Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




GIAN NAN LÀM NGƯỜI





Chương 2.


NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN


Đầu mùa hè năm Ất Dậu (1945)

Chúng tôi còn nhỏ, mới chỉ có 5-6 tuổi đầu. Cái tuổi mà ở nhà trường xưa còn chưa được đi học. Nhưng bố tôi đã đi mua hai quyển “Quốc Văn khai tâm” về để dạy con nhận mặt chữ. Buổi học đầu tiên ấy nhưng lại có thầy học đó là cha tôi. Sau giờ tiếp khách cắt thuốc, ông dành hẳn một giờ nghỉ để dạy cho các con. Ông gọi hai đứa đến truớc bàn trao cho mỗi “học trò” một quyển Quốc Văn rồi nhẹ nhàng nói :

-Từ hôm nay bố dạy các con biết đọc, biết viết được là sang năm các con đi học trong trường Phủ, ai ngoan thì bố thưởng, lười học là bố phạt. Nghe rõ chưa .

Bài học đầu tiên là học các chữ cái. 24 chữ cái ABC , xếp từ nguyên âm đến phụ âm được in vào sách như những nét hoa bay bướm lượn. Nhưng bố tôi không ép học dài, mỗi ngày chỉ học 5, 6 chữ. Đọc làm sao cho thuộc mặt chữ là đạt. Hai anh em tôi đứa nói sõi, đứa nói ngọng nghịu nhưng bố đã bảo thì phải ngoan ngoãn nghe lời. Cứ ra rả như cuốc kêu cho đến lúc hết giờ.

Trong gian nhà nhỏ cột gỗ, mái ngói, cái bàn kê hướng ra rân để lấy ánh sáng, anh em tôi ngồi ngay ngắn trên ghế, tay khoanh lại đặt trên vở, mắt hau háu nhìn theo thước kẻ của bố chỉ vào từng chữ rồi thi nhau đọc “chữ A ạ, chữ B ạ” . Học thuộc mặt chữ là học vần. Sách Quốc văn xếp chương trình theo cách ghép vần các phụ âm với nguyên âm từ B dến X. Học thuộc cách ghép vần mới học ghép nguyên âm với nhau

Đã thuộc bài, hai anh em cầm sách chạy lên nhà trên, khoanh tay đứng trước ông nội và bố, rành rọt lễ phép thưa :

-Thưa ông, thưa bố chúng con xin đọc bài ạ

Nghe các cháu đọc bài xong, ông tôi thường có nét mặt rạng rỡ. Người cầm lấy bát điếu vê điếu thuốc lào, châm đóm lấy lửa, vít cần xe điếu rít một hơi sảng khoái

Bố tôi không hút thuốc, nhưng lại hỏi :

-Các con muốn bố thưởng cái gì ?

-Dạ, bố cho chúng con được ngủ với bố, nghe bố kể chuyện cổ tích ạ

-Thế đã đi tắm chưa ?

-Thưa, mẹ đã tắm cho chúng con rồi ạ

Ông cười, giang hai tay cho hai đứa sà vào lòng. Đêm ấy bố tôi kể chuyện như thế nào tôi có nhớ được đâu, mà chỉ thấy ấm bởi bàn tay bố xoa nhẹ trên lưng Đứa nọ tỵ đứa kia đến nỗi ông phải nằm ngửa, để hai cái đầu con trẻ áp cvaof nách ngủ yên cho tới sáng.

Nhưng mùa hè ấy cũng là một mùa hè đau thương của dân tộc. Nạn đói khủng khiếp do bọn phát xít Nhật gây ra đã đe dọa mọi xóm làng Những cánh đồng lúa đã có đòng đều bị lính Nhật bắt phá bỏ, nhổ lúa để trồng đay phục vụ chiến tranh.

Tôi còn nhỏ quá, nào đã biết được nguyên nhân vì sao, chỉ thấy có những người đi ăn mày trên phố. Rồi một buổi sáng, anh Thước – người làm công – khi mở cửa hàng đã hốt hoảng quay vào :

-Thưa ông, ngoài hè nhà ta có nguopwif chết đói

-Thật không. Anh xem họ đã chết hay mới lả đi

Anh Thước lại chạy ra ngoài, rụt rè quỳ xuống. Cả nhà tôi cũng theo bước ra cửa để xem, thấy anh Thước đặt tay lên má tử thi. Cái đầu của “người chết” tự nhiên sẽ động, đôi mắt mở trừng trừng, miệng há ngáp ngáp đòi ăn

-Thưa ông. Người ta còn sống ạ

-Anh lấy ngay lẻ gạo bỏ vào xoong con nấu cháo, cấp thời đổ cho người ta.

Ông tôi cũng trở dậy, cụ bảo “Làm nhanh lên, cứu được một người phúc đẳng hà sa”

Đó là người đói lả đầu tiên trên hè phố Ga được cứu, chiều hôm ấy khi ăn cơm bố tôi dặn người làm :

-Anh nấu sẵn cho tôi một nồi cháo. Nấu nhiều vào. Cơ sự này sẽ có nhiều người hành khất chết đói đây

Các nhà trong phố cũng theo nhau làm việc nghĩa. Họ không có gì hơn để giúp người nghèo, nhưng bát cháo phát chẩn thì cố gắng làm được. Nào ngờ người đói ngày càng nhiều. Trẻ em bị cấm ra chơi ngoài cửa vì mùi xác chết đã phảng phất trên đường. Những bộ xương khô khoác áo tải đay, cái sọ tròn rụng hết tóc đôi mắt trắng dã trên khuôn mặt đen sì lảo đảo đi, vật vạ lê từng bước. Cái gì mút được ăn được họ đều lăn vào để kiếm, rồi cái chết cứ hạ dần từng người như chém đổ cây chuối. Đang đi cũng ngã sấp xuống đường để không trở dậy được nữa, đang ngồi cũng gục xuống đầu gối lên quá tai, cái xác tự bó tròn lại như bó củi.

Sáng dậy, anh em chúng tôi ra sau nhà rửa mặt lại thấy tiếng xe bò lọc cọc lăn. Hai người phu chợ đang vừa kéo, vừa đẩy một cái xe chở đầy xác chết ra quán Âm Hồn đào hố chôn chung. Những bác phu chợ có người về nhà thắp hương khấn khứa :” Xin oan hồn tha tội, vì chúng tôi không thể cứu sống được ai nên đành chôn cả người chưa chết hẳn, để hồn chóng đầ thai kiếp khác, thoát khỏi cảnh khổ trần ai”

Nhưng biết đến bao giờ mới được đổi liếp ?

Cái đói không còn xa lạ nữa, mà đã đe dọa ngay cả các làng ở Thường Tín. Nơi đây không bị nhổ lúa trồng đay nhưng giá gạo thóc tăng cao do quân Nhật lấy hết thóc lúa tại các nhà dân. Lúa ngoài đồng chưa chín. Tôi thấy các anh chị bên ngoại đã tìm cách gập mẹ tôi xin cứu giúp. Mỗi lần thấy các cháu đợi ngoài rào mẹ tôi chỉ khẽ hỏi thăm rồi vội vã lấy những đồng tiền dành dụm đưa cho. Người con gái thảo hiền đi lấy chồng xa vẫn còn nặng gánh với gia đình họ hàng. Bà tháo đồ nữ trang gói lại gửi cho các cháu. Bố tôi nhận thấy thiếu vắng đồ nữ trang, hỏi vợ “Mợ đeo nữ trang cho đẹp, sao lại cất đi ?” Bà trả lời “ Em đánh mất rồi cậu ạ” Không nói gì hơn, ông lẳng lặng đi lên nhà trên. Mẹ tôi chịu sự nghi kỵ của chồng lặng lẽ hy sinh, mong giúp được người thân vượt qua cái đói.

Bây giờ về làng, vẫn thấy tại nga ba đường sang Phú Cốc có một tấm bia Căm Thù dựng năm 1957 thống kê số dân đã chết đói lên đến hàng nghìn người trong một cái xã nhỏ. Cả xã Hà Hồi đều có người chết đói, người bỏ làng đi xa, nhà nào cũng có người không may như thế . Hàng năm vào tháng Ba (âm lịch) những người sống hiện nay lại làm một cái giỗ chung, thương nhớ người đã khuất vì đói kém tháng Ba năm Ất Dậu 1945

Đó là nhưng kỷ niệm ngày thơ bé không bao giờ quên. Niềm vui nỗi buồn cứ bám mãi vào trí nhớ cho dùng đã qua những năm tháng trưởng thành.


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 18.4.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn