Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





TỪ GIẤC MƠ ĐẾN CUỘC ĐỜI







             (tặng bạn-nhỏ năm xưa)

  Năm 17 tuổi, Viên học Đệ nhị, đang lo ôn thi Tú Tài một.

Hai năm qua là một chằng đường thử thách cam go nhất trong cuộc đời học sinh của anh. Thi đậu xong Trung học đệ nhất cấp, gần hết mùa hè năm ấy, người anh cả gọi Viên dến – nói vắn tắt: “Năm tới, mày lo thu xếp nghỉ học. Học vậy đủ rồi!” Viên bàng hoàng trước câu nói ngắn ngủi vô tình của anh, đứng lặng yên – không nói được lời nào! Đêm ấy, Viên nói lại với người chị kế quyết định của anh cả - người chị duy nhất còn lại bên đời, rất yêu thương Viên, để mong chia sẻ nỗi buồn. Chị thẫn thờ giây lâu – buông thỏng: “Ảnh đã nói vậy thì nghe vậy thôi, chứ biết làm sao?”

Viên nghĩ, đúng là chị “không biết làm sao” khi hoàn cảnh của cả hai chị em đều khốn khỏ, thơ dại – như nhau. Hai chị em đâu có quyền quyết định gì về tài sản, nhà cửa, ruộng đất của cha mẹ để lại? Chị phải nghỉ học từ năm lớp bốn, ở nhà lo việc nội trợ cho gia đình anh, như một người giúp việc nghèo khó. Người giúp việc còn được trả lương vào cuối tháng (hay cuối năm) nhưng chị thì không. Có nhiều năm – ngày Tết chị cũng không có được một bộ đồ mới cho tuổi con gái của chị. Dù rất yêu thương Viên – chị cũng chẳng biết làm sao hơn với tuổi 18 tay trắng! Vài đồng bạc lẻ góp nhặt từ những buổi thay chị dâu đi chợ, đưa cho Viên mỗi khi anh về thăm nhà ngày chủ nhật (hay nghỉ lễ) – chỉ giúp Viên vài buổi ăn sáng, hay mua sắm các thứ lặt vặt cho việc học mà thôi. Ngay cả với cuộc đời lặng lẽ vất vả bao năm của chị – chị cũng đành cúi đầu cam chịu. Bốn căn nhà mặt tiền phố và một mẫu ruộng loại một, người anh đã dần dần bán đi để chăm lo cho gia đình riêng của mình từ vài năm nay rồi, mà Viên và chị chỉ được quyền ký tên thỏa thuận…

Suốt đêm Viên không chợp mắt được. Anh nghĩ đến ngày phải lìa xa ngôi trường thân yêu cũ mà anh đã gắn bó hơn bốn năm đệ nhất cấp vừa qua, tuy phải chịu đựng mọi sự thiếu hụt, nhẫn nhục từng tháng thiếu tiền cơm bị bà chủ nhà cằn nhằn, để được trọ học qua từng năm một – nhưng đó là những tháng ngày Viên cảm thấy êm đềm, thơ mộng nhất đời anh, từ ngày mẹ mất… Anh có thầy cô thân tình gần gũi, có bè bạn chia sẻ vui buồn, có đôi người bạn gái xinh xắn cùng lớp để vui chơi. Viên có cả một thời tuổi thơ đang nẩy mầm, đơm hoa ở đó. Lời người anh cả lạnh lùng, văng vẳng bên tai “mày lo thu xếp nghỉ học” – như một tiếng sét, một lưỡi dao sắt nhọn chém vào đời anh thơ dại mà chẳng có chút tiếc thương. Anh đã quyết định tương lai một đời người - của đứa em ruột thịt - chỉ bằng một câu nói vô cảm, lạnh lùng. Viên khóc ấm ức, và thầm gọi tên mẹ trong tuyệt vọng, cho đến khi mê thiếp…

Sáng sớm hôm sau, Viên mạnh dạn đến xin anh được đi xuống thị xã tự tìm việc làm để có điều kiện trọ học tiếp mà không nhờ vào tiền cơm hằng tháng của anh nữa. Viên ấp úng trong tiếng khóc: “Em không muốn nghỉ học. Nếu tìm không được việc gì, em sẽ ở nhà phụ việc cho anh…” Anh Viên im lặng – Viên cũng lặng lẽ rời nhà, đến trạm xe buýt.

Ra đi, Viên chỉ có trong túi đủ tiền hai vòng xe buýt dành cho học sinh có thẻ của hãng xe buýt cấp, không còn một đồng để uống ly nước, do chị góp nhặt từ nhiều ngày trước đưa cho. Viên nghĩ bụng, anh có thể sẽ nhịn đói cho hết ngày, nếu một buổi chưa tìm ra một việc gì để làm.

Nhà người đồng hương thứ ba Viên ghé lại là một hiệu buôn tạp hóa ở ngay đường phổ chính. Người dàn ông thấp bé, luôn nhỏ nhẹ, từ tốn – nhưng nếu không kiên nhẫn, thì Viên đã phải từ giã ông khi nghe những điều kiện dành cho một chỗ ăn ở trong gia dình ông ta rồi: Sáng đạp xe chở cô con gái 10 tuổi đi học, đường xa vài cây số, quay về phụ dọn hàng. Trưa, chở về. Tối, dạy cho ba người con đang học thi: Hai cậu lớn thi trung học (hai anh em học cùng lớp, vì người anh bị kém trí nhớ), cô nhỏ thi vào lớp đệ thất Nữ trung học. Và phải phụ dọn hàng vào trước khi đi ngủ… Tóm lại, là Viên chỉ được đến trường theo thời khóa biểu, không có thời gian học riêng, cũng chẳng được nghỉ ngơi cho đến hơn mười giờ mỗi đêm. Hai bữa cơm và một chỗ ngủ trên căn gác ván chứa đồ cũ dành cho Viên nếu anh hoàn tất tốt mọi việc được giao. Nếu không – theo lời người chủ: “Ngày nào cũng có học sinh đến xin kèm trẻ, nhưng anh không nhận, vì trông tướng mạo không được tốt! Em gắng làm tốt, hiền lành như vậy –anh sẽ cho ở lại hết năm!”

Năm ấy – cả ba người con ông chủ đều thi đậu. Gần hết hè, Viên lại xuống thăm – và xin được ở làm việc tiếp năm đệ nhị - để thi tú tài một. Người chủ nói – tỉnh bơ: “Biêt hoàn cảnh của em, anh cũng muốn giúp em lắm, nhưng năm nay có chính sách ấp chiến lược, họ quản lý người rất kỹ, với lại anh cũng hết việc cần rồi – em chịu khó đi tìm chỗ khác nhé!”

Trong lúc mọi tia hy vọng đều đã mờ mịt, Viên chưa biết phải đi đâu để tìm cho ra một chỗ ăn ở mà học tiếp khi mùa khai giảng sắp cận kề, thì tình cờ gặp Thanh - người bạn lớn hơn anh hai tuổi, đang học cùng lớp, nhưng ở trường tư thục Bồ Đề; trên đường đi lang thang dọc phố. Thanh kêu anh về nhà chơi. Đang buồn, Viên nhảy lên ngồi sau yên xe đạp mới choang của Thanh.

Về nhà, Thanh giới thiệu Viên với mẹ - người mẹ sau mấy lời hỏi thăm về gia cảnh – đã vui vẻ đề nghị theo ý của cậu con trai cưng duy nhất: “Cháu về ở đây ở với hai bác, cháu học giỏi vậy thì chỉ cho thằng Thanh nó học với, nó ham chơi quá, chuyện lính tráng sắp đến nơi rồi mà không biết lo - anh em cùng học thi cũng tốt!”

Viên kết thúc năm học đệ nhị - về lại quê, lo ôn thi vào tháng tới. Dù là năm thi, về nhà, Viên cũng phải phụ làm tất cả những việc người anh cần – sau đó, mới có thời gian học. Nhưng ngồi học ở đâu? Nhà thì rộng – nhưng chẳng có nơi nào dành riêng cho chị em anh – ngoài một góc buồng tối để chui vào ngủ mỗi đêm! Anh tìm đến nhà người chú họ xa lơ ở cùng dãy phố, để xin một phòng trống – trong số hơn hai chục phòng làm phòng ngủ cho thuê trước đây, nay đã trở thành những phòng chứa đồ cũ, hay bỏ phế nhiều năm qua, để có thể có nơi ngồi yên mà học đêm đêm. Nhờ bà thiếm hảo tâm xin giúp – Viên được người chú họ chấp thuận.

Với chiếc giường và chiếu cũ mèm ẩm mốc, với chiếc bàn gỗ tạp xiêu vẹo, với cây đèn hột vịt nhỏ, với chiếc bảng đen dựa vào vách phòng, với lối dẫn vào phòng tối thui, với mùi hăng hắc của đủ loại vật dụng chứa đầy trong các phòng bên cạnh (…) – Viên đã học và ngủ lại đây một mình mỗi đêm… Viên đã tha hồ ngồi học - cho đến khi nào đôi mắt không mở ra nổi (sau nhiều lần rửa mặt), mới ngã lưng xuống giường ngủ thiếp… Suốt năm học, Viên đã nhiều lần tự dặn mình: “Phải học. Thi phải đậu. Nếu có chết, cũng không sao!”


Một đêm gần cuối tháng – Viên nằm mộng. Trong giấc mơ ấy, “… Người con gái trong chiếc áo dài trắng, tóc xõa ngang vai – đến bên Viên vui vẻ trò chuyện, hỏi han đủ thứ. Viên vui mừng được dịp tâm sự, được nghe giọng nói trong trẻo ngọt ngào, được ngắm nhìn khuôn mặt hiền thục với những nụ cười tươi như hoa nở sau mỗi lời nói, và sau cùng – Viên được cầm lấy bàn tay thon thả trắng muốt để từ biệt…Trước khi giã từ. Viên đã kịp hỏi tên – anh được cô cho biết tên là Mai thị Ngọc Bích…”

Viên bàng hoàng thức dậy, trời mờ mờ sáng, căn phòng vắng lặng, ngọn đèn dầu nhỏ sáng mù mờ vàng vọt – anh đứng lên vặn to ngọn đèn thêm chút nữa – thấy rõ trên chiếc bảng đen dựa ở vách, bên cạnh những hình vẽ, dãy số, công thức toán học – là tên “Mai thị Ngọc Bích” đã được viết nắn nót, rõ ràng…


Năm 1972 – Viên 26 tuổi, đã đi dạy học được bốn năm, và là một nhà-văn-trẻ triển vọng. Hè năm ấy Viên được Bộ Giáo dục điều về làm thư ký hội đồng thi tú tài 2 tại trung tâm Võ Tánh Nha trang. Trong ngày thi đầu tiên, đang ngồi ở văn phòng thư giãn sau khi đã hoàn tất các thủ tục mở đề thi chuyển đến các phòng cho thí sinh – Viên được một giám thị phòng số 22 đến thông báo: “Có một nữ sinh đang làm bài, bị chảy máu cam – rất nhiều, xin anh cho biết ý kiến…”

Lập tức Viên theo người giám thị đến ngay phòng 22 nằm ở tầng dưới, cuối dãy hành lang. Vào phòng, Viên nhìn thấy cô gái đang gắng lấy vạt tà áo dài trắng chặn ở mũi. Máu chảy lan ra ướt vạt áo và bàn tay trắng xanh của cô. Nhìn nét mặt cô gái nhợt nhạt (có lẽ vì mất ngủ để học thi trước đó, vì máu đã chảy nhiều, và có thể vì nỗi lo sợ, căng thẳng) – Viên đặt tay lên tờ giấy thi cô gái đang cúi xuống gắng viết thêm vì bài làm còn dang dở, tờ giấy đã dính vài giọt máu – ân cần: “Thầy đưa em về nhà nghỉ nhé! Sẽ làm mọi thủ tục cho em thi lại kỳ hai, em yên tâm đi…” Cô gái ngước lên nhìn Viên, do dự giây lâu – khẽ gật đầu. Cô vội thu xếp hộp bút, một tay vẫn bịt kín mũi, đi ra khỏi phòng theo Viên. Anh gọi xích lô vào cổng trường, đưa cô lên xe – dặn: “Em chớ lo gì nhiều. Gắng giữ sức khỏe, ôn thi kỳ hai sẽ tốt thôi!” Cô gái chỉ nhìn Viên với đôi mắt ngỡ ngàng khi chiếc xích lô đi dần ra cổng trường…

Viên trở lại phòng thi số 22 làm các giấy chứng nhận cần thiết cho hai giám thị phòng ký - anh đọc thấy tên cô nữ sinh vừa bỏ thi là “Mai thị Ngọc Bích” – học sinh nữ trung học Nha trang, địa chỉ nhà số 134, Trần Cao Vân…


Lần gặp gỡ tình cờ chỉ trong vài phút ấy với Viên, là một điều rất mầu nhiệm. Đã bao năm qua, sau đêm nằm mơ ở căn phòng ngủ tối om ẩm mốc năm ấy, Viên đã cố ý tìm tên người trong mộng, nhưng tuyệt nhiên không thấy. Anh trở nên mơ mông, nhạy cảm, và có khi yếu mềm hơn từ đêm gặp cô gái có tên Ngọc Bích đã đến giữa đời anh bất hạnh. Anh yêu thương những tà áo dài trắng. Anh xao xuyến với những mái tóc dài xõa ngang vai. Anh tưởng nhớ những nụ cười hồn nhiên trong trẻo quanh anh. Có lần, trên đường đi học về - tình cờ Viên nhặt được một băng vải cột tóc mầu hồng của ai đó đánh rơi, Viên đã trân quý đặt nó ngay trên bàn học, và giữ theo anh mãi đến sau nầy…

Vì công việc cần phải hoàn tất bài thi để kịp gởi về trung tâm chấm bài ngay sau đó, Viên quên chuyện cô nữ sinh bỏ thi trong ngày đầu tiên. Sau ba ngày xong việc, anh lại phải quay vội về trường để lo một số việc cho tờ tạp chí được giới thiệu đúng ngày, và chờ nhận giấy điều động coi thi kỳ 2. Anh đã viết thư thăm Ngọc Bích qua địa chỉ đã ghi nhớ.

Sau đó ít lâu, Ngọc Bích báo tin cho Viên là đã thi đậu tú tài 2 kỳ hai, hiện đang xin vào ngành quản trị kinh doanh đại học Đà lạt, khi nhận được thư đầu tiên của Viên gởi hỏi thăm. Từ dạo ấy, dù ở đâu - dường như tuần nào cả hai cũng có it nhất một thư gởi cho nhau. Ngọc Bích thường có nhiều bài thơ tặng cho Viên kèm theo phong thư dày. Có thư là một đoạn nhật ký: “… Biển sạch và đẹp hơn ngày xưa nhưng buồn hơn ngày xưa. Tối nào tôi cũng ra biển  để nghe sóng vỗ hoài một điệu đã vỗ ngàn năm trước và sẽ còn vỗ cho đến ngàn năm sau. Tôi nhớ đến “người bạn lớn” da diết (…). Tôi muốn được ra thăm biển của quê “Bạn lớn” để nghe anh kể “câu chuyện rất đẹp về biển” mà thư nào anh cũng nhắc đến. Tôi đã yêu “Bạn lớn” thật sự rồi sao? (…). Đọc được những vần thơ hồn nhiên tha thiết, và những đoạn nhật ký rời tâm sự của Ngọc Bích, Viên không ngớt mơ tưởng, nhớ thương. Trong lời thơ nàng –Viên như thấy cả một tròi thương yêu nồng nàn của tuồi hồng mới lớn.

Bài thơ sau cùng với lá thư viết vội vào ngày 20 tháng 3 năm 1975, tại Đà lạt, Viên vẫn còn giữ:


HÃY TÌM EM


Hãy tìm em khi em còn son trẻ.

Khi cuộc đời là giấc mơ có thật ở phía trước.

Khi em còn có thể yêu anh trọn vẹn cả linh hồn lẫn thể xác.

Khi anh và em là duy nhất của nhau.

Khi cách trở không gian là vô nghĩa.

Khi thời gian không có đợi chờ

Ta tan vào nhau không cần đến những giấc mơ.


**

Hãy tìm em khi em còn son trẻ

Buồn vui cũng khóc không biết giấu vào đâu

Không nghĩ chuyện còn hay mất nhau

Yêu hồn nhiên cây cỏ

Yêu hồn nhiên trời cao đất sâu

Yêu đến bạc đầu


**

Hãy tìm em khi em còn son trẻ

Khi anh chưa già chưa thấu những nỗi đau

Khi hai ta tinh khiết bên nhau

Khi rực rỡ mỗi sớm mai thức dậy

Khi nồng nàn những buổi chiều buông

Chúng ta ăn yêu thương và uống tình nồng

Chúng ta thở hạnh phúc

Một đời không cạn.


**

Hãy tìm em khi em còn son trẻ…


(Tặng Bạn-lớn, những ngày trờ về với biển)


Sau bài thơ như lời nhắn nhủ ân cần son sắt ấy – Viên không còn liên lạc được với Ngọc Bích nữa. Sau tháng 4 năm 1975, Viên bị cuốn vào con sóng bể dâu của thời cuộc; anh đã bị quay cuồng - và trôi theo dòng nhân duyên vô định, như bao người trẻ tuổi quanh anh. Sau mấy năm được trở về quê nhà theo ý nguyện để được sống gần chị, Viên chỉ còn giữ lại những tấm ảnh chụp cùng Ngọc Bích một thời nữ sinh với phố biển Nha Trang khi anh ghé thăm lần thứ hai vào mùa hè năm 1974, những tấm ảnh của Ngọc Bích với phố hoa Đà lạt kiều diễm, hai hộp thư dày, và một tập vở ghi lại những bài thơ Ngọc Bích gởi tặng anh thời còn là sinh viên ở Đà lạt…


Ngày đầu tháng 4 năm 2013, Viên có dịp vào lại Nha trang để dự tang lễ của người bạn văn vong niên vừa mất. Đúng hẹn, một người bạn - là nhà thơ, nhiệt tình đến đón Viên ở bến xe phia nam, chở anh đến ngay nhà người bạn văn sau khi ghé dịch vụ lấy một vòng hoa tươi “Thành Kính Tưởng Niêm…” Tại đây, trong số văn thi hữu từ các tỉnh về, quý thầy ở các chùa, bạn đồng nghiệp, còn có rất đông học sinh cũ, bạn đọc yêu quý tác phẩm của ông đến dự. Viên có mặt. Nhìn ngó. Và nhận ra sự ra đi dành cho mỗi đời người thật chóng vánh, thật phũ phàng - dù quanh ông được chất đầy hoa...

Sau khi thắp hương lễ cúng xong, anh ghé ngồi lại với mấy người bạn văn cũ ở hiên nhà phía trước để thăm hỏi, vì có người đã gần 30 năm anh không được gặp - Viên đã tình cờ nhận ra Ngọc Bích từ phía sau nhà mang thêm phích nước sôi pha vào các bình trà ở các dãy bàn đang đông khách. Viên đứng lên – mở to mắt nhìn – Ngọc Bích cũng ngỡ ngàng cúi đầu. Viên nói khẽ: “Chào Em!”

Viên rời bàn, ra phía sau nhà - tìm gặp Ngọc Bích. Anh chỉ kịp lưu số phone của nàng – rồi theo người bạn về khách sạn Royal mà người bạn đã cẩn thận lấy phòng trước.

Bốn giờ chiều – Viên đứng ở cồng vào khách sạn, chờ Ngọc Bích đến - như đã hẹn nhau qua điện thoại buổi trưa. Gàn 30 năm, một cuộc gặp gỡ kì diệu sắp đến cho đời Viên cũng tại thành phố biển nầy, như giấc mơ bất chợt năm nào ở căn phòng ngủ tối om ở quê nhà, và nơi phòng thi số 22 năm nào. Ngọc Bích sẽ không đến trong mơ nữa – mà nàng sắp đến bên Viên với hình hài yêu dấu cũ. Viên bàng hoàng chờ đợi thời khắc của ba mươi năm lưu lạc được sum họp một ngày, lòng cảm thấy rưng rưng một niềm vui…

Ngọc Bích trong chiếc áo dài mầu vàng nhạt đang bước xuống từ chiếc taxi vừa dừng lại trước mặt anh. Viên vội đỡ nàng ra khỏi xe, gởi tiền xe cho người tài xế - và đưa nàng lên hè phố rộng trước nhà nghỉ: ”Ngọc Bích! Lâu nay em ở đâu?” – “Lưu lạc nhiều chỗ, nhiều nơi lắm!” – Nàng mỉm cười.

- Anh có tìm em không, mà hỏi? – Ngọc Bích nhìn Viên với ánh mắt yêu thương, quyến luyến ngày nào.

- Chúng ta đều bị cuốn trôi theo dòng thời gian với bao đổi thay khắc nghiệt, em à! – Viên trầm ngâm giây lâu, cầm lấy bàn tay Ngọc Bích siết nhẹ: “Anh xin lỗi em, vì đã không tìm được em “khi em còn son trẻ!”


Phía trước mặt – bên kia con đường hai chiều, là biển. Biển chiều một mầu xanh óng ánh. Biển của ba mươi năm vẫn còn đó, mà sao nghe đời lắm nỗi truân chuyên? Viên cầm tay Ngọc Bích đưa nàng qua bên kia đường để đến với biển đang gọi mời phía trước: “Chúng ta sẽ thức với biển trọn đêm nay, em nhé!”

- Em đã rất mong vậy từ bao năm rồi…

- Anh không dám mong, nhưng rồi, trời thương… cũng đã được gặp lại em!

- Sao không dám mong?

- Em là cánh chim non đang bay – còn anh, đã hết rồi bầu trời thơ mộng, đã an phận để đậu yên một chỗ rồi…

Viên vẫn giữ chặt tay Ngọc Bích trong tay mình - đi dựa vào nhau, hít thở cái mát rượi của gió, cái lâng lâng của tình yêu, cái phơi phới của sự yên lành bên đời sống như đang ngưng đọng thăng hoa mầu nhiệm. Cả hai đến dãy ghế dựa của chiếc quán vắng dọc bãi cát vắng phía xa. Được ngồi thả lưng lên ghế, nhìn biển xanh dạt dào lộng gió, nắm giữ bàn tay lưu lạc Ngọc Bích dịu mềm, nghĩa tình – Viên cảm thấy giây phút nầy anh mới thật sự được sống lại cho đời minh sau ba mươi năm lận đận đã qua…

Hớp một ngụm nước dừa xiêm ngọt lạnh, Viên lấy ra gói thuốc Con Mèo, châm một điếu - thả khói. Ngọc Bích rút bàn tay lại, lườm Viên một cái có đuôi dài – giọng âu yếm: “Anh vẫn còn hút thuốc như xưa sao?”

- Vẫn còn – Viên cười. Hơn xưa…

- Anh muốn chết sớm à?

- Không muốn - Viên lại cười, liếc nhìn lên khuôn mặt bầu bỉnh trắng hồng hiền thục của Ngọc Bích - ở đời ai dại gì muốn chết sớm, nhưng không muốn cũng không được mà em!

- Lý do?

- Buồn!

- Gặp lại em rồi, còn buồn nữa không?

- Hết rồi!

- Vậy anh hứa với em là bỏ thuốc đi nhé!

- Em cũng hứa… đừng bỏ anh mà… bay đi nữa chứ?

- Em hứa!

- Vậy thì, anh…sẽ bỏ từ từ vậy!

Viên quàng vai Ngọc Bích, cầm lại bàn tay nàng đưa lên môi hôn – thật lâu: “Đêm nay em ở lại với anh hay về nhà Thư?”

- Khi thầy mất, Thư gọi điện cho em ngay, vì Thư và em vẫn giữ liên lạc với nhau từ sau năm 1975. Em đã vội vã ra Nha trang trên chuyến bay buổi chiều…

- Thư là con gái của thầy?

- Là con gái út! Khi còn sống, thầy rất thương em - như con. Có hôm, em ăn cơm chung với gia đình thầy…

- Em và Thư học cùng lớp chứ?

- Dạ! giọng Ngọc Bích trầm, thấp - nhà thầy đơn chiếc, em phụ với Thư cùng anh Hân lo việc nhà… Sau ngày di quan, có lẽ em sẽ thu xếp về lại Đồng nai sớm anh à!

- Em không ở lại thêm với anh vài hôm nữa sao?

- Em rất mong được kéo dài thời gian bên anh, Ngọc Bích hôn lên tay Viên – ba mươi năm thất lạc nhau rồi!

- Anh cầu mong, từ hôm nay - chúng mình không còn “thất lạc” nhau nữa..

- Dạ...

Ngọc Bích nhoài người sang bên Viên – anh ôm nàng, siết mạnh – hôn thật lâu, nồng nàn, như dán chặt lên môi má, cổ, và áp mặt lên bờ ngực nàng đang thổn thức. Anh thầm goi:”Bạn nhỏ - em yêu ơi!”.

Ngọc Bích tràn ngập trong niềm xúc động hạnh ngô – yên lặng, nhìn ra biển – một mầu sẫm tối, chỉ nghe rõ tiếng sóng ào ạt vỗ vào bờ, đều đều – mỗi lúc một rõ và to hơn. Biển đang dậy sóng như lòng nàng đang dâng lên niềm hạnh phúc đã mong chờ từ bao năm. Nàng cúi hôn lên vầng trán Viên – thì thầm: “Chúng ta sẽ có một tuần trăng mật ở đây, anh yêu!”



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 26.4.2015.