Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



TRỞ LẠI MAGDEBURG





 Thế là tôi một mình trở lại Magdeburg một ngày giữa năm sau khi nhận lời mời đến dự buổi bảo vệ luận án tiến sĩ của Alex, một người bạn lâu năm kể từ khi chúng tôi học chương trình thạc sĩ tại thành phố Magdeburg khi xưa.

Alex khi ấy là trợ giảng của chúng tôi, anh đã sang Việt Nam rất nhiều lần khi tham gia dự án liên kết đào tạo cùng Việt Nam. Là một người Đông Đức gốc (sinh ra và lớn lên ở Magdeburg), Alex có một thiện cảm lớn dành cho Việt Nam. Lúc còn độc thân, anh thỉnh thoảng du lịch sang Việt Nam, nhờ chúng tôi đưa vào bảo tàng chiến tranh để xem. Sau này, lúc đã lập gia đình, anh vẫn thi thoảng đưa vợ sang du lịch Việt Nam, đi chơi cùng gia đình chúng tôi và tỏ ý mong muốn rằng trong tương lai sẽ còn quay lại nữa. Hi vọng rằng, sau này khi đã có những đứa con, vợ chồng Alex và Melanie vẫn đưa chúng đến thăm Việt Nam để chúng cũng có hiểu biết và cảm tình với đất nước xinh đẹp nằm bên bờ biển Đông của chúng tôi.

Chuyến xe buýt đưa tôi quay trở lại Magdeburg sau bảy năm xa cách thật nhọc nhằn bởi phải luồn lách đi vào những con đường mòn nằm sâu trong lòng những làng quê để tránh nạn kẹt xe đang diễn ra trên xa lộ. Thật may là trên xe, tôi người cạnh một người Đức chất phác và tốt tính, đã vui lòng chỉ cho tôi một số câu tiếng Đức khó khi thấy tôi đang lúi húi lật xấp thẻ học từ vựng song ngữ Anh – Đức. Đó cũng là một người gốc Magdeburg, có lẽ nếu gặp lại thì tôi không thể nhớ rõ mặt nhưng tôi sẽ không quên cái sự thân thiện, tốt tính này. Vì xe đi luồn lách vào những con đường mòn nhỏ của nông thôn nên tôi được ngắm rất nhiều những cánh đồng hoa cải dầu vàng ruộm thật đẹp. Một người bạn Cà Mau mà tôi quen biết trong chuyến đi Goettingen lần trước đã chỉ cho tôi rằng hoa này được gọi là canola trong tiếng Anh (bạn ấy trước học tiến sĩ ở Úc, nay làm thêm cái tiến sĩ nữa ở Đức), nay tôi được biết trong tiếng Đức, hoa này được gọi là Raps – một loại cải trồng lấy dầu. Những cánh đầu cải dầu bạt ngàn với những cột máy phong điện xoay chầm chậm là những gì để lại ấn tượng đặc biệt cho tôi trên những cung đường mùa xuân dọc ngang nước Đức.

Cuối cùng xe cũng đã đến nơi. Thành phố Magdeburg vẫn chào đón tôi như xưa với mọi quang cảnh hầu như không có gì thay đổi. Tôi đã rất xúc động khi ngồi trên tàu điện, thấy trên chiếc ghế của tàu vẫn là vải bọc với họa tiết như xưa, nhìn qua cửa sổ vẫn thấy xa xa là khu nhà “Gruenen Zitadelle” màu hồng – tòa nhà mô phỏng công trình ngôi nhà nghệ thuật nổi tiếng ở Vienna của họa sĩ kiêm kiến trúc sư người Áo Friedrich Hundertwasser. Tại Đức, có thành phố Magdeburg này là có công trình mô phỏng ngôi nhà nghệ thuật với những đường nét vui nhộn, sinh động và độc đáo ấy, ngày xưa lúc học ở đây, tôi và các bạn gọi nó đơn giản là tòa “Hundertwasser”.

 Trên tàu điện, tôi cũng nhìn thấy lại bên đường khối tượng hai con ngựa (chính xác hơn là hai “nửa con ngựa” bởi mỗi con ngựa đều được làm rỗng một mặt) kéo về hai phía đối nhau một quả cầu (hay chính xác hơn là hai nửa quả cầu rỗng được úp lại với nhau), tượng trưng cho phát minh vật lí về chân không của nhà khoa học đồng thời là nhà chính trị Otto – von – Guericke. Ông sinh ra ở Magdeburg, từng làm thị trưởng của thành  phố này và đã làm rạng danh cho quê hương mình khi trở thành người đầu tiên chế tạo ra máy bơm chân không năm 1650 và tiến hành “thí nghiệm Magdeburg” nổi tiếng năm 1654 với mười sáu con ngựa, mỗi bên 8 con, kéo hai nửa quả cầu kim loại được mài nhẵn, được áp sát vào nhau và hút chân không để chứng minh sức mạnh của áp suất khí quyển: khi hai nửa quả cầu rỗng được áp sát vào nhau và rút hết mọi không khí ra, một bầy ngựa kéo hai nửa bán cầu về hai phía cũng không thể kéo tách hai bán cầu đó ra, thế mà khi cho không khí tràn vào bên trong, hai nửa bán cầu tự động tách nhau ra. Từ đó, chân không bắt đầu được hiểu đúng và được ứng dụng vào phục vụ sản xuất. Người Magdeburg rất tự hào về Otto – von – Guericke và tên của ông được đặt cho đại học nổi tiếng nhất thành phố này: Đại học Otto – von – Guericke.

Tàu điện đưa tôi dừng lại ở Haltestelle Operhaus (trạm dừng Operhaus) ngay phía trước trạm dừng Universitaet (trạm dừng ở trường đại học). Vẫn là khung cảnh quen thuộc hệt như bảy năm về trước với nhà hát thành phố Magdeburg đứng đó ở góc ngã năm, cái bùng binh rộng lớn tràn đầy nắng, đến thậm chí quán café cũ cũng vẫn nằm kia, tiệm bánh pizza cũng vẫn nằm kia và bưu điện Postbank màu vàng cũng nằm y hệt chỗ cũ. Chênh chếch góc ngã năm vẫn là con đường vào trường quen thuộc với những sinh viên đang sải bước vui vẻ đến trường, nơi ấy thuở nào tôi tràn đầy bỡ ngỡ rụt rè xen lẫn háo hức đi đến những buổi Vorlesung (buổi giảng – lecture) của các giáo sư, tai nghe câu được câu mất. Con đường hầm dành cho xe cộ đi xuyên qua bùng binh cũng vẫn nằm kia, đầy quen thuộc, gợi nhớ cho tôi những lúc qua đường để đến trường với bao niềm vui của một thời sinh viên trong sáng. Thậm chí, tiệm bán hoa cũng vẫn đang nằm ngay chỗ cũ, không khác một tẹo nào, giúp tôi dễ dàng mua một bó hoa nhỏ để tặng Alex nhân dịp anh ấy bảo vệ đề tài.

