơn La, đường phố có hai chiều đi, về, nhưng ơt trên phố có nhiều nhà hàng đã đóng cửa sớm, Vẳng từ xa là tiêng ếch, chẫu chuộc kêu vọng lại. Đi hết dãy phố 1500met;Cảnh tượng vắng như Hà Nội trước năm 1960

Buồn qua, tôi và các anh Bùi Dư, Văn Sáu quay về Khách sạn .

Sơn La không có gì để lại cho mình thương nhớ, Một Sơn La giàu có, Sơn La cách mạng mà chưa ai biết trân trọng, chưa ai khai thác, chỉ ăn xổi ở thì, mông muội vô tình vô nghĩa hay sao?


Ngày 4-3-2009


Hôm nay là ngày về, Có người dậy sớm đợi giờ, Chia tay lễ tân, tôi bảo

   - Các cô không biết kinh doanh, chúng tôi đi du lịch nên cần gì bia, rượu, bánh kẹo mà khách sạn buôn nhiều thế. Cái mà chúng tôi cần là sản vật địa phương, là đồ thủ công mỹ nghệ của đồng bào các dân tộc để khi về Hà Nôi có bầy ra nhớ lại, cũng tự hào về một chuyến đi xa.

Xe khởi hành trong tình cảm lưu luyến, Anh giám đốc và 11 nhân viên ra xe vẫy. Cái tình ở lại nơi đó. Chúng tôi về với môi trường khác đây!

Xe về qua Cò Nòi, cả Đoàn dừng lại chụp ảnh kỷ niệm, tôi tò mò lên chân gò , thấy ở đây có một tấm biển “ Đây là nơi yên nghỉ các liệt sĩ TNX P trong chiến dịch Điện Biên Phủ” Đã có tấm bảng ghi, sao không có một chỗ cắm nén hương để du khách tưởng niệm, Chỉ có trên cao tít có tượng 3 người TNXP.

Xe về đến Mộc Châu , trời nơi đây vẫn nóng 31, 32 độ. Trới xanh không một gợn mây, Nóng quá, trong phố đã thấy có nhiều cây chết khô

Đang lúc buồn ngủ, Tố Uyên lại hát nột đoạn Kiều theo điệu đào liễu, Qua Mộc Châu, xe bắt đầu đổ dốc, Từ trên đèo nhìn xuống, thấy trên các đỉnh núi xa có sương mù lan tỏa.

Xe xuống phía dưới thấy sương mù che kín mặt đường, xe đi phải bật đèn cốt Hai xe gập nhau mới biết là xe to hay xe nhỏ.

Các xe đi lên phần lớn là xe chở bê tông, chở thiết bị thủy điện, hoặc những khung sắt quá khổ được xe riêng của Lilama chở lên công trường.

Xe càng xuống dốc thì mây càng mù mịt, Đã đến địa phận huyện Tân Lạc lại gập sương khói mù mịt . Đường dài đến đây đã mỏi, nên có vài xe táp lại bên đường để nghỉ. Chỗ này cách Hà Nội 120km, bên đường có một dẫy lán, mái lợp đã xơ xác hoang tàn, phong cảnh nom thật tiêu sơ. Đây cũng là nơi có nhiều người mang phong lan kiếm ở trong rừng bán cho khách. 14h20, xe đi qua Tân Lạc đến Cao Phong. Hai bên đường có trồng nhiều chuối, mía, có một số nơi trồng cây bạch đàn, còn mía thì vô kể.

14h40 xe vào đầu dốc Cun, những năm kháng chiến tôi đã qua đây, lúc đó dốc Cun hoang vắng, nay là con đường rộng, xuống dốc Cun là thành phố Hòa Bình, Trên con đường vào thành phố có trồng bàng, những cây bàng cổ thụ, cành khẳng khiu, đang đâm lá non khắc lên bầu trời một nét vẽ. tạo nên cảnh phố cổ.

Đến đây, anh chị em đã cảm thấy cái phút chia ly sắp đến, Ai có trò vui gì , muốn nói gì đều mang ra nói hết. Bà Thanh-một bà già trên 70 tuổi-, hát bài ca từ năm 1954 theo điệu “xẩm tàu điện”


Gió đưa kĩu kịt cành tre

Em ngồi tựa cửa bên hè quay tơ

, Đời người được mấy giấc mơ

Chàng mơ chinh chiến, em mơ bóng chàng

Chàng đi chiến thắng vinh quang

Vì dân, vì nước, vì chàng, vì em

Lửa hồng còn cháy trong tim

Thực dân còn muốn chôn dìm dân ta

Vì chàng nên phải xông pha

Để em ra sức trăng gia cấy cầy

Quay quay, cho cánh tơ quay

Cho tơ óng muốt em may áo chàng


Đi qua Kỳ Sơn xe lại lên dốc Kẽm, lại đi vào trong mây. Cho đến 15 giờ còn cách Hà Nội 42 km. Xe qua Chương Mỹ, đường đang mở gập mưa, nên lầy lội, nhiều ngôi nhà mới làm đều ở xa hái bên đường. Hình như có sự mở rộng con đường này

Đến lúc này, Yên Giang lại cất tiếng, :

-Các bạn đang đi vào vùng địa linh nhân kiệt, Đây là con đường thượng kinh đi từ Thanh Hóa ra Thăng Long qua con đường đèo núi này. Tại đây có họ Đặng đã từ Lương Xá lan ra toàn quốc, có nhiều người là con họ Đặng đã mang vẻ vang cho dòng họ,

Thời Trần có Đặng Ma La đỗ thám hoa năm 13 tuổi

Thời Tây Sơn có Đặng Tiến Đông đại phá quân Thanh

Thòi cách mạng có Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh là lãnh tụ cách mạng Việt Nam

Ở Chương Mỹ này có núi Trầm (Tử Trầm Sơn) có động Long Tiên, trong động có tấm bia của Hoàng Trọng Phu. Tại Ba la Bông đỏ có nhóm ca trù, có con rùa đá trên thân khắc bài văn nôm về ca trù. Đây có núi ông Bụt, còn là quê của Ngô Sĩ Liên

Xe đang vào thành phố Hà Đông, có thời kỳ người ta định lập đô ở Xuân Mai cho nên bây giờ có bài ký “Xuân Mai – thành phố bỏ hoang”

Xe đi qua làng Ba la, thời vua Khải Định thì đổi tên làng là Văn La

Anh Yên Giang kể nhiều chuyện về Chương Mỹ, giới thiệu quyển sách

Chương Mỹ Xưa và Nay” . Anh kể chuyện ở Chương Mỹ có một cột cờ dài 22 mét, làm bằng gỗ cây chò chỉ. Thời kỳ Hoàng Trọng Phu tổ chức Đấu Xảo có mượn cột cờ mang lên nhà Đấu Xảo

Làng ở đây có tục kết chạ : có 2 ngôi đình thờ 2 vị tướng Nam và tướng Nữ. Hai đình này có tục đến ngày lễ hội thì ông Tương Nam mang trầu cau sang đình Tướng Bà.

Sau ba ngày xa Hà Nội, hôm nay trở về nhìn cảnh Hà Nội mưa phùn bẩn đường, người đi trên phố mặc áo mưa và co ro vì rét. Thật khác với vẻ ấm áp nóng nực ở Sơn La. Riêng tôi, về tới đây lại thấy mệt mỏi và đau đầu Có lẽ vì khí hậu ẩm rét này không hợp với sức khỏe của tôi

Chuyến đi này vắng Nguyễn Khôi nên không được nghe kể nhiều về Tây Bắc, nhưng trong chuyến đi này lần đầu tiên có Văn Sáu tham gia, cho anh ta được hưởng cái không khi vui trong hội VNDG Hà Nội


Kỷ vật mà tôi mang từ Khách sạn Công Đoàn Sơn La về Bài thơ của ông Vũ Tiến Quân – giám đốc KSCĐ Lạng Sơn.


GỬI EM CÔ GÁI KHÁCH SẠN CÔNG ĐOÀN


Anh đã từng nghe nhiều về em

Nay quả thực có bao điều muốn nói

Một lời chào thôi – quên đi bao mệt mỏi

Một nụ cười dịu cơn khát đường xa


Anh đến đây như trở về nhà

Chuyện em kể say, hay say trà châu Mộc

Ai cũng bảo Sơn La lắm đèo nhiều dốc.

Anh thấy Sơn La nhiều nhất tình người.


Lỡ lo hoài nơi đất lạ xa xôi

Thân thương lắm, cũng canh cua cà muối.

Thêm ếp khẩu măng lay để lòng anh bối rối.

Em chẳng nhiều đâu mà sâu thẳm khôn cùng


Một chút bâng khuâng biết nói hay dừng

Đủ để thương, để yêu rồi nhé.

Tần tảo sớm khuya, ôi bàn tay nhỏ bé.

Làm đẹp sơn quê, làm đẹp lòng người.


Nhớ vòng xòe. Nhớ khúc hát người ơ

Anh ngỡ ngàng vẫn là em gái nhỏ.

Và câu tiếng Anh không sai âm gió

Và chính tay em đào đất xây nhà.

Thảo nào tiếng lành bay mãi, bay xa.


Ngày mai anh phải xa rồi đó,

Thêm yêu miền Tây Bắc có sắc đào thắm đỏ.

Có những người đồng nghiệp giỏi giang

Đã gọi bốn phương vì chu đáo, dịu dàng.


Anh thầm mong có ngày trở lại

Một khoảng trời-

Một niềm tin sáng mãi.

Một khách sạn Công Đoàn có em gái Sơn La


Bài thơ này, giám đốc Quân đã phô tô nhiều bản, cẩn thận chu đáo tặng đoàn chúng tôi, coi như món quà lưu niệm của Sơn La.


17-12-2009



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 28.6.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn