Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Trái Bần Một Thuở Xanh Non





Đói lòng ăn trái bần xanh

Dù chua dù chát cũng đành vì ai ...


Nếu ai hỏi quê tôi có loại trái cây gì đặc sắc, tôi có thể nói ngay: trái bần ! Đó là một loại trái cây không hề nổi tiếng. Cây bần mọc đầm mình dọc những bờ sông nước lợ. Dáng cây cao, rậm, xanh mướt quanh năm. Trái bần hình con quay hơi dẹt, đung đưa trước gió. Mỗi lần ra tắm sông chúng tôi thường tìm trái bần ăn. Trái bần chín có vị ngọt pha chua dìu dịu, thơm ngon như trái mơ rừng, nhắc đến ai cũng phải thèm. Còn trái bần xanh thì... vừa chua vừa chát ! Tôi cứ bị ám ảnh hoài về hương vị của trái bần trong suốt những năm dài phiêu bạt. Có phải đó là hương vị đặc trưng của quê tôi ?

Làng Minh Lệ - quê tôi, nằm bên bờ sông Gianh, con sông mang đậm dấu ấn lịch sử chia cắt một thời, con sông của những cây bần xanh biếc. Làng tôi rất đẹp, có núi, có sông, có huyền thoại tình yêu thơ mộng. Nhưng làng tôi cũng như nhiều ngôi làng miền trung đầy gió Lào nắng nóng và nghèo đói triền miên. Nó như một trái bần xanh non chưa đến ngày chín mọng. Tuổi thơ tôi đã gắn với mảnh đất này, gắn với những trái bần quen thuộc !

Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, làng tôi là vùng tạm chiếm. Mãi tới khoảng đầu năm 1951 làng tôi mới được giải phóng, nhưng vẫn nằm trong vùng “du kích chiến”. Cánh đồng khoai ngon nổi tiếng đầu làng bị địch san bằng làm sân bay dã chiến, nay lại được trả về chủ cũ . Nhà cửa địch đốt đi làm lại liên miên. Hầu như ngày nào cũng bị càn quét đốt phá và cướp bóc. Nhưng cuộc sống cũng dần dần ổn định hơn. Một trường học được thành lập với vẻn vẹn 2 lớp, 2 thầy. Bao năm rồi không được đi học nên chúng tôi đến trường như đến nơi hội lớn. Mặc dầu tự học nhưng tôi đã dư sức vào thẳng lớp 2 ( theo chương trình kháng chiến). Lớp học là một gian hành khách của ngôi nhà ga cũ bị phá dở dang, nằm bên ngọn đồi mà thuở xưa ông Minh bà Lệ từng ngồi bàn việc quân cơ, giữ yên bờ cõi (*) . Lớp không có bàn ghế, phải khom lưng viết trên nền xi măng như những môn đồ thuở trước! Một cây bút lá tre, một lọ mực suốt ngày làm nhoè nhoẹt áo quần sách vở, một tập giấy tự khâu lại thành quyển vở không bìa ... là tất cả những gì mà chúng tôi có. Bạn nào có được một cây bút Kaolo dù chỉ 1 vành cũng đã là ghê gớm lắm!

Bài học hàng ngày vẫn là những bài có tự xa xưa như "Ai bảo chăn trâu là khổ! ..."

Hàng ngày chúng tôi đi học từ sáng sớm để tránh bị địch càn và máy bay bắn phá. Ngày nào cũng có hai bạn ngồi trên đồi quan sát để báo động cho cả làng. Nếu có tàu chiến địch xuất hiện phía Cửa Hác là gõ vào mảnh vỏ bom cho cả làng biết mà chuẩn bị. Khi tầu tới gần thì báo động khẩn cấp để mọi người chạy lên núi. Những trai tráng và trung niên đều ra trận nên trong làng chỉ còn ông bà già, phụ nữ và trẻ con. Một lần, sau khi báo động khẩn cấp, tôi rời ngọn đồi định chạy thì bỗng nhớ tới con bò ở nhà. Hơn cả một cơ nghiệp, con bò là nguồn sống, là một phần máu thịt của mỗi gia đình. Mục đích chính của địch trong mỗi trận càn cũng là nhằm cướp bóc trâu bò lợn gà của dân. Năm trước gia đình tôi đã bị chúng đốt nhà và cướp 1 con bò, mãi mới mua lại được. Mẹ tôi là Hội trưởng Hội "Mẹ Chiến sĩ", đã mất sau một lần đi công tác, bị mắc bệnh thương hàn. Các anh tôi đều thoát ly. Chỉ có cha tôi công tác gần thỉnh thoảng mới qua nhà. Một mình tôi vẫn phải nuôi bò để nhờ cày cấy giúp, nuôi thân ... Tôi không thể để mất bò lần nữa! Tôi chạy ngược về nhà thì may sao đã có người dắt hộ. Khi tôi chạy được ra khỏi xóm, địch đã gần tới sau lưng. Đạn bắn chát chúa, xung quanh đất cày lên tung toé. Tôi bò, trườn và lăn qua các luống khoai như một con thỏ bị săn đuổi. Một ông già chạy phía trước bỗng dừng lại, ngơ ngác. Có tiếng kêu cứu phía sau! Ông chưa kịp quay lại thì đã ngã gục xuống, máu toé ra cả người tôi! Tôi chạy thoát nhưng hàng tháng sau đêm nào cũng gặp ác mộng, la hét. Cha tôi phải về với tôi gần trọn một tuần tôi mới tạm yên !