Buổi bảo vệ đề tài của Alex diễn ra tốt đẹp. Alex làm một đề tài nghiên cứu có thực nghiệm về định hướng và những mâu thuẫn trong đào tạo giáo viên dạy nghề tại Trung Quốc với những mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, mối quan hệ giữa thầy và trò, những thành công và những hạn chế…Trong buổi bảo vệ này, tôi may mắn gặp lại được Annika – một trong hai tutor của chúng tôi ngày xưa. Thật ngạc nhiên khi Annika vẫn nhớ rõ và gọi đúng tên tôi, mặc dù theo cô ấy kể là các năm sau đó cô còn hướng dẫn cho 5 nhóm sinh viên Việt Nam và Trung Quốc khác nữa. Annika bảo rằng, thực ra ở nhóm Việt Nam, cô ấy cũng chỉ nhớ tên tôi, và tương tự với nhóm Trung Quốc, cô ấy cũng chỉ nhớ tên được một người. Tôi cảm thấy xúc động và vô cùng vui vẻ về chuyện này, cũng đã khá nhiều năm trôi qua rồi, cô ấy đã quên hầu hết nhiều người, thế mà vẫn gọi chính xác tên tôi sau hơn 7 năm gặp lại. Tôi bộc bạch điều ấy với giáo sư Buenning – người tôi cũng may mắn được gặp lại trong buổi bảo vệ của Alex hôm ấy. Giáo sư mỉm cười nheo mắt bảo rằng: “Cả tôi cũng luôn nhớ tên bạn nữa chứ đâu phải chỉ Annika”. Ngày tôi còn học, Dr. Buenning chỉ mới đang là tiến sĩ, nay gặp lại, ông ấy đã lên giáo sư sau khi đã chuyển qua nhiều trường trước khi quay trở lại trường Otto-von-Guericke của Magdeburg. Ông ấy là người chân thành và vui vẻ, mắt lúc nào cũng ánh lên nụ cười. Tuy nghiêm khắc nhưng ông cũng rất bao dung với nhóm sinh viên người Việt Nam. Lần nào sang Việt Nam, ông cũng tìm cách liên lạc với chúng tôi. Tôi nhớ có một lần, trong quá trình đi thực tập ở trường nghề, vẫn còn bất đồng nhiều về văn hóa và ngôn ngữ, lại gặp phải một bà cô khó tính tên là bà Hafler, trường thực tập có lời than phiền về chúng tôi, sau đó ông ấy đã gọi chúng tôi lên để “kiểm điểm” nghiêm túc. Tôi cố gắng giảng giải cho ông ấy hiểu những mâu thuẫn và bất đồng trong quá trình thực tập, cũng hơi có phần buồn và bức xúc nên tôi bật khóc ngon lành lúc ấy. Rồi mọi chuyện cũng sáng tỏ và trôi qua. Về sau, mỗi lần gặp lại nhóm chúng tôi, ông ấy hay dặn dò chồng tôi rằng: “Cậu phải cố gắng chăm sóc thật tốt cho cô ấy nhé”. Thời gian trôi qua, vài năm nay chúng tôi cũng không có dịp gặp lại giáo sư, nay gặp lại thấy ông ấy có vẻ mệt mỏi và già hơn xưa, ông thở dài với tôi rằng: “Giờ tôi phải làm giám đốc viện nghiên cứu giáo dục nghề, bận ơi là bận”. Nghĩ, cuộc sống bon chen cứ thế là lôi kéo mọi con người vào vòng xoáy của nó, chả thể nào mà thoát ra được. Con người chỉ có “đi lên hay là chết” mà thôi. Cuốn Thế giới Phẳng của Thomas L. Freedmann đã chỉ ra cuộc sống của một sinh vật thời nay khi buổi sáng mở mắt ra là lập tức phải chạy và cạnh tranh cho đến buổi tối tối mịt ra sao trong quá trình toàn cầu hóa mãnh liệt hiện nay. Thật lòng mà nói, tôi chẳng thích quyển sách ấy một tí nào, toàn đề cập những thứ hoa lệ, những công ty đa quốc gia tận dụng triệt để phương tiện mạng để khai thác được nhân công giá rẻ ở những nước kém phát triển hơn, và thậm chí có phần ảo tưởng rằng khi mỗi con người cứ có internet và cố gắng là làm chủ được số phận mình một cách bình đẳng trong “thế giới phẳng” này. Cuộc sống càng phát triển, càng cạnh tranh, con người thực ra lại kém hạnh phúc hơn xưa. Ví dụ giáo sư tôi đang học, ông Hartman, nhà ông ấy ở Kassel, vợ con sống ở Kassel, còn ông ấy phải sống ở Dresden vì ở đây ông ấy có công việc. Hằng tuần, ông ấy chỉ được gặp vợ con vào cuối tuần, rồi chiều chủ nhật lại phải lái xe quay lại Dresden, mất 3,4 tiếng đồng hồ. Trông ông ấy ngày càng già và mệt mỏi bởi áp lực cuộc sống. Hoặc như gia đình Alex, cô vợ là Melanie thì sống ở Leipzig vì nơi ấy cô có công việc – làm bác sĩ nha khoa, còn Alex thì lại sống và làm việc ở Muenster, và họ cũng chỉ gặp nhau vào cuối tuần. Alex nói đùa rằng “chúng tao đã có hai con mèo, do đó cũng chưa nghĩ đến chuyện có em bé”. Cuộc sống càng phát triển thì con người lại càng vất vả và mệt mỏi làm sao. Lúc nào cũng phải bận rộn với sự cạnh tranh, với những mục tiêu, với những chỉ tiêu…mà không cách nào thoát ra khỏi nó. Bởi thoát ra khỏi nó thì đồng nghĩa với sự tụt hậu, đồng nghĩa với sự đói nghèo. Cứ thế, con người vừa sống vừa chạy, lúc nào cũng cố gắng phải sáng tạo hơn và cố gắng thích nghi được với những kết quả sáng tạo ngày càng nhiều hơn của con người. Ngủ một giấc, mở mắt ra thì thế giới hẳn đã có thêm những công nghệ mới với để phục vụ con người nhưng đồng thời cũng để con người phải học hỏi và thích nghi theo các thành tựu công nghệ hiện đại đó. Con người đôi khi không khỏi ngộp và mệt mỏi vì sự phát triển của chính mình. Phát triển về công nghệ, về vật chất, mà sao loài người không khôn ngoan hơn, không dốc sức cùng nhau bảo vệ trái đất, chống lại sự biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng này, mà lại cứ mải đánh nhau, cứ mãi bất ổn? Câu hỏi này chắc chỉ là câu hỏi tu từ, chẳng có lời giải đáp.

Dù muốn dù không, phát triển là một xu hướng tất yếu của cuộc sống, không ai có thể chống lại mà chỉ cố gắng xoay xở sao đó một cách tốt nhất để có thể sinh tồn tốt trong cuộc cạnh tranh này. Có lúc tôi cũng thấy mình phù phiếm khi dành thời gian ngồi viết lại những kỉ niệm trong khi nhẽ ra có thể dành thời gian đó cho những việc “ích lợi” hơn, liên quan đến chuyên môn hơn, và qua đó cũng là cần thiết hơn trong cuộc cạnh tranh mưu sinh của bản thân tôi ? Thời buổi này, trừ các văn sĩ, nhà báo và nghệ sĩ chuyên nghiệp ra, người nào thi thoảng viết lách vu vơ thì dễ bị cho là “hâm hâm”. Do đó, tôi thường giấu bạn bè và người quen những bài viết của mình, chỉ để nó ở một góc trên trang Việt Văn Mới này, để lưu lại những kỉ niệm cho bản thân. Đối với tôi, những người nghệ sĩ “hâm hâm” đôi lúc lại rất đáng yêu vì chính nhờ có họ mà cuộc sống này trở nên ấm áp hơn. Tôi rất thích một câu nói của một nhà văn Nga nào đó không rõ tên: “Người ta chết tuyệt nhiên không phải khi trái tim ngừng đập, mà là lúc tâm hồn lịm tắt”. Tôi vẫn muốn thi thoảng ghi chép lại một vài suy tư hay một vài kỉ niệm nho nhỏ của mình để trân trọng nó mãi mãi về sau. Trí nhớ con người rất hữu hạn, rất nhiều cảm xúc nếu bạn không viết ra, bạn sẽ nhanh chóng quên nó đi. Và điều đó thì thật là đáng tiếc vì bạn chỉ có một cuộc đời, nếu bạn đi qua nó quá nhanh mà  chẳng nhớ được gì nhiều về những gì đã diễn ra trong cuộc hành trình đó, thì khi tuổi già ập đến, khi công việc đã rời xa, khi con cái đã trưởng thành, khi đã trên đỉnh vinh quang về vật chất, đã đạt được tất cả mọi mục tiêu mà bạn cho là to lớn ở tuổi trẻ, bạn sẽ đối mặt với cái gì, sẽ chờ đợi điều gì tiếp theo? Bạn có nuối tiếc không đi đã lướt qua và bỏ qua quá nhanh nhiều điều tuyệt vời ở cuộc sống chỉ để hùng hục cắm đầu lao theo những mục tiêu cuộc đời của mình?

Tôi thì không, tôi không muốn mình quên đi màu nắng ở thành phố Magdeburg ngày tôi trở lại đã rực vàng đến thế nào, ngôi trường cũ vẫn nằm đó chờ đợi và đón bước chân tôi quay lại như thế nào, và cô bạn Annika đã tên tôi ra sao.Tôi không muốn quên đi những kỉ niệm ở thành phố Magdeburg bé nhỏ nằm ở Đông Đức đã gắn liền với một phần đời mình . Do đó, cuối buổi bảo vệ của Alex, tôi viện cớ có việc phải về ngay mà không ra nhà hàng cùng vợ chồng Alex và những người bạn của vợ chồng họ. Một phần vì để họ tự nhiên với nhau, một phần vì tôi muốn đi dạo Magdeburg, quay về thăm lại ngôi nhà ngày xưa chúng tôi đã từng ở trong thời gian học tập tại thành phố này. Vì đã quá quen thuộc con đường từ trường về nhà, tôi quyết định không đi tàu điện mà đi bộ, vừa thưởng thức không khí ấm áp của mùa xuân, vừa tranh thủ hít thở trở lại mùi vị, màu sắc của Mageburg: trong lành, xanh tươi, hơi có nét thuần phác giản dị so với nhiều thành phố khác của Đức. Hai tòa nhà chung cư màu xanh  (nơi tôi từng ở) và màu đỏ vẫn nằm gần nhau, nhìn ra bãi cỏ xanh tươi mát với con đường băng qua cheo chéo hướng ra phía ngã tư. Trạm chờ tàu điện năm xưa ngày nào tôi cũng đứng để bắt tàu vẫn nằm nguyên chỗ đó. Phía bên kia đường vẫn là siêu thị Penny bé nhỏ quen thuộc năm xưa, bên cạnh Penny vẫn là quán ăn nhanh Asien Imbiss của chú Khải – một người Việt mở quán ăn nhỏ định cư tại Đức. Tôi vào thăm chú, chú hồ hởi kể rằng cũng có nhiều bạn Việt Nam khi quay trở lại Magdeburg cũng đã quay lại thăm ngôi nhà cũ rồi chạy sang quán thăm chú. Chú bảo cuộc sống ở Magdeburg vẫn vậy, cũng chẳng có gì thay đổi, từ quang cảnh cho đến nhà cửa, công trình, …chỉ có điều “bọn trẻ ở Magdeburg học xong rồi thì giờ hay chạy sang thành phố khác hoặc Tây Đức làm việc, vì ở thành phố này chẳng xây thêm nhà máy gì nên khó kiếm việc làm. Tự dưng làm tôi nghĩ đến Việt Nam, thấy chạnh lòng vì như nhiều bạn bè cũng nói, rằng Việt Nam mãi không xây thêm nhà máy, không lao động ra thêm của cải vật chất, nền kinh tế cứ mua qua bán lại cổ phiếu ảo và bán tài nguyên thô, nông dân “trồng cây gì, nuôi con gì” cũng cứ là tự phát mà thiếu một sự định hướng và sự chăm lo về đầu ra, dẫn đến “được mùa thì mất giá, được giá thì mất mùa”, nông sản làm ra đôi khi chẳng biết bán đi đâu. Nghĩ mà tha thiết mong mỏi sao cho Việt Nam có thêm thật nhiều nhà máy chế biến nông sản, chẳng hạn như  nhà máy sản xuất nước ép đóng hộp xuất khẩu (nước dưa hấu, nước mía, nước cam, nước dứa…), nhà máy sản xuất mứt xuất khẩu, nhà máy sản xuất thu mua và chế biến nông sản tổng hợp…Trong các nhà máy ấy sẽ có các bộ phận kinh doanh phối hợp với Bộ Công Thương chuyên lo việc marketing, tìm hợp đồng đầu ra quốc tế  và tìm các hợp đồng cho nông sản Việt Nam để người nông dân yên tâm sản xuất, và nhiệm vụ marketing, tìm hợp đồng này phải được xem là nhiệm vụ trọng yếu, có kế hoạch phấn đấu rõ ràng, có thưởng phạt nghiêm minh, sao cho mùa nào thức nấy, sản phẩm của người nông dân được tiêu thụ thông suốt bốn mùa.  Còn về phần tôi, mặt trận của tôi là giáo dục. Sau này khi đứng lớp, tôi sẽ cố gắng truyền tư tưởng của mình cho các thế hệ học trò của tôi, những giáo viên dạy nghề và cũng là những kĩ sư Công nghệ thông tin, Điện, Cơ khí…tương lai, rằng các em hãy cố gắng khởi nghiệp sản xuất, đừng chỉ khư khư tư tưởng đi làm thuê, nếu khởi nghiệp sản xuất được cái gì đó, dù là bù loon, ốc vít, ghim giấy…để Việt Nam tự phục vụ Việt Nam, tự chủ từ những cái nhỏ nhất không phải nhập của nước ngoài, thì đã là cống hiến cho đất nước rất nhiều rồi…

Trông người lại ngẫm đến ta”, đứng ở Magdeburg, nghĩ về quê hương Việt Nam, tôi vẫn có lòng tin sắt đá rằng nhất định Việt Nam sẽ đổi thay, sẽ phát triển lên trong tương lai nhờ một thế hệ mới đã và đang nhận ra sự tụt hậu. Trong sâu thẳm mỗi con người Việt Nam, ai ai cũng có lòng yêu nước, và thế hệ trẻ cũng vậy, họ rồi sẽ tìm được con đường cứu nước giữa thời bình và đến một lúc nào đó, Việt Nam sẽ lội ngược dòng giữa bao nhiêu khó khăn để ổn định và tỏa sáng. Tôi sẽ chờ đợi để nhìn thấy điều đó, dù biết rằng có khi cũng cần đến thời gian của vài thế hệ chứ không phải là một sớm một chiều.

Thăm lại tòa nhà xưa nơi mình từng sống, tôi đi vòng quanh khu nhà một vòng, tất nhiên do không có chìa khóa nên không thể vào được bên trong, tôi chỉ đứng dưới nhà và nhìn lên bậu cửa sổ tầng 8 năm xưa, đó là nơi tôi đã đứng nhìn ra và lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy tuyết. Đang vào mùa xuân nên các cây cối xung quanh khu nhà vẫn trổ hoa thơm ngát. Lòng tôi dịu dàng, vui vẻ, cảm động và chợt vang lên câu thơ của Nguyễn Thiên Ngân đã đọc được năm nào:

Bao năm cuộc lữ quay về

Lá hoa vườn cũ vẫn đề huề xanh

                                                                     Dresden ngày 12 tháng 05 năm 2015.




trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn