Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        7.



 M ây quấn lấy mấy ngọn núi trong dãy Bay Màn. Trời lạnh rét. Gío rùng rùng từng đợt. Từ Tiên Yên khi dãy Cái Kỳ cao dài chấm dứt là bắt đầu vào dãy Bay Màn dày những rặng núi đất, đồi lũng cao thấp chạy theo hướng đông tây bắt với vòng cung Đông Triều. Nó trấn giữ mặt bắc Cẩm Phả, ngăn cách với Ba Chẽ, Tiên Yên, Hoành Bồ. Phía nam là biển. Núi đá điệp trùng đan xen núi đất. Cẩm Phả thực sự chỉ là dải đất chạy dài của chân dãy Bay Màn. Phía bắc không mấy người vượt qua tìm đến những miền đất khác. Phía nam thuyền mủng đò bè… đi khắp mọi phương trời. Những đợt gió mùa đông bắc tràn qua Bay Màn đổ về Cẩm Phả làm buốt da cắt thịt suốt từ tháng mười một âm lịch đến tháng ba năm sau. Gío đông nam lách qua các đảo đá đảo đất dội vào xua đi cái nóng nực mùa hè. Đứng trên đồi hứng gió thổi vào mát rượi, khoan khoái tinh thần, nhọc mệt tan đi. Phía tây cũng trập trùng đá đất. Con đường chính bé teo, len lách ngoằn ngoèo mới vào Cẩm Phả. Phía đông cũng dày đặc đá ong, đá tầng, đá gốc, đá vỉa. Vì thế, Cẩm Phả đã có thời thuộc châu Tiên Yên. Sau này, Cẩm Phả là xã, là tổng nằm trong huyện Hoành Bồ thuộc tỉnh lị Quảng Yên. Ngày mười hai tháng ba năm một ngàn tám trăm tám mươi ba, tướng Hăngrivierơ chỉ huy năm trăm lính Pháp đánh chiếm Hòn Gai bằng tàu thuỷ. Chúng dựng trại ầm ầm tại Vạ Cháy (lúc này chưa có tên Bãi Cháy). Từ đó, chúng chia quân đánh phá các nơi. Các quan phụ mẫu “khi thường quát tháo con dân - gặp thời loạn lạc co chân chạy dài”. Ngày hai mươi sáu tháng tám năm một tám tám tư, công ty than đầu tiên của Pháp ở Việt Nam được thành lập khai thác khu Hòn Gai, Cẩm Phả cùng với việc toàn quyền Đông Dương Côngxtăng(constant) ký văn bản chính thức nhường quyền sở hữu khu mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả rộng 21.932 héc ta cho công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ (S.F.C.T). Cẩm Phả thành nhượng địa thuộc quyền sở hữu của chủ mỏ nhưng về hành chính trực thuộc tỉnh Quảng Yên. Châu Cẩm Phả cũng bắt đầu từ đó. Lúc đầu, công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ cho thăm dò và khai thác chủ yếu hướng vào hầm lò. Nhiều đường lò được mở ra với tốc độ khác nhau. Lò Mông Dương, lò Lộ Trí, lò núi Trọc. Người thợ vào lò cuốc xúc than, vận chuyển bằng cùi tay, đầu gối và lưng (cõng) ra đổ đống. Lò nông quãng vài chục mét. Than được khao trong ánh nến. Bức bối ngột ngạt. Mồ hôi đổ ròng ròng. Một người chọc than, xỉa choòng vào vỉa. Than vỡ ra, chảy rào rào sau mỗi nhát xỉa ấy. Hơn chục người quang giành thúng mủng chờ bốc than. Mỗi khi chọc xỉa, than ùa ra, người lại xấn xả cào vơ, tranh nhau như ăn cướp. Không phải ai vào trước cũng được vơ cào. Người nhanh nhẹn, láu cá như Bưởi thường bốc vác được nhiều hơn. Lò tối, không khí tù túng. Có người đánh rắm. Không khí không thoát được, chửi bới nhau ầm ĩ. Thằng Còi đang khao than, vứt ngay choòng ở đấy, vừa chửi vừa hùng hục lao ra. Cả bọn rồng rắn xô dạt ra theo. Thằng nọ nghĩ thằng kia, đứa này ngờ đứa khác.

- Địt mẹ chúng mày! Cơm không ăn, ăn cứt. Rắm rít giành cho bố mẹ chúng mày chứ sao lại phun vào mặt tao!

- Đấy nó không làm nữa. Lấy máu l. mà nhét vào miệng bố mẹ chúng mày à?

Tiếng đèo xíu, bới móc chửi rủa inh ỏi. Mấy bà cứng tuổi lại gần Còi, ngọt nhạt năn nỉ:

- Nghỉ một chốc cho đỡ mệt rồi lại vào làm tiếp em ạ. Chúng nó biết lỗi rồi, không dám thế nữa đâu.

Thằng Còi nghe chán ra, đứng dậy:

- Đ. mẹ! Bố mà ngửi thấy thối đừng có trách. Bố ỉa vào cho bố mẹ chúng mày biết.

Không một ai nói thêm. Còi lần vào đường lò. Đám người đi theo, dật dờ như có phốt(*). Bao nhiêu là phức tạp. Ra vào đi lại đụng chạm nhau. Thỉnh thoảng lại nghe: - Mày nắn vào mả mẹ mày đấy à?

- Đ.mẹ mày. Đụng vào cụ tổ mày, bà tương cho vỡ mặt.

- Tổ sư cha thằng dê cụ. Mày bẹo vào mặt mẹ mày ấy, đừng véo vào l. bà.

Có đứa lợi dụng ngoáy mông ngoáy đít lung tung để bọn phía trước ngại ngần hoặc táo tợn, tránh né hoặc liều lĩnh cấu véo, lao vào trước. Than xô xuống. Bụi mịt mù không nhìn rõ người. Cứ xúc cứ cào. Đầy thì đội, cõng, kéo ra. Tới cửa lò, người gánh ra đổ đống cũng phải láu cá, gian lận bốc xít chèn vào, đưa than loại tốt óng ả mỡ màng lên trên làm màu, qua mặt người nhận mới bõ công sức bỏ ra. Than lấy từ lò đỡ phải vận chuyển đất nhưng vất vả, thiếu khi thở, mặt mũi như hề hoá trang để doạ người. Trước đây lò chỉ đào lấy than lộ vỉa không vào sâu được. Mấy năm gần đây, họ dùng gỗ cây, chèn chống lò. Có lò sâu đến vài chục mét. Lò cai Chi rộng, vào hơn hai chục mét rồi. Cửa nào than cũng ra như xối. Cai Chi có sáu lò. Đường ra than nhiều hơn. Phức tạp rối rắm cũng nhiều hơn.

- Đ.mẹ! Mày cấu vào mồm mẹ mày đấy à?

- Tổ sư thằng mất dạy. Mẹ mày ăn dở máu l. hay sao mà véo vào l. bà đau thế?

Người bị cấu véo chửi cho thích miệng thoả lòng rồi thôi. Rầy rà mà làm gì. Mất nhiều hơn được thì thôi. Yên ả là vàng, yên ả là xong. Lò than như cành cây, như rễ cây, như mạch nguồn. Càng sâu càng xa càng khó và không thấy nơi chấm dứt. Than ra như nước chảy về sông. Vỉa ít khi bằng

phẳng mà dốc đứng dốc nghiêng, xiên ngang rẽ dọc, đuổi theo nó khó thấy tận cùng. Nghe ở Mông Dương than ra không phải ít nhưng tời lôi quá khó khăn. Than lò cai Chi cao hơn mực nước biển, nằm sâu trong ruột núi. Đường đi ngang nhưng vào sâu ánh sáng nhạt nhoà, leo lét. Cai Chi kể ở đâu đâu, người ta khai thác than lò có đèn đất sáng hơn ban ngày. Ở đây thì chưa. Cu li vẫn phải khổ sở sống chết vì than, ăn ngủ nghỉ ngơi trên than, chết vùi vạ vật trong than. Một mảnh đất nhỏ như bàn tay mà không tháng nào không có sập lò, không có người chết oan chết ức. Cây bụi rậm rì che mắt người sống, xoá bỏ dấu tích người chết. Ai sống lâu nhất cũng chỉ mấy mươi năm. Những người chết non chết yểu kể loanh quanh hàng tháng không hết. Làm than tính ra công cao hơn nghề nông nhưng tiêu pha quá lắm. Mấy năm gần đây, đền phủ mở nhiều. Có người cầu được ước thấy. Ăn tiêu rinh rang. Có người càng cầu càng lụn bại. Rượu nhà nước cấm vẫn được sử dụng tràn lan. Hai dãy phố ngắn vẫn là chính yếu nhưng nhà tư, nhà tự làm đan xen lỗ mỗ khắp nơi. Nhiều nhà sống bằng nghề nấu rượu, mở sòng bạc, đánh phá ùi, đố chữ…lấy thưởng. Phố mỏ hiện hình. Nhà cửa đã thưa tiếng rậm lời chứ không lạnh vắng âm thầm như mấy năm trước. Điện đã có nhưng ít, chủ yếu phục vụ công việc. Dân phố dùng đèn dầu. Hàng quán tuy leo teo nhưng muốn mua gì cũng có kể cả hàng Quốc cấm nếu khéo nói. Cẩm Phả người đông lên từng ngày. Dân quê nghèo túng mất mùa tha phương cầu thực, tay bị tay gậy rong ruổi khắp nơi. Cẩm Phả bây giờ thực sự là miền đất chưa giàu có nhưng không khát đói. Quốc dĩ dân vi bản. Dân dĩ thực vi tiên. Nước lấy dân làm gốc. Nước đã mất rồi. Bọn bụng to mũi lõ, da trắng như người bạch tạng, mắt xanh như mắt mèo hoang, ngực tay xồm xoàm lông lá, đi lại nghênh ngang. Dân còn nhưng nghèo lấy ăn làm đầu. Tìm miếng ăn trước khi tìm lại nước.

Dòng người càng ngày càng đông, lũ lượt kéo nhau ra mỏ. Không làm than thì nuôi người làm than. Rau cỏ từ Quang Hanh, Đá Chồng đến, từ Cẩm Bình lên. Than từ Đèo Nai, Cọc Sáu, Lộ Chí xuống. Tết tết, người từ mỏ trở về làng quê. Vay mượn bạn bè cộng với tiền tích cóp được, chi dùng cho sang. Người dân quê tưởng sung sướng lắm, ra theo, mong được đổi đời. Cuốc bộ, theo tàu, theo xe, theo thuyền. Ăn tết xong, họ ra kéo thêm người thân bạn bè. Phố mỏ càng đông chật. Tiếng đồn cuộc chiến tranh lớn có cả mẫu quốc tham gia ngày càng lan nhanh. Nghe xa nên ít phần nguy hiểm chỉ dày hào quang của người chiến thắng. Ở làng quê, đã có người cùng đường đăng ký ra lính đến bất kỳ xứ sở nào.


Phu mỏ hì hụi leo dốc. Đuốc lửa sáng bập bùng. Những căn nhà lợp gianh, đánh bằng lá mía, lá cỏ săng, vách ken cây, ken róc, ken tre chẻ lần lượt lùi lại phía sau. Người đi kéo thành dãy dài, rải dọc con dốc không lấy gì làm cao. Gío reo réo qua ngọn đuốc. Lên đầu dốc, có người leo tiếp còn phần lớn tản ngang ra các tầng. Gío buốt thon thót. Người vơ than, kẻ nhóm lửa. Chốc lát, bếp xanh lét những ngọn lửa cao, réo phừng phừng. Than trong bếp từ từ đỏ hồng. Đứng ngồi quay mặt vào hay xoay mặt ra được phía nọ hỏng phía kia. Mặt có thể bỏng rát mà sau lưng lạnh buốt.

Tang tảng sáng, ai vào việc ấy. Người khao, người xúc, người bê vác gánh gồng. Đã làm mỏ hơn chục năm, Cải đã táp đến chục lần chiếc đòn mấu. Hai đầu đòn bị đè xiết đến mòn vẹt. Cải đã buộc đồng, đóng thêm gờ vào đầu đòn, giữ quang gánh cho khỏi tuột. Ở mỏ, phân kí (xi) đan bằng nứa, tre, dùng, róc…đều rất thuận lợi. Nó có dáng như chiếc mai xúc nhưng to hơn, đựng quãng 25 - 50 cân. Cạp bằng thân cây nhỏ hay dây rừng to như ngón chân cái. Toàn bộ còn lại bằng dùng, nứa…đan. Có hai loại phân kí tương tự nhau. Một loại trơn. Một loai có quang cũng bằng nứa dùng. Khi gánh tới nơi đổ, chỉ việc dốc ngược phân kí, những thứ đựng bên trong trôi tuột ra ngay. Loại trơn thường dùng để bê. Nếu gánh phải có quang. Đây là vật dụng được cải tiến từ dụng cụ lao động của bà con dân tộc.

Cải đã hăm sáu hăm bảy rồi. Chẳng kén chọn gì nhưng anh chưa đứng số. Cũng từng ve vãn, trêu cợt gái mỏ nhiều buổi. Dao mẻ tra vỏ vỡ. Ách xấu đặt trâu gầy. Ai bảo đất cằn không mọc hoa. Răng trắng mặt tròn phúng phính khi xưa giờ thành răng cải mả, trắng vàng đen lẫn lộn. Má hõm, da đen nhẻm. Ăn nói đúng mực, không thù ghét ai lâu. Bạn bè anh, thằng Đá, thằng Ao đều lấy vợ, có con rồi. Chúng làm nhà riêng. Đứa xa, đứa gần nhưng bận làm ăn, thường chỉ gặp nhau ở tầng, không mấy khi rảnh ghé nhà nhau chơi. Cải vẫn ở cùng bố con ông Đục. Thằng Bào đang yêu cô Xe - con ông Tác. Nghe nói nó muốn lấy vợ dịp tết ra nhưng con bé phải lòng nó cứ nhấm nhẳng thế nào ấy. Nhà đã sửa, lợp lại mấy lần. Nếu Cải lấy vợ, Bào có con là chỗ ở phải tính toán. Ông Đục đã yếu, gần sáu mươi còn gì. Ông nghỉ việc tầng, trông coi nhà cửa cho chúng. Cả đời ông sóng to gió cả vùi dập đã nhiều, chỉ toàn xuống chó không thấy lên voi. Từ một thanh niên ngập tràn khí tiết, ôm nặng hoài bão, ghé vai chung lưng cứu nước, mơ ước cao rộng xa dài đến nay, ông yếu ớt hom hem, đi mạnh, làm lâu thở thành tiếng, ngồi xuống đứng lên phải vịn. Ở gần nhà, ông Bội vẫn thường sang, lúc chén nước khi điếu thuốc rồi ho. Ho khùng khục. Có lúc ông Bội sặc, mắt trợn ngược mồm há ra, tay nện ngực thình thịch, mãi mới nói được. Từ khi Cheo lấy vợ, ông Bội cũng nghỉ, coi chúng như con trông con cho chúng. Cai Toàn già rồi vẫn thích cấu véo chị em. Lò tầng khi có than khi hết. Phu phen chuyển đổi tứ tung chứ không quy củ như những ngày đầu.

Tối làm về, thèm thuốc hút mới ớ ra. Thuốc hết. Lập cập, Toàn men theo đường mòn xuống quán bà Khảo. Thực sự, Toàn chỉ định mua thuốc lào.

Quán bà Khảo rộng thoáng. Mái lợp cỏ. Tường bằng róc ken dày, cao ngang ngực. Hai gian thông nhau. Khách đến ngồi, tự tìm chỗ, chuyện vãn thường xuyên. Những gộc cây to, đã phạt, cưa bằng, đào sâu chôn chặt. Cái làm bàn, cái làm ghế, sắp đặt tuỳ tiện. Bà Khảo goá chồng. Chồng bà mất đã hơn chục năm. Gìơ, bà nuôi con Xuơ. Không ai biết đích xác là con hay cháu. Họ hỏi. Lúc bà bảo cháu, lúc gọi con. Khi rủa xả thì ghê gớm, chả ai còn biết đầu cua tai đỉa thế nào. Bà đã sáu mươi nhưng nhanh nhẹn, thường đứng sau mặt phản khung gỗ ken róc dày. Trên bàn xếp đầy ổi, bòng, na, táo… Mùa nào thức ấy cả lạc, ngô, sắn, khoai luộc. Dăm bảy nải chuối treo trên móc cù nèo bằng chạc cây. Người ngồi từng đám, từng tốp trước khu đất rộng bên ngoài gian hàng những ngày nghỉ việc. Mấy đứa ngồi dựa, nón phủ mặt như ngủ. Nón lá đan, nẹp bằng những nan tre mảnh cứng, rộng vành, ở giữa lồi lên làm chỗ đội.

Bà Khảo bán hàng từ sáng đến chiều. Buổi tối, bà nghỉ, dọn hàng xuống căn nhà nhỏ ở phía sau. Mọi việc lặt vặt cơm nước giao cho đứa cháu mười hai tuổi. Xuơ cơm cháo giặt giũ. Lúc đó, liếp cửa hạ xuống. Ai cần mua gì thoải mái gọi, kể cả nửa đêm.

Tối ấy, Toàn đến mua thuốc lào. Thấy vắng, hắn lách cửa vào. Trong quán, tối om om. Toan lên tiếng gọi, hắn chợt ngừng. Có tiếng dội nước ào ào. Toàn khẽ khàng nhón chân. Bà Khảo đang tắm. Dưới ánh sáng nhờ nhờ, Toàn thấy mảng lưng như mỡ quét. Bà vẫn mặc quần, mặc yếm, kỳ kỳ cọ cọ rồi dội nước. Hắn kiễng chân, căng mắt nhìn cho rõ. Tay luồn xuống phía dưới kéo đũng quần cho chùng lại. Bà Khảo tắm xong, thay yếm. Bấy giờ, cả hai trái đu đủ nẫu gần sáu mươi năm phô ra trọn vẹn. Bà còn dầm dương, nâng nâng từng trái xem xét rồi bà vuốt vuốt, lau lau bằng cái yếm ướt. Bà thay quần.

Toàn lủi ra, chờ một lúc, khẽ gọi: - Chị Khảo ơi!

- Ai đấy?

- Tôi đây! Cho mua gói thuốc lào.

- Cậu Toàn à? Vào đây, tôi lấy cho.

Ánh đèn sáng lên từ ngọn đèn dầu vừa thắp. Toàn tới gần: - Cái Xuơ đâu?

Bà Khảo hất mặt về phía góc nhà. Con Xuơ ngủ co trên lạch giường kê bằng những viên gạch đỏ. Chẳng chờ quỷ xui, Toàn đưa tay bóp ngực. Tay kia xọc thẳng xuống phía dưới bụng bà Khảo. Thực tế, hắn định dừng ở đấy không dám tiến sâu nữa… Bà Khảo quát nhẹ: - Thằng ranh này. Ai cho làm vậy.

Rồi bà nhìn hắn cười cười, tay giơ giơ nắm đấm ra đe. Trước thái độ như mời mọc ấy, thách gì hắn không lấn tới. Hắn ôm bà, bế bà lên chõng. Bàn tay cuống cuồng tìm kéo dải rút, giật lấy giật để. Bà oằn oài một lúc rồi xuôi hai tay, hổn hển: - Chết ! Chết! Lần sau đừng thế nữa. Chết mất thôi!

- Chết gì mà chết! Em cứ làm đấy.

Hắn lại đưa tay vợt vợt lên ngực bà. Bà sẵng: - Nỡm ạ! Để tao lấy thuốc cho.

- Bao nhiêu tiền?

- Cầm lấy! Xéo đi. Về cho sớm.

Đêm ấy, bà Khảo trằn trọc không ngủ được. Còn Toàn cũng nằm tơ tưởng một hồi rồi lăn lóc như chết. Vợ hắn phải gọi mãi mới biết giờ lên tầng.


Năm nay, phu mỏ được nghỉ dài. Qua tết một tháng mới phải đi làm. Bưởi về thăm quê. Cải gửi một đồng biếu bố mẹ và anh em ăn tết. Đá, Ao mỗi đứa năm xu. Chúng còn bìu díu nặng nề vợ con. Đá nhắn các em có ra mỏ làm ăn, chờ theo Bưởi. Ao chẳng nhắn gì. Không biết hơn mười năm qua gia đình còn yên ổn cả không? Khi đi mẹ đã yếu giờ thế nào? Năm đứa em đã chồng vợ cả chưa? Tưởng Bưởi về là chuyện bình thường nhưng đêm ấy, lán phu có thêm người thức, trăn trở lo nghĩ đến người thân không tin tức ở quê nhà.

Thời gian vùn vụt trôi hay loạng choạng bò, lên xuống gập ghềnh theo số phận mỗi người. Đã hăm nhăm năm ngày Pháp mở mỏ, ai tính được bao người chết vì than. Ốm đau, bệnh tật kinh niên tái phát, tai nạn rủi ro, tai nạn sập lò, đổ tầng, trụt than trụt đất, đá xô đá chạy. Nghĩa địa dày đặc mả mới. Bao người do than mà giàu, mà phất lên. Tài lộc đổ vào, xây nhà, mở thêm tầng, mở quán. Phần đông nhờ than mà tồn tại, mà khỏi chết khổ, chết đói khi quê hương nước lụt đê vỡ, tường sập nhà xiêu. Cuộc đời Bưởi trăm ngàn cay cực. Hơn ba mươi tuổi đầu, người ta đã con bế con dắt, thằng trước mặt đứa sau lưng. Bưởi trơ hai con mắt. Đời Cải cũng chẳng hơn gì. Chục năm xa nhà bặt tin tức. Bố mẹ còn khoẻ cả không? Anh Của chắc đã con cái đủ đầy… Con Thừa, con Thãi chồng con ra sao? Có được nhờ hay càng thêm tội nợ? Gần ba mươi năm trôi qua, hơn nửa phần sống xa nhà. Được mọi người coi là đứng đắn từng trải mà hết cổ cày vai bừa lại đầu đội vai vác. Đến bao giờ được ngửa mặt trông lên? Ở làng quê hai lăm hai sáu tuổi còn độc thân đã là ế vợ. Gìờ suýt soát ba mươi, trên vai không mảnh tình rách. Bận công việc thì nguôi chứ nghĩ tới thật buồn.

Tết năm nay thời tiết lạnh. Ông Đục chuẩn bị cân nếp nấu xôi. Ba người ăn khéo cả ngày. Mấy con gà nuôi từ trung thu chờ tết cắt tiết. Cáo rình bắt, sót lại một con. Ông đành giết nấu đông. Lòng bề nấu miến. Măng có từ năm trước, ngâm rửa sạch bụi mốc, đủ dùng. Mấy thằng có vợ có con, ăn bao nhiêu mang sang mà ăn, mà nấu nướng xì xụp, không thì thôi. Tao già rồi, không thể hầu hạ chúng mày mãi được.

Ông Đục dáo dát từ trước tết. Không khí đón xuân ở phố mỏ cũng nhộn nhịp hẳn lên. Thanh niên trồng đu, luyện tập kéo co, đánh gậy, chạy xa, nhảy cao. Nhà nhà quét vôi lên tường đất nện, mua giấy xanh giấy đỏ vẽ loằng ngoằng trừ quỷ trừ tà. Ai cũng dạt dào hi vọng, năm mới nhiều cái mới, tươi hoa tốt nụ với mình.


Cheo ở cùng ông Bội từ ngày đầu ra mỏ. Làm được tám năm, nó phải lòng cô Nhằng con bà Nhắng. Bà chết chồng nhưng đông con. Cô Nhằng là con thứ hai. Hai đứa lấy nhau. Vì yêu Cheo, cô gánh than cùng tầng chưa bao giờ đứng gần cai Toàn sợ bị cấu véo. Đẻ đứa con trai đầu được một tuần, cô leo tầng gánh than như không. Toàn phải xuýt xoa: - Ở nhà chăm con cưng cứng hãy đi làm, em ạ! Không có sau này khổ. Gái một con mà thành bà già thì chồng nó lại ruồng rẫy cho thôi.

- Nhưng lấy gì mà ăn?

Câu trả lời nhấm nhẳng dừng ở đấy.


Ông Bội trông con cho Cheo. Đất than giết người tàn bạo nhưng cũng nuôi người. Đứa trẻ khát sữa. Nước cơm, nước cháo kéo nó đứng lên. Ông Bội bế nó nhong nhong quanh khu nhà ở. Thằng Thao đã hơn bốn tháng, đang tập lẫy. Nó quẫy đạp lung tung. Nhiều lúc, ông bế không nổi. Đường sá cách trở, chả tin tức gì của anh em bà con ruột thịt ở quê. Bán cái thân xa mua cái sơ gần. Ông Bội đối với Cheo như cha con, hơn cha con.


Ông Bội đã theo, đầu quân cụ Tán vào đến Quảng Nam nhưng không biết ông Đục. Ông cũng lăn lộn lận đận suốt mấy chục năm trời ở Đà Nẵng, Hội An khi quân cụ Tán lên đường ra Bắc. Đã từng chịu chung đau thương với bà con làng cá Hà Khê. Một làng cá lâu đời. Người dân đánh cá bằng thuyền thúng, lênh đênh lấy mặt nước làm nhà. Đánh cá chuồn là nghề truyền thống. Dân đi thuyền từ lúc nói sõi. Đàn ông trai tráng sống trên nước nhiều hơn trên đất. Phụ nữ làm việc nhà, đón cá từ thuyền về, phân loại, mang ra chợ bán. Ế hàng hoặc vì nhiều lí do, họ ướp chượp, làm mắm. Mắm cá chuồn nổi tiếng khắp vùng. Làng cá Hà Khê không chỉ có dân Hà Khê. Người ở các làng bên, làng xa cũng dong thuyền đánh bắt. Họ tụ tập cầu cúng trước khi xuống thuyền mở đầu vụ cá mới. Thường là cuối tháng hai âm lịch. Tục cúng cá ông, mong cầu những điều thuận lợi, may mắn, những việc tốt lành được tiến hành. Vào đúng ngày 26 tháng 3 năm 1893, cầu cúng xong, thuỳên ra khơi. Trận cuồng phong ấy đã cướp đi toàn bộ những người trên biển. Đau thương tận cùng xốc thẳng vào ruột gan làng. Sau ngày sóng gió dữ dội ấy, nhiều người Ha Khê không dám ăn cá tôm một thời gian dài. Ông Bội đi câu mực. Câu từ nhọ mặt đến tảng sáng. Mỗi thuyền thúng một người. Sáng ra, gộp lại, tụ tập vào tàu mẹ, móc ruột, bỏ mai, phơi. Mực Hà Khê dày to. Bán rẻ hơn các nơi khác. Nhưng nghề cá không giữ được chân ông. Ông dạt ra Quảng Trị, Quảng Bình. Nơi cháy da cháy tóc. Tóc đỏ quạch, da bong từng mảng. Nơi có những bãi phi lao cổ thụ, thấp hơn người, mọc bò trên cát trắng. Người có nhân thích rừng núi, người có chí thích sông hồ. Ông chẳng thấy nhân, chưa nhìn thấy chí, chỉ cố tìm cho nổi miếng ăn. Được đâu âu đấy.

- Người có bàn tay hộ pháp, ăn sóng nuốt gió như tao mà phải chăm sóc nuôi chim cho bọn có tiền ăn chơi, bắt chim cho bọn ăn không ngồi rồi thả phóng sinh, tích đức cho con cái chúng. Nghe thì thế nhưng bước vào cũng vui đáo để. Chim hoang dã, chim rừng hay khoanh đất khoanh cát, vùng vẫy tắm để khử ve, mò, bọ chét. Tắm thế không làm cho đẹp mã nhưng rất quan trọng. Từng mảng kí sinh sẽ bị văng ra. Sau đó, chúng thường khoan khóai rũ bỏ đất như người thoả thuê tắm táp, rũ bỏ mệt nhọc.

Ông Bội lợi dụng những điểm như thế đặt bẫy dàm. Gương gọng lưới rộng, căng ở những nơi chim thường tập trung tắm cát, gài chốt. Khi cần, ấn tay vào lẫy mở chốt. Mặt lưới chụp xuống. Gỡ chim ấy mang về nuôi, chờ lễ hội, lễ chùa bán cho người ta phóng sinh. Nuôi chim bán cho người chơi cảnh phải thửa lựa, dụng công hơn nhiều. Người mua thường mua đơn, từng con một: yển, sáo, hoạ mi, chích choè…hoặc mua bộ. Ba con bộ tam đa, bốn con bộ tứ quý, năm con bộ ngũ phúc…Người chơi sành thường nuôi yến. Bộ yến bốn con: hoàng yến, hồng yên, thanh yến, bạch yến. Tên gọi theo màu sắc bộ lông chúng. Vân yến là loại yến bình thường, màu trằng khói nhưng khi họp với bốn thứ trên trở nên hài hoà cao sang hơn. Chim tốp, chim nhóm, người mua thường hay nuôi vành khuyên, vẹt, chào mào…quy thành từng bộ. Bộ gồm ba , bốn, năm con hoặc nhiều hơn.

- Có nhiều bộ chim lắm không tính hết được. Bộ chào mào: Chào mào đỏ đít, chào mào trắng tuyền, trắng hai má đỏ, trắng hai má xanh. Bộ chích choè có chích choè than, chích choè xanh, chích choè lửa xanh lam đuôi ngắn, chích choè lửa màu đen đuôi dài, chích choè mun (màu đất đen) chích choè nâu (màu đất nắng). Bộ khiếu có khiếu mun, lửa, bạc má, cánh vàng, xanh lam. Bộ chim khuyên có khuyên vàng, khuyên xanh, khuyên ghi.. Bộ hoạ mi gồm hoạ mi nâu, mi đen, mi điểm hoa mơ, lửa. Tiếng hót của chim mới lạ kì cơ. Thằng cháu ông nghe chán đã ngủ rồi. Các cháu đi chơi đi. Hôm nào rảnh, ông lại kể cho mà nghe. Cuộc đời ông ít lửa nhưng đầy nước mắt. Hôm nào nhé!

Cái tết năm Ất Mão ấy (1915) rồi cũng ồn ào đi ngang phố thợ. Phu mỏ nghỉ dài, thiếu ăn, chờ đến ngày đi làm. Người la hết tiền, kẻ kêu hết gạo. Bà kêu không bán chạy hàng. Ông kêu đau lưng, tuổi già gặp ngày trở gió. Những chuyện không đâu, không đầu không cuối ấy chả bao giờ hết. Ở làng quê, hôm nay mồng bảy ngày khai hạ. Mọi người bận bịu với lễ hạ nêu, xuống đồng, chuẩn bị mùa vụ mới. Ngoài này, tầng mỏ vẫn ắng không. Đã nghe rộn sau tết nguyên tiêu, những người đăng ký đi lính sẽ tập trung xuống tàu đi sang Pháp, sang An giê ri. Đăng ký dạo cuối năm trước, Động về quê. Bố mẹ đã chết cay đắng. Đứa em cũng từ giã cuộc đời với bao đắng cay. Động về, thăm ông bà Độp, chị em Nhiều. Dù sao cũng là ruột thịt. Giọt máu đào hơn ao nước lã. Gìơ bốn bể là nhà, một mình, chả vướng bận đến ai, thôi thì kệ đời, được đến đâu hay đến đó. Hôm nay, Động vẫn chưa ra.

Người lục tục từ quê ra sau rằm tháng giêng. Không phải họ chờ ăn xong tết thượng nguyên mà vì xa xôi cách trở. Làng quê nghèo túng, tình cảm là chính chứ ăn uống tết tư nào có ra gì. Tốp năm tốp bảy. Có tốp kéo thành đoàn, thành dãy hơn chục người. Người vào lán, người ở nhà riêng. Người quen, người lạ xôn xao cả hàng phố nhỏ. Cuối giêng, Bưởi trở lại mỏ. Anh lếch thếch gánh gồng, kéo theo một đám người, dạt vào lán chứa phu.


(*) Phốt: lỗi.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 18.4.2015.