Giữa năm học, thầy dạy lớp 1 ngã bệnh rồi mất, một mình thầy Thu phải dạy 2 lớp, không có người thay. Thấy tôi học tốt, thầy nhờ tôi cùng một bạn khác thay nhau quản lớp 1 giúp thầy. Hàng ngày thầy giao bài để chúng tôi giảng hoặc hướng dẫn cho lớp 1 trong khi thầy dạy lớp tôi. Thỉnh thoảng thầy lại qua kiểm tra và đem bài về chấm. Hồi ấy được đi học là một điều mơ ước nên học sinh rất chăm ngoan và nghiêm túc. Vì thế mặc dù không có giáo viên nhưng cuối năm lớp 1 vẫn đạt kết quả học tập tốt. Tôi gần như là một thầy giáo khi chưa đầy 10 tuổi ! Thầy Thu quý tôi lắm. Hàng chục năm sau thầy vẫn còn nhắc lại với cha tôi những lời khen nồng nhiệt. Cuối năm ấy thầy còn định gửi chúng tôi qua học vượt lớp ở một trường khác, nhưng trường này không chịu !

Hồi ấy chúng tôi không nghỉ hè mà nghỉ vụ để giúp gia đình thu hoạch. Những ngày nghỉ học, chúng tôi thường có dịp là tới chơi quanh lớp. Một lần, tôi đi cuốc khoai gần đó, buổi trưa nắng gắt, tôi và một người bạn vào lớp ngồi nghỉ. Khát nước, chúng tôi rủ nhau theo thang sắt xuống giếng sâu của nhà ga uống nước. Cái giếng gần kề lớp học. Gần xuống tới đáy giếng tôi bỗng nghe tiếng máy bay, lìên hốt hoảng trèo lên. Tôi vốn nhát gan mà! Bạn tôi cười là "đã ở dưới hầm sâu còn sợ máy bay!" Nhưng tôi vẫn cứ trèo lên và chẵng biết trời xui đất khiến thế nào mà bạn tôi cũng lên theo. Vừa ra khỏi miệng giếng thì một loạt bom nổ đinh tai nhức óc! Cả hai đứa chúng tôi đều bị vùi dưới đất, may mà không sâu lắm. Một sức mạnh vô hình đẩy chúng tôi dậy và kịp chạy ra xa khi loạt bom thứ hai rơi xuống! Nhiều người ngoài đồng nhìn thấy tưởng chúng tôi đã chết, nhưng chúng tôi chẵng hề hấn gì. Một trái bom đã phá sập cái giếng mà chúng tôi vừa thoát ra! Hai bà đi chợ ngang qua bị thiệt mạng ngay cạnh chỗ chúng tôi bị vùi. Mọi người bảo là cái "mệnh" của chúng tôi thật lớn! Về sau mới hiểu ra, chung qui chỉ tại chúng tôi đào hầm hào chi chít quanh lớp học mà nguỵ trang không khéo. May mà vào kỳ nghỉ vụ !

Hồi ấy tuy còn nhỏ nhưng có nhiều việc tưởng chừng như của người lớn mà chúng tôi phải làm và làm được. Đào hầm, canh gác, đặt hầm chông, tuyên truyền cổ động ... chúng tôi đều làm tuốt. Ngay đến việc kê khai, lập sổ sách, tính Thuế Nông nghiệp chúng tôi cũng đóng vai trò đáng kể. Có một lần tôi được cử làm thư ký cho một cuộc họp tại đình làng. Ngôi đình nằm giữa cánh đồng, cách đều 3 xóm . Bọn trẻ con chúng tôi rất sợ nơi này vì nghe đâu trên cây đa cổ thụ thường có ma . Gần đình lại là một bãi tha ma, đêm đêm thường có ma trơi xuất hiện . Cuộc họp kéo dài tận khuya, tôi ngủ gục lúc nào không biết . Có ai đó đã đặt tôi nằm dưới bệ thờ và quên luôn!. Khi tôi đột nhiên thức giấc thì xung quanh tối om, im lặng đến rợn người ! Tôi ba chân bốn cẳng chạy thục mạng, cảm thấy như có ai đuổi sau lưng. Về đến nhà tôi đóng chặt cửa, một mình ngồi run cho tới sáng! Từ hôm ấy tôi không bao giờ còn ngủ gật nữa. Nhưng tôi vẫn chưa hết sợ ma. Năm lên học cấp 2, phải đi học đêm cách nhà trên 5 cây số; đêm khuya phải về một mình trên một đoạn đường xa, bao giờ tôi cũng chạy và lại về ngồi run như thế! Liệu có ai cười một đứa trẻ sợ ma không ?

Có lẽ niềm vui trẻ con lớn nhất của chúng tôi lúc bấy giờ là tắm sông. Ngày nào cũng bơi mà không chán. Chúng tôi trèo lên các cây bần rồi nhảy tùm xuống nước, lặn một mạch xuống các hốc sâu mò cá. Có khi lại tổ chức thi bơi. Cái đói thường bám riết chúng tôi. Có thời kỳ suốt nửa năm trời tôi không biết đến hạt gạo. Chỉ "khoai khoai là khoai ". Ăn khoai thì không thể lúc nào cũng no được. Vì thế mỗi lần tắm sông bao giờ tôi cũng hái trái bần ăn. Tìm cho ra một trái bần chín thì khó vô cùng, đành ăn trái bần xanh! Càng đói càng thèm ăn. Càng ăn càng ... xót ruột! Ôi cái trái bần xanh sao mà đáng yêu, sao mà … đáng ghét! Còn trái bần chín thì lại chỉ như một niềm khao khát, ước mơ... Chẵng biết ở quê tôi bây giờ bần đã chín nhiều chưa ?

Chiến tranh cứ tiếp diễn cho mãi tới năm tôi học giữa lớp 5 .Vẫn đói rách và thiếu thốn đủ bề, vẫn khoai luộc, vẫn bần xanh ... mà học hành vẫn khá. Sau này khi ra Hà nội học, tôi thấy sức học của mình không đến nỗi nào. Gần 1 năm học đêm với cây đèn dầu tự tạo bằng vỏ chai, lại thiếu đói, thiếu ngủ, mắt tôi cứ mờ đi. Thèm một buổi học dưới ánh mặt trời chói nắng đến lạ lùng! Đêm nào chúng tôi cũng đi học tới 2, 3 giờ sáng mới về; ngủ vùi một lúc lại vội vã ra đồng, lại chống càn, lại vót chông ... Nhưng "cuộc đời vẫn đẹp sao ", đẹp như trái bần xanh mơn mởn !

Một tối mùa hè không thể nào quên được, chúng tôi vừa tới lớp thì được thầy báo tin vui : chiến tranh đã kết thúc ! Tất cả chúng tôi reo hò ầm ỉ, thắp hết đèn đuốc lên rồi chạy như điên khắp làng, khắp xã tới tận hôm sau. Cái cảm giác vui mừng khôn tả mà suốt đời tôi cứ ngỡ như vừa mới hôm qua. Hai tiếng Hoà Bình sao mà yêu đến vậy!

Sau ngày hoà bình lập lại ít lâu, tôi được các anh cho ra Hà nội học. Cuộc đời tôi chuyển sang trang mới. Hơn bốn chục năm rồi tôi chưa từng ăn lại trái bần xưa. Những lần về thăm quê vội vã tôi không tìm được một trái bần nào chín. Mà trái xanh ... có lẽ chẳng nên ăn! Tôi cứ kể hoài cho vợ con nghe về trái bần thuở ấy, nhưng vợ con tôi đâu thể biết "đặc sản" hiếm hoi này!

Trái bần quê tôi giờ đã chín nhiều chưa ?

Hè 1995


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 23.5.2015.