Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Đền Bia Bà - Làng La Khê






Hà Nội Xuân 2015. Xuân chẳng có Xuân. Thương xót các cụ cây Hà Nội Phố. Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội chúng tôi rủ nhau tìm về Hồn thiêng Thăng Long, lễ đền Bia Bà làng La Khê- Hà Đông- Hà Nội.

The La, lụa Vạn, chồi Phùng

Làng La Khê hay làng La Ninh cổ thuộc xã Văn Khê, phường La Khê, quận Hà Đông- Hà Nội. Làng nghề dệt the lụa nổi tiếng thế kỷ XVII. Dân gian tụng ca "The La, lụa Vạn, chồi Phùng".

Làng La Khê phồn thịnh từ thế kỷ V. Ban đầu làng có tên La Ninh ("La" là lụa, "Ninh" là sự thịnh vượng, lâu bền). Thế kỷ XV. Làng La Ninh đổi tên thành La Khê (tức là làng dệt lụa bên dòng sông nhỏ). Thuở ban đầu, làng có nghề dệt sồi, đũi, bán cho cư dân Thăng Long. Ðầu thế kỷ XV. Người Hoa ở vùng Lưỡng Quảng (Trung Quốc) di cư sang Việt Nam mang theo nghề dệt thủ công. Mười gia đình người Hoa đã đến lập nghiệp ở đất La Khê, đem nghề dệt the, sa nhuộm đen và công nghệ dệt dạy cho dân làng. Thời đó, hầu hết dân làng La Khê đều sống bằng nghề canh cửi. Các sản phẩm the, sa, vân, địa, quế, gấm vóc của La Khê với những họa tiết, hoa văn tinh xảo dần thay thế sồi, đũi, bởi nó mỏng, nhẹ hơn, rất bền và đẹp. Sự khác biệt của làng lụa La Khê với làng lụa Vạn Phúc là: làng La Khê xưa chuyên nghề dệt sa màu và các thứ lụa bạch, lụa vân. Làng cổ Vạn Phúc thì nổi tiếng với thứ lụa gấm lâu đời (tương truyền có từ thời Cao Biền).

Năm 1823. Nhả Nguyễn lập La Khê thành xưởng dệt cho kinh thành Huế, miễn đi lính cả làng. Những năm 1840 thời vua Thiệu Trị. Xưởng dệt làng La Khê hàng năm phải cung cấp cho triều đình 600 tấm sa màu. Chợ Cầu Ðơ một tháng sáu phiên là nơi dân làng La bán buôn, để từ đó sản phẩm dệt sa màu đi khắp đất nước.

Tục truyền đời vua Minh Mạng (1820-1841), có viên cai đội mãn hạn lính nhà Nguyễn, tên là Trần Quý, tìm thấy được mảnh gấm nước ngoài dệt tinh xảo, liền mày mò nghiên cứu xem xét, tìm ra được bí mật trong cách dệt gấm vóc của nước ngoài. Trần Quý cùng các thợ bạn trong làng cải tiến dệt gấm vóc. Nhóm thợ làng La Khê này đã dệt được một tấm gấm tinh xảo không kém tấm gấm mẫu. Từ đó, làng La Khê có thêm nghề dệt gấm. Trần Quý thành ông tổ dệt gấm của làng.

Đầu thế kỷ XX. Nghề dệt the La Khê phát triển bán cho người trong nước và xuất khẩu sang châu Âu. The làng La được triển lãm tại Paris . Các nghệ nhân làng nghề được phong cửu phẩm, bá hộ.

Sau năm 1954. Nghề dệt the tạm lắng. Cả làng La Khê quay sang dệt vải bông, khăn mặt, thảm đay.

Năm 2002. Nhiều nghệ nhân thắp nến cứu làng nghề sống lại.

Theo các bài viết tại internet. Người dân La Khê, qua mấy thế hệ không làm nghề, quên hết cách dệt the, khung dệt đã phá hết. Nghệ nhân Nguyễn Công Toàn dạy cách dệt the cho thanh niên trong làng. Những người thợ trẻ sau vài tháng được  các nghệ nhân truyền nghề, đã biết dệt thành thạo các mẫu hoa văn.

Trong lớp hậu duệ ở La Khê, có những người thợ trẻ yêu nghề như anh Lê Ðăng Toản. Chỉ vì tò mò mà học, giờ đây anh Toản đắm say nghề. Từ go sợi, lên máy, dựng máy đến thăm go, sô nan và đục bìa (vẽ hoa để dệt) ở từng mẫu hàng như: the, sa, vân, xuyến, băng, là... anh Toản thuộc làu làu. Anh Toản nói: "Vẽ hoa để dệt được coi là một trong những công đoạn khó nhất của nghề bởi không chỉ như vẽ một bức tranh, người vẽ mẫu để dệt phải tính toán từng đường nét sao cho cân đối, lúc dệt lên tấm the không bị xô, bị dạt".

Nghề dệt the nhiều công phu, có mẫu hàng dệt tới nửa năm, nhanh nhất cũng phải hai tháng. Như mẫu áo Thủy Ba do một Việt kiều tại Mỹ đặt làm phải mất bốn tháng đục bìa dệt và hai tháng dâng máy cho một tấm the dài 2,5 m. Những người thợ dệt the La Khê phải vào tận cố đô Huế xem các mẫu dệt để về khôi phục lại. Những người thợ dệt the La Khê đã  sáng tạo hơn 20 mẫu hoa văn, dệt thành những tấm vải the hoa, trong đó có không ít những mẫu hoa văn cầu kỳ, với họa tiết cách điệu những hình tượng văn hóa dân gian như "tứ linh" (long, ly, quy, phượng), "tứ quý" (tùng, cúc, trúc, mai) hay hình song hạc, mây trời, hoa sen, chữ thọ...

Vượng Khí Bia Bà làng La Khê


Theo tác giả Nguyễn Minh Đang (Tạp chí Hán Nôm) Bia Bà là tấm bia ghi về sự tích Bà đệ nhị cung phi triều Mạc Thái Tông (1530- 1540).

Bà sinh ngày mồng 2- 3- 1511 tại làng La Ninh huyện Từ Liêm trấn Sơn Tây, nay là thôn La Khê xã Văn Khê thành phố Hà Đông tỉnh Hà Tây.

Năm Minh Đức thứ 1 (1527) đời Mạc Thái Tổ, nhà vua cho đón Bà vào Đông cung chọn làm Phi tử cho Thái tử Mạc Đăng Doanh. Năm 1530. Thái tử lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Đại Chính. Bà được phong làm Đệ nhị cung. Khi vào cung vua, Bà hay lam hay làm, thức khuya dậy sớm lo liệu thu xếp việc nhà rất là ổn thỏa. Năm 1532. Bà sinh được Hoàng tử. Song cũng từ đó, bệnh tật cứ đeo đẳng mãi làm cho Bà hