Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        CHƯƠNG 8.



 Tầng mỏ đã ra than. Bụi bốc lên dạt rộ. Những cơn mưa phùn rải nhẹ rồi nắng. Nắng lên sương tan là tầng bốc bụi. Than vẫn ra đều đặn dù nơi này nơi kia ách tắc, tầng dưới tầng trên gặp sự cố. Như làm nông nghiệp, làm than cũng phải có mùa bởi còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Ngày xuân do rét mướt, do mưa dầm, do người lao động mệt nhọc cả năm xả hơi sau dịp tết. Mùa hạ với những cơn mưa rào, sạt lở tầng bè. Mưa ngâu nhũng nhẵng lê thê. Mùa bão lũ, nhà cửa còn tuyềnh toàng. Gĩư chắc được nhà còn khó. Nắng nóng như nung. Người mệt mỏi uể oải dù có căng cố sức lực cũng vậy. Mùa đông gió gào gió rít. Bước ra khỏi giường đã thấy ghê ghê. Chỉ vào cuối xuân ấm áp và sang thu hanh hao. Trời se se lạnh. Việc làm than thuận lợi nhất. Tầng bãi nhộn nhịp. Bến bờ sôi động tàu thuyền, mủng mảng. Những ngày đầu xuân này, do thời tiết tốt, phải cố gắng thôi.

- Làm đi! Sao lại dừng?

- Này! Xúc vào. Nhanh nhanh tay lên.

- Đ. mẹ! Làm như b. bố ấy!

- Mặc mẹ mày!

Công việc nặng nhọc. Người ta văng tục, lâu dần thành quen. Nhất là những người không chữ nghĩa, cầm tờ giấy nặng hơn cầm mai cuốc. Than ra theo dây. Quen tính thuộc nết nhau rồi. Bỏ qua những điều gàn dở, chấp nhận thói quen lệch lạc của nhau, họ làm lụng, mắng mỏ, chửi rủa và giúp đỡ, tương trợ nhau. Than ra đều, cầm chừng, ách tắc rồi lại ra như buồn vui sướng khổ trong mỗi cuộc đời. Cực nhọc cũng thành quen với người lao động chân tay, làm lụng, khuân vác.

- Đã đi làm à? Khoẻ không? - Toàn cấu hỏi.

- Khoẻ!

- Gánh vừa vừa thôi! Lấy sức mà còn đẻ đái.

- Nặng mửa mật ra đây.

Tiếng họ dấm dẳn. Người nói người nghe không nhìn mặt nhau dù đôi khi họ cũng ngước lên.


Từ sau buổi tối khó quên ấy, Toàn cấu trở thành con người khác. Khôn khéo hơn hay hư đốn hơn. Đột nhiên hắn ít cấu véo, bớt sàm sỡ trước mặt mọi người. Ngồi cùng phu phen giải lao, Toàn tham gia tích cực vào những chuyện tiếu lâm họ kể và ran rả cười. Tối tối, hắn đỏm dáng hẳn, một mình ra phố. Thỉnh thoảng lại ghé quán bà Khảo, chị chị em em với bà khi con bé Xuơ dọn dẹp, mua gói thuốc, nói vài câu tầm phơ. Nếu Xuơ ngủ, mà con bé thường ngủ sớm, chị em thoải mái quần nhau. Miệng bà ư ử. Tay bà bấu sứt sát cả bàn tay Toàn. Lúc lâu những tiếng thầm thào to nhỏ chấm dứt, hắn nhanh nhẹn lách qua tấm liếp cửa, lững thững bước đi.



Gần chục người rồng rắn gánh gồng theo Bưởi. Con Bí, em út Bưởi đã qua tuổi hăm hai. Ở quê, tuổi ấy chưa chồng đã ế chỏng. Thấy anh trai về sau mười tám năm, hỏi nó có ra mỏ không. Thế là nó sung sướng như chim sổ lồng, chạy nhảy líu tíu suốt ngày. Anh Bưởi xa nhà quá lâu. Quên cả mặt nhưng thấy anh về, nó biết đây là nơi tin cậy. Bố mẹ lần lượt mất. Anh chị: Cam, Quýt, Mít, Ôỉ, Mơ, Bầu… lần lượt lấy chồng lấy vợ. Chỉ còn Bí. Bí ở với vợ chồng anh Cam. Thấy Bưởi về, anh chị em kéo đến, phải trải chiếu ra hè mới đủ chỗ vui vẻ sum họp trong thiếu thốn vật chất. Qúa nửa số người đến, Bưởi không biết… Nghe Bưởi nói đưa Bí ra làm mỏ, lấy chồng cho nó. Ai cũng mừng vì anh em kiến giả nhất phận. Thương thì thương nhưng bản thân còn thiếu thốn, lấy đâu mà san sẻ, bù chì. Nay Bí được đi, được bay nhảy thì tốt quá. Tốt cho nó, cho cả anh em mình. Mừng nhất là Bí. Nó vẫn làm những việc quen thuộc nhưng sểnh ra là đến nhà này nhà khác để khoe cái tin ấy.

Bà mẹ Cải nghe tin Bưởi từ mỏ than về, sốt ruột quá, giục con Thãi đưa sang. Sau khi được tin con, bà mừng quýnh. Chồng qua đời, bà quyết ở vậy hơn chục năm trời. Nuôi nấng và nghe ngóng, sống vì các con. Anh Của lấy vợ, có con. Cải đi mãi không về, chỉ nghe có người nói làm ở mỏ. Cô Thừa lấy chồng năm kia. Bà ở nhà cùng anh chị Của và cái Thãi. Thực tế cùng nhà nhưng nấu ăn riêng. Một bếp hai mâm hai nồi. Bà không ưa con dâu, lắm mồm lại hay đưa chuyện. Bà nấu ăn cùng cô út. Mẹ chồng nàng dâu bằng mặt không bằng lòng. Bù đắp vào khoảng trống ấy là cu Phùng - thằng cháu đích tôn - khi còn sống ông, cả ông bà đều mong mỏi.


- Bà có ra ngoài ấy chơi một chuyến không? Cô Thãi ra mà làm. Hay bà ra ngoài đấy ở, trông rau cấy đỗ bán. Cô Thãi làm than, lấy tiền, lấy chồng… Bà ra trông nhà, cưới vợ cho con mà nuôi cháu.

- Tôi ra được không anh? Già rồi. Sức chẳng còn mấy nữa.

- Con cũng ra - Cô Thãi láu táu.

- Bà và cô ra cũng được. Bà trông nom nhà cửa cho chúng. Cô Thãi leo tầng, đẩy than.

- Có sẵn việc không anh? Tôi ngại đi xa lắm.

- Xa gì? Bây giờ tàu xe thuận lợi rồi. Không khổ như trước nữa. Không phải bước bộ dạc dài đâu. Việc thì đầy, chỉ sợ không có sức. Con tôm có chật gì sông, caí lông có chật gì lỗ. Bà và cô có đi thì chuẩn bị. Ăn tết xong cháu đi. Cả mấy người cùng ra luôn. Ai ngờ tàu xe đã có gần chục năm, đi lại dễ dàng mà trong mỏ chỉ nghe mang máng. Cháu vừa đi vừa hỏi đường, mất có ba ngày. Trước kia, chục ngày đi bộ không tới được đâu.

- Chẳng biết sống ở đấy thế nào. Ra không ở được. Gỉơ đi mắc núi, giở lại mắc sông thì khốn.

- Làm ở đâu chẳng vậy hả bà? Có người có ta. Công việc vất vả nhưng sẵn tiền ra tiền vào, đồng rau đồng muối cũng đỡ, bà ạ.

Thằng Đồng nghe tin anh Bưởi về, lồng sang ngay. Tuổi thanh niên bồng bột, nó đang thích bay nhảy, càng xa quê càng tốt. Anh Đá đi, bố mất mới có nửa năm. Nhà nghèo, phải vay mượn quàng quéo khi đồng bãi vào kỳ giáp hạt, giáp vụ. Là con trưởng, Đá ra đi bất ngờ. Nhà hoá liêu xiêu, may không đổ. Chị Vôi, anh Gạch mới hơn mười tuổi phải đi ở đợ, chăn trâu cắt cỏ, kiếm cơm đút miệng… Chị Cát, anh Sỏi học cấy cày trên hai sào đất ruộng khi mới lên mười. Mẹ Đồng phải đi cấy thuê lấy tiền trả công thợ cày. Được vài năm, chị Vôi lấy chồng, anh Sỏi lấy vợ, ra ở riêng. Đầu năm rồi, chị Đất theo chồng sang nhà người khác. Đồng ở cùng vợ chồng anh Gạch, giật đầu cá vá đầu tép. Nghe tin anh Đá làm mỏ, Đồng toan ra mấy lần nhưng còn chần chừ chưa dám đi. Nay anh Bưởi về, Đồng như được chắp cánh. Nó bàn với các anh các chị. Gọi là bàn cho phải phép, chứ nó quyết định rồi. Anh Sỏi hào hứng:

- Tao cũng đi. Đi mới mở máy mở mặt ra được. Trông cậy vào đồng làng khác gì múc nước đổ rá, vay mượn hàng xóm suốt đời. Nợ đầm nợ đìa. Ra giêng đi hả? Để tao dặn anh Bưởi.


Bố Ao tuy đã yếu nhưng còn khá nhanh nhẹn, gọi con cháu mang nước. Nước múc ngoài ang. Ang sành hứng nước mưa lâu năm, ngọt phải biết. Anh Bưởi ngoài mỏ về, sang chơi. Hai ông con ngồi trên chõng tre, nói chuyện làm ăn. Ông ở với vợ chồng Suối. Năm năm sau ngày Ao đi, Sông lấy chồng. Anh Suối khoẻ, cáng đáng công viêc thay ông. Anh cưới vợ. Đứa cháu đầu lên ba thì bà mất. Cô Ngòi phải cho người ta cưới chạy tang. Năm ngoái, anh Đầm cùng vợ ra ở riêng.

Thằng bé con anh Suối mang gáo nước lên. Bố Ao đỡ lấy, rót đầy hai cái bát con, mời Bưởi:

- Nhà còn em Bãi. Lấy chồng được rồi nhưng chưa nhận lời ai. Giàu con út, khốn khó con út. Nhà nghèo, mẹ mất, bố yếu. Con út chịu thiệt thòi. Nhiều lúc nghĩ thương nó quá. Con gái mười hai bến nước. Anh xem ngoài ấy cần người cho nó theo anh ra với thằng Ao. May tìm được chỗ yên ấm một chút, nó no đủ một đời là may chứ bám quê làm gì. Mày có ra làm với anh không? Con Bãi đâu? - Ông bố gọi với ra.

- Dạ! Bố cho thì con đi. Ở nhà mãi. Con gái ăn xó bếp chết gầm chạn cũng chán, bố ạ.


Tối hôm ấy, Bưởi đưa mẹ con Thãi vào nhà ông Đục, dẫn Sỏi Đồng vào nhà của Đá, đưa Bãi vào nhà Ao. Ai cũng mừng rỡ sau bao năm xa cách, tíu tít thăm hỏi. Tên những người yêu thương được gọi ra, nhắc lại. Nỗi buồn vui theo số phận từng người thân quen.

- Đường đi không vất vả con ạ. Bốn giờ sáng ra ga Đặng Xá lên Hà Nội. Từ Hà Nội về Phòng. Từ Phòng ra Hòn Gai. Từ Hòn Gai về đây. Đi sáng hôm kia. Tối ngủ ở Phòng. Ba ngày đi đường không mệt lắm - Mẹ Cải giấu sự mỏi mệt, kể lại chặng đường từ quê ra.

- Ngày trước chúng con cuốc bộ. Hơn hai chục ngày đấy mẹ ạ. Chân phồng lên những búng nước. Nó tuột da, buốt xót, nghiến răng mà đi.

Ông Đục nhấp nhổm, vừa tiếp chuyện mẹ Cải cho phải phép, vừa đun nước lá lốt, sài đất, bọ mắm…rửa vết thương cho Bào. Anh vừa bị đá đập vào ống chân. Máu nhoà như nước đổ chậu dập. Ông vừa hỏi tin tức quê hương vừa lo cho Bào. Vết thương rộng sâu phải cẩn thận. Không khéo sâu quảng lê thê vài chục năm thì khổ cho cả nhà. Bào không đi làm được, lấy gì mà ăn.

- Bố con tôi chả còn ai ruột thịt. Nhớ quê mà không tiện về. Bây giờ nếu dễ dàng thế, tôi cũng muốn thăm bà con thân thuộc, viếng mộ ông bà, bố mẹ một lần. Bà với cháu ở lại mỏ là phải. Quê hương tốt đẹp, bền dai nghĩa tình thật đấy nhưng đói. Tôi đã từng đói đến toát mồ hôi, đói vàng cả mắt. Sợ quá đi, bà ạ.

- Dạ! Ông dạy cũng phải. Tôi nghe cháu nó ra đây. Nơi chín người mười làng mà biết thương nhau còn hơn cùng nhà mà cãi vã, ra rả như cuốc kêu thì thật khổ.


Sau tết, cuộc sống trở lại bình thường. Cải dựng bếp mới. Mẹ và cô Thãi ở một chái. Chái còn lại của ông Đục. Cải, Bào ở gian ngoài. Thãi đi làm cùng anh. Cậu Nam đã có tuổi, chậm chạp hẳn. Bào đã tập tễnh đi làm được. Mẹ Cải trở thành người nấu ăn cho cả nhà. Sỏi, Đồng ở cùng Đá. Vợ Đá khôn khéo, ăn nói dễ nghe nên chị dâu em chồng chưa có chuyện gì gay gắt. Sỏi và Đồng làm cùng anh. Công việc tầng bè cuốn hút gần hết thời gian. Đá để vợ nghỉ, ở nhà trông con, nấu ăn cho mọi người và chăn nuôi. Chợ đã có, cũng gần nhà. Nuôi con chó để chống chồn cáo. Vài mái gà cho chúng nhặt hạt rụng hạt rơi. Cuộc sống như thế cũng tàm tạm. Trước mắt chỉ lo làm. Tình hình thế giới ầm ào chiến tranh cũng mặc. Nó còn ở đâu đâu ấy. Xa lắm.

Bãi ra mỏ, ở cùng Ao. Cô chưa đi làm. Vợ Ao để cô trông cháu cho nó cứng cát hơn đã, thời gian sau sẽ hay. Chỉ có cô Bí. Đi làm về, ở thuê bên lán nữ. Bưởi định cuối năm làm nhà. Nhà ngay gần khu Cải ở.


Nhằng vấn lại tóc, trùm khăn mỏ quạ, bước ra. Hôm nay, Cheo không đi làm, ngủ với cậu con trai hơn năm tháng. Đêm qua, ông Bội ho khan. Tiếng ho như rút ruột gan ông. Cheo thức đến gần sáng, nấu cháo, pha nước gừng cho ông uống rồi chườm và đấm bóp suốt. Sáng nay, anh kêu mệt lắm, không đi làm. Nhằng đứng đầu dốc, chờ người nào có đuốc, đi nhờ. Đêm cô cũng có được yên lành đâu. Thằng bé quấy khóc quá. Cho nó bú chỉ chốc lát, nó nhả vú, khóc rấm rứt. Nựng dỗ mãi đến gần sáng mới chịu yên. Ánh đuốc cứ dập dờn khi xa khi gần. Những bước chân rậm rịch.

- Cho đi nhờ với!

- Chị đấy à? Ông Cheo đâu?

- Anh ấy mệt. Nghỉ.

Nhờ đèn đi trước nhờ đuốc đi sau. Thằng Cảo làm khác tầng nhưng ngày ngày gặp, quen nhau cả.

- Chỗ mày có khá không?

- Bết lắm! Chị tính thời tiết này. Khá sao được.

Chị em leo qua một đoạn dốc.

- Chị cầm lấy đuốc mà đi. Em rẽ tầng này rồi.

- Chú đi xa cơ mà?

- Em con trai thế nào chẳng được. Chị cầm lấy đi.

Đưa bó đuốc cho Nhằng, Cảo rẽ về khu Mông Giăng. Dụi đầu bó đuốc vào hốc đá cho tàn lửa rụng, Nhằng lại giơ cao. Gío thổi qua ù ù. Ngọn lửa bung lên, dạt về một phía.

- Này! Chờ với! Sao lại đi một mình thế này? Thằng Cheo đâu?

- Ốm nằm nhà!

- Sao lại ốm để gái một con chịu vất vả thế?

- Vất vả vì chồng vì con thì có làm sao?

- Sợ vất vả sang người khác ấy chứ.

- Người khác nào?

- Anh đây!

- Này! Muốn chết hãy dây vào nhá!

- Dây vào chết cũng đáng.

- Chỉ mạnh mồm. Bà ấy có xé xác ra.

- Sợ gì! Chỉ sợ em xé xác chứ sợ gì bà ấy!

- Chỉ khoác lác. Dử kẹo cũng chẳng dám.

- Dám chứ!

Toàn vứt bó đuốc, xô lại Nhằng. Nhằng giơ cao bó đuốc, chạy làm phép. Toàn giật lấy bó đuốc, ném ra xa. Hắn lôi Nhằng lên bụi cây phía trên. Bóng tối vẫn còn che lấp.

Đằng xa, phía dưới, những bó đuốc tiếp tục leo, toả dần theo mỗi con đường mòn, dạt về mấy ngả.

Ông Bội ốm lằng nhằng khá lâu rồi cũng gắng gượng được. Cheo đi làm, khao than cùng vợ. Cai Toàn đỡ nạt nộ anh hơn trước. Hắn cũng xuê xoa khi nhận than của Nhằng. Nhằng thực sự cũng lo. Tâm trạng người lần đầu ăn vụng. Nhìn ai cũng cảm thấy người ta biết rất rõ việc mờ ám của mình. Đêm đầu, cô muốn thú tội với chồng, sẵn lòng đón nhận những trận sấm sét xảy ra. Nhưng Cheo vô tâm, bình thản trông con, nạt nộ vợ nên Nhằng làm thinh. Chuyện gì lâu mà chẳng quen. Sự cố động trời cũng không quan trọng nữa. Tối tối, Nhằng thường về muộn hơn, xem than giao ra sao. Cai Toàn cũng về muộn, trông coi xem xét tầng bè cẩn thận. Hắn ít xuống nhà bà Khảo. Tiếc của trời, thi thoảng, Toàn ghé quán muồn muộn. Chị em húc hích một hồi. Đấy là những ngày bức bối, than đất lằng nhằng không thổ lộ được với ai. Những lần khác, hắn đến chỉ mong con Xuơ còn thức, dọn dẹp thật lâu hoặc mừng hơn khi thấy bà Khảo vắng nhà. Chờ chờ chốc lát, hắn đưa một trinh, nhặt gói thuốc lào. Tiền thừa, hắn cho Xuơ dặn đừng kể với bà, chỉ cần nhắc có bác Toàn tới. Vài lần như vậy, quen nết, Xuơ cũng chờ bác Toàn, bà vắng, mong chút tiền vãi.


Nắng đã lại dữ dằn đổ lửa xuống tầng. Hơi nóng từ đống than bốc lên ngùn ngụt. Từng đàn ve khản giọng kêu gào trong những khóm mua ông, mua bà. Than ra nhiều, đã phải trông nom nhòm ngó dắng dả chứ không bỏ vô chủ được. Cai Hào đã mấy lần kêu mất than rồi. Toàn cũng bắt đầu bố trí người coi tầng luân phiên, Hắn phân ra từng nhóm. Mỗi nhóm một tuần, mỗi người canh một hai đêm. Ai sợ ma, không dám làm thuê hoặc nhờ người khác làm thay chỉ cần than không mất là được.

Ông Bội đã khoẻ, bế cháu rong khắp phố mỏ. Có hôm ông cháu ở nhà ông Đục hàng buổi. Chủ nhà cũng rỗi. Ông vừa bế cháu vừa kể nhiều khi để mình nghe, mình nhớ lại.

- Tiếng chim nhiều khi vút cao, thanh mảnh. Nhất là khướu. Nó hót như thể đất trời còn mỗi nó, hoành tráng, bề thế, chót vót. Hoạ mi thường nhiều giọng. Lúc vút cao trong trẻo, lúc êm dịu man mác như thanh âm từ xa xăm vọng về. Người có tâm tình sâu kín không thích sự ồn ào, yên ắng mà nghe thật tuyệt.

- Tiếng chim hót có nhiều giọng như nhau không?

- Không! Chim hót hoàn toàn không giống nhau. Cao thấp, trong đục, nồng ấm hay xa vời. Vì thế, nghe tiếng hót của chim dù hay đến mấy cũng khó tránh khỏi cảm giác đơn điệu. Nghe một bộ chim hót, ta có cảm giác lâng lâng trước giàn âm thanh rộn rã của bầy chim.

- Rỗi rãi thảnh thơi mới thưởng thức được chứ ông?

- Không! Chỉ cần yêu chim, thưởng thức được hết. Chim có hai loại tiếng: Kêu và hót. Chim kêu là tiếng phát sinh hàng ngày của cả con trống và con mái. Đó là phản ứng tự nhiên có tính chất phòng vệ cho bản thân, cho đồng loại. Tiếng kêu có tác dụng tạo mối quan hệ giữa cá thể với cá thể, giữa cá thể với bầy đàn. Ông để ý là rõ. Một đàn chim bay. Những con lạc thường kêu luôn mồm để tìm lại đàn. Giữa nơi văng vẻ, tiếng kêu là phản ứng kiếm mồi. Chim non trong tổ kêu liên tục đòi chim bố chim mẹ mớm cho. Ai không nghe thấy một lần chim kêu. Chim kêu là hiện tượng thường gặp. Tiếng kêu thường lẻ loi, đơn giản. Không có mục đích đòi hỏi cụ thể, chim không kêu đâu.

- Thế còn tiếng hót?

- Tiếng hót là một dạng đặc biệt của tiếng kêu. Nó như tiếng nói và tiếng hát của con người. Tiếng hót là một hợp âm có độ dài ngắn và cao thấp khác nhau. Tiếng hót của chim trống trong thời kỳ giao phối có tác động mạnh đến con mái, làm cho chúng xích lại gần nhau. Chim bao giờ cũng hót theo chu kỳ nhất định. Ông chú ý là thấy ngay. Ban ngày chim hót đã đành còn nhiều loại hót ban đêm nghe cũng sôi động kỳ thú lắm. Tuỳ theo mỗi loài chim. Chúng đều có màu sắc, tiếng kêu, tiếng hót và giọng điệu khác nhau, hoàn toàn thích nghi với môi trường mà nó sinh sống. Khi con người nuôi, thuần hoá nó, nó sẽ tiến hoá, thoái hoá phần nào. Người ta nuôi chim, lai tạo, ghép đôi, mong mỏi tạo ra màu sắc, tính cách mới hoàn toàn không có tác động của môi trường chung quanh. Thậm chí do nuôi dưỡng, màu lông của chim còn óng mượt lên, đẹp hơn tự nhiên rất nhiều. Con người đã cho chim ăn cả lòng đỏ trứng, luyện tập chăm chỉ, khéo léo khiến tiếng hót của chúng phong phú và hay hơn chim rừng sống trong tự nhiên.

Ông Bội cứ nói như muốn xổ mớ kến thức trong đời góp nhặt cho mọi người bất kỳ ai dù họ có chú ý, có thích hay không. Đứa cháu ngoan nhưng yếu. Trẻ con yếu thường ngoan vì nó lười, ngại cử động và ngại cả khóc. Nó thiếu hoạt động nếu không được thúc đẩy bởi những lí do cần thiết. Ông cứ bế cháu, cho ăn, đi khắp nơi. Nếu cháu không khóc hoặc ông không có việc gì khác, ông đi và ngồi đến khi mệt, thấy mỏi cẳng mới về.

Việc làm than vẫn vậy nhưng phố mỏ đã đông hơn. Người đến người đi, người sống người chết. Nhưng người đến nhiều hơn người đi, người sống còn nhiều hơn người chết. Ban ngày, phố mỏ cũng nhiều người qua lại trao đổi, mua bán. Chợ nền đất nhưng rộng dài và bằng phẳng. Hàng hoá như đón người. Cần gì mua nấy nhưng phu mỏ ít tiền hoặc dành tiền lo liệu những công việc trực tiếp đến đời sống của họ. Hàng thiết yếu gạo thóc rau củ…bán chạy hơn. Người bán đã cho chịu, trả tiền sau khi vay khi lĩnh.


Ông Đục ốm đau luôn, khật khừ ra chợ. Không còn chút dấu vết gì trong con người một thời lùng sục khắp cả vùng Trung kỳ. Mật thám tây ta truy đuổi ráo riết vẫn không sợ, không ngại gì khó khăn. Dáng lòng khòng hết cả sức lực, ông dừng lại, ho lục khục. Tự cảm thấy mình là người thừa, ông vạ vật trên đường, mệt đâu nghỉ đấy. Đôi khi trong giấc ngủ, hình ảnh ông chủ bán gié bò người Ba Na hiện về vẫy gọi ông. Tỉnh dậy, ông lại nhớ món gié bò đến kì lạ, nhớ cả quãng đời dằng dặc nỗi niềm suốt những năm gian lao tăm tối ấy. Những cụ Nghè, cụ Bài, ông Trực…Họ đều tin tưởng trong lúc cưu mang, giúp đỡ và mong mỏi nhiều ở ông. Lắm lúc thần mặt ra như người của thế giới nào, ông nghĩ về những ngày gánh mắm, ướp chượp trèo dừa, lăn lóc cùng bà con cần lao nhưng tốt bụng, sẵn sàng chia xẻ với ông cả sự sống lẫn cái chết. Ôi chao! Nỗi nhớ cứ cuồn cuộn sôi sục trong ruột gan ông.

Bưởi đưa Bí vào nhà ông. Ông Đục vắng. Mẹ Cải đang nhặt rau. Bà hỏi han công việc chúng. Cải, Thãi còn ở tầng. Hôm nay, Bí nghỉ, ở lại dọn dẹp với bà. Nhà Bưởi đã làm xong. Còn vài việc lặt vặt, đắp xong cái bếp là hoàn tất. Bà kể lể chuyện nhà cho Bí nghe.

- Tôi còn sức, giúp chúng nó. Nó chậm chạp dây dưa rồi đến lúc thở không ra hơi được thì tội nợ. Ai ơi trẻ mãi ru mà - Cái già xồng xộc nó đà theo sau. Con nhỏ còn oe oe đã phải lo lắng cho mẹ già. Còn con Thãi. Cũng phải chồng con chứ ở mãi thế, chịu sao thấu.

- Cháu làm dâu bác được không ạ? - Cô Bí từ ngày ra mỏ, ăn nói có vẻ bạo dạn hơn.

- Ôi dào! Cái ngữ ấy ai người ta dòm ngó. Gần ba mươi rồi. Hễ nói đến chuyện lấy vợ là mặt đỏ lên.

Chuyện bâng quơ hay ngụ ý chỉ có vậy. Bưởi đi đào đất nhào trát bếp đã ra.

Bí theo anh về ở căn nhà mới dựng. Lá phơi được nắng, đẹp mã. Mái lợp phẳng phiu, nhìn sướng mắt. Hai anh em nấu ăn, dọn dẹp tới tối.


Sỏi , Đồng nghe ai nói, lần mò lên núi Trọc. Nơi người ta quen gọi là Đèo Nai trên để phân biệt với khu Lộ Trí là Đèo Nai dưới. Dân phần đông người Hoa. Người quê Nam Định cũng nhiều. Họ khai thác than đã lâu. Có bà cụ nghe cha mẹ kể chuyện làm than từ ngày còn để chỏm. Cẩm Phả thành nhượng đia. Việc khai thác đưa than sang Trung Quốc bị cấm. Người Hoa khai thác than bán cho Pháp. Bọn chủ mỏ đưa người Việt lên. Núi Trọc thành khu dân ở. Từ nơi ở ra nơi làm việc rất gần, đỡ tốn thời gian đi lại. Do vậy, núi Trọc cũng đông đúc, có thời trở thành một trong ba khu dân cư tập trung của Cẩm Phả. Người làm than, người phục vụ mọi nhu cầu sinh hoạt. Người trồng cấy rau màu, trồng chè, dứa, cây lưu niên…Phố núi cũng đông vui ngang bằng với dưới phố. Khai thác than trong những tầng lò cũ của người Hoa. Pháp nắm quyền nhưng chưa đủ điều kiện mở mang lớn rộng.

Người Kinh lên núi Trọc. Người Hoa từ lâu đời tập trung quanh hai họ: Lục và Hoàng. Họ Hoàng tụ bạ ở vạ núi lớn. Họ quan niệm có năm yếu tố làm nên hạnh phúc và bất hạnh cho con người. Bao gồm: Đức hạnh - kiến thức - phong thuỷ - số phận và may mắn. Trong năm yếu tố trên, ba cái đầu do con người quyết định. Có trời nhưng còn có người. Đức hạnh tu dưỡng rèn giũa. Kiến thức cần học tập thu góp. Phong thuỷ phải hội đủ: kim, môc, thuỷ, hoả, thổ. Chỗ ở của họ thường quay về hướng đông đón ánh nắng mặt trời. Nhà thấp, lợp cỏ hoặc vỏ ràng ràng. Chim về làm tổ ngay bên mé hồi. Nhà mát nhưng ẩm thấp nhất là những ngày mưa dầm.

Họ Lục chủ yếu ở phía bắc núi Lớn và toàn bộ khu vực núi Con. Làm nhà chỗ nào, họ cũng chọn nơi hội đủ bốn điều kiện: mộc, vân, nhân, thú. Nhà có vườn tược cây cối (mộc). Phong cảnh phải thoáng rộng, nhìn thấy trời, thấy mây bay (vân). Phải có bạn bầu, khách khứa tới thăm hỏi trò chuyện (nhân) và phải có súc vật nuôi như chó mèo ngan ngỗng…Chúng sẽ làm bạn với người. Khi thật cần thiết, gặp hội hè, anh em khách khứa xa đến mới giết chúng. Nhà cũng thấp, đục đẽo cầu kỳ. Họ đều là dân Quảng Tây, Quảng Đông di cư nhiều đời, cùng nói tiếng Pạc và. Người Kinh lên ở xen kẽ. Mỗi dân tộc có nét văn hoá riêng. Nhà người Hoa tương tự nhà Sán Dìu. Cửa bằng tre đan hoặc gỗ tấm ghép. Trên khung cửa thường dán giấy đỏ, vẽ bùa, viết chữ loằng ngoằng. Đám cưới kéo dài hàng tuần, ăn uống linh đình. Nói oang oang như phèng lệnh rồi loạng choạng ra về, ngủ. Thường ngày họ lặng lẽ, làm ăn cẩn thận, tận tuỵ, hay giúp đỡ, bảo ban người cần. Giận nhau văng tục, chửi bới ầm ĩ, mặt đỏ phừng phừng, cổ áo phanh ra. Xong thôi. Vài ngày sau sóng lặng, lại nguyên cũ.

Sỏi, Đồng ngủ đêm trên núi Trọc. Tiếng chim bắt cô trói cột, chắt bóp, chim lợn, gà rừng… ầm ào khua rộ từng hồi. Họ ra tầng, vào lò. Thời gian đi về ngắn hơn. Vui bạn, Sỏi và Đồng ở lại, ít khi về phố. Họ làm than cho cai Thẩm, cai Lạng.

Sau ngày Sỏi và Đồng lên núi Trọc, vợ Đá cũng không trở lại tầng, buôn bán quanh quéo ngoài chợ, chăm con, nấu ăn cho chồng. Cô Bí thường sang nhà Cải sau khi Bưởi dọn về nhà mới. Bí ở với anh. Cô thưa gửi dạ vâng, đấm bóp cho bà mỗi tối rảnh việc. Chiếc yếm buộc dải, bên ngoài bận chiếc áo nâu, có khi áo đen cộc cánh, thoăn thoắt qua lại giữa hai nhà. Tự nhiên, mọi người vun quén, hùn cho cô với Cải. Cải im lặng không nói. Mặc chiếc quần đùi, áo cộc hoặc áo vắt vai, cởi trần, lững thững bước ra con đường mòn. Nhiều buổi tự dưng gặp Bí. Một vài câu chào hỏi bâng quơ. Lúc ăn cơm, mẹ thường nhắc anh lo liệu sớm. Bà mong con dâu về cho vui cửa vui nhà chứ giờ yếu rồi, Ông Đục nằm, thở gấp ngoài đầu chái. Trong thời gian đau chân, Bào nghỉ việc. Cô Xe hình như lảng ra, có cảm tình với người khác. Sau đó, Bào chia tay Xe. Hai người khóc lóc với nhau một hồi rồi anh đi đằng anh, chị đi đằng chị. Mấy tháng sau, Xe lấy anh thợ tháo máng. Bào cũng sắp lấy Thãi. Chúng bàn với nhau cưới ngay trong năm nay, trước khi ông Đục rời bỏ cuộc đời này. Bà Cải ưng ngay và mong con trai qua tết năm mới sẽ lấy Bí. Cùng cảnh nhà neo, bạn thợ quen biết nhau, con gái lấy chồng chẳng bày vẽ gì nhiều. Vài chục cau, mấy tấm trầu, thẻ hương, chai rượu, làm mâm cơm cúng cho thoả mát vong linh bố rồi mấy anh em cùng tầng, cùng nơi ở chén, đỡ mang tiếng gái theo không.

Thế là họ cưới nhau, ở chái nhà chỗ mẹ con Thãi nằm. Bà ra gian ngoài. Hơn tháng sau, ông Đục trút hơi thở cuối cùng trong tay con trai, chấm dứt một cuộc đời chất chứa dồn dập bão táp.


Bà Khảo dạo này hay lên lễ chùa. Con Xuơ thích lắm. Bán hàng nó chấm mút xà xẻo được nhưng chính là tự do hơn. Cái yếm nâu cổ cao quá khổ, hở mảng lưng không ra đen không ra trắng. Thế cũng tốt chán. Mười hai mười ba, con gái con lứa người ta còn cởi trần đội than, kiếm rau. Nó ngồi bán hàng, bà Khảo tâm lí, chắt chiu mua cho nó đôi yếm. Nó bán hàng nhanh nhẹn ra trò. Chữ nghĩa không cần biết nhưng tính toán được hết. Nó mong bác Toàn tới, mua ít hàng nhưng đưa nhiều tiền. Có bận tính kĩ, nó được đến năm trinh. Bác Toàn bảo nó nhổ tóc sâu. Đâu mà không thế. Vừa nhổ tóc sâu vừa bán hàng. Khách vào mua thì bán. Khách ra lại nhổ tóc. Được nghe kể chuyện về tương lai, được thấy người chồng mơ hồ, giang tay nâng đỡ nó qua lời bác Toàn. Bác Toàn nhiều lúc cũng hay quên, chuyện nọ xọ chuyện kia. Lúc bác bảo Xuơ lấy con trai bác. Con trai bác thì nó biết. Anh Cà. Anh Cà hơn nó ba tuổi. Anh trông hiền lành, da trắng giống bố. Lúc bác lại hỏi nó đã thấy thích ai chưa? Thích thì thích anh Cà nhưng ai dám nói. Nói ra bác cười chết. Bà Khảo cũng thật lạ. Hễ thấy bóng bác Toàn là giục nó đi ngủ. Ngủ thì ngủ, càng đỡ phải lấy nước, dọn rửa.

Ông Bội mất sau cơn đau thắt buốt nhói đưa từ ngực thốc lên. Thằng Thao đứng bên cứ luôn mồm “ông ơi, ông ời”. Miệng ông Bội méo xệch, giật giật mấy cái rồi yên. Thằng bé gọi mãi ông không được. Nó vào góc nhà, chơi với mấy viên đất giun đùn. Lúc sau nó chán, nằm bò toài, ngủ ngon lành bên xác người đã coi nó như cháu nội.

Gần tối, Cheo mới về. Anh hoảng hốt khi thấy cửa nhà vắng ngắt. Cheo la không ra hơi khi thấy ông Bội co quắp trên nền nhà. Người rầm rầm kéo đến. Đá hỏi:

- Vợ đâu?

- Nó còn ở tầng.

- Tao báo cho. Mày liều liệu dần đi. Cố gắng giữ bình tĩnh.

Đá sang nhà Ao, nhà Cải, nhà Bưởi. Ao đang quát tháo vợ con. Đứa trẻ bê bết đất cát. Cơm chưa kịp nấu. Nghe tin, Ao sang ngay. Đá leo tầng tìm Nhằng. Anh đã yếu. Láu ta láu táu vậy nhưng khi vừa đi vừa chạy qua từng ấy đường đất, Đá đã mệt. Leo qua một tầng, anh dừng lại nghỉ. Chợt nghe:

- Gìơ này làm gì đã phải nấu cơm?

- Đến rồi!

- Còn sớm. Cho anh xem tí đã.

- Thôi!

Đá lẩn nhanh vào lùm cây. Tiếng người gần hơn.

- Mai nhé!

- Không sợ à?

- Sợ gì? Thằng Cheo có sợ thì sợ. Anh sợ gì?

- Chỉ võ mồm, khuyếch khoác.

- Không à? Cho anh nếm thêm ngụm nữa.

Trời ơi! Đá định nhảy xổ ra, cho thằng khốn nạn và con thối thây kia mấy cái đạp cho chừa thói trăng hoa đểu giả. May sao anh kìm được tính vội vã hấp tấp của mình. Vuốt tay lên vết sẹo láng bóng trên mặt, dấu tích lần vội vã vớt bèo cho lợn ở quê. Vết xước nhỏ nhưng sâu, nhiễm trùng kéo thành vệt dài sau nửa năm chạy chữa, đắp lá lẩu. Thằng Toàn và con Nhằng cứ giằng co, bá vai bá cổ nhau đi qua chỗ Đá. May lùm cây to dễ ẩn, Mà chúng nó đang say nhau thì có thấy gì. Con Nhằng đứng lại. Thằng Toàn cúi xuống. Đầu nó lắc lư, lảo đảo trên ngực Nhằng. Con thối thây lùi vào gốc cây, tay vươn dài, người rướn cao lên. Thằng khốn thúc tay, lần sờ từ ngoài yếm. Chúng nói với nhau gì gì rồi đi. Đá nằm thượt ra, mệt nhọc thở. Anh mường tượng những gì đã xảy ra, thương cho Cheo. Không thể để tiếp diễn như thế nhưng giải quyết thế nào, anh chưa nghĩ ra.

Đá thất thểu lê bước về nhà. Vợ con đã sang nhà ông Bội. Nằm một lúc, Đá lao sang. Anh thấy Nhằng. Nhằng nức nở khi thấy người mới vào nhưng không rõ tiếng. Mấy bạn thợ túm tụm bàn bạc. Ai cũng thương tiếc ông Bội. Đúng thôi. Với người vừa đi xa, chả ai nỡ nói tệ. Đây lại là ông Bội được cả mọi người quen biết xót thương.

Toàn về nhà thấy vắng. Tắm giặt, ăn uống xong, hắn bách bộ xuống nhà bà Khảo. Quán bà tối đã vắng, giờ xóm phố có chuyện càng vắng hơn. Con Xuơ cũng dọn hàng xuống nhà dưới, chuẩn bị đi ngủ. Thấy Toàn vào, nó vội khoe: - Bà đi đám ma ông Bội còn lâu mới về. Bác mua gì, cháu lấy!

Toàn không nói, ngồi xuống cái giát giường kê thấp, ngay sát Xuơ:

- Làm gì đấy?

Xuơ đã thấy mơ hồ điều gì sờ sợ. Nó ngồi xích ra: - Cháu cất hàng.

Chẳng nói chẳng rằng dài dòng, Toàn kéo Xuơ lại. Khổ thân con bé có biết gì. Người nó mụ đi theo đà kéo của bác. Nó ngỡ như mọi lần, nhổ tóc sâu lấy tiền. Bác Toàn luồn tay vào trong yếm nó. Nó hãi quá không dám nhúc nhích. Tay bác lùa lên, nắn nắn bóp bóp vào chỗ bắt đầu phồng phồng trên ngực nó. Xuơ lơ mơ, lo lo sương sướng. BácToàn kéo dải rút quần nó, luồn tay vuống. Chỗ ấy chẳng có gì. Ngón tay thô, vân vân vê vê rồi từ từ rút ra. Nghĩ thế nào, bác đổi tay, lại luồn vào. Chốc chốc rút ra, lại luồn lại. Bác Toàn nói gấp gáp loáng thoáng. Đờ đẫn cả người, nó nghe không rõ. Bàn tay thô ráp lại lần lần tìm tìm, di khắp khu xương ngực nó. Cứ như thế một lúc lâu. Bác hỏi, nó trả lời nhưng chả nhớ hỏi gì và trả lời thế nào. Đến khi tay nó có đồng xu, bác Toàn ra khỏi quán, đóng sập cửa xuống. Nó dần tỉnh táo lại. Lặng lẽ thắt dải rút, Xuơ thẫn thờ bước ra cài cửa. Đường vắng ngắt.

Đám tang ông Bội đông đảo người đưa. Cheo khóc ít. Nước mắt đàn ông thường chảy vào trong nên gương mặt Cheo càng khắc khổ thiểu não. Trái lai, Nhằng lu loa, sướt mướt kêu gào nhất là khi thấy người đến hỏi han chia sẻ. Đám bạn Đá, Ao… mắt đỏ hoe, nước kéo thành dòng trên mặt. Đám tang dằng dặc người. Mộ ông đặt phía dưới đường cái, cạnh lối vào nghĩa địa, gần cầu, cách phố mỏ hơn trăm mét. Mộ ông đắp cao. Chờ vài thẻ hương nhả khói sắp hết, mọi người tản mát dần.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 02.6.2015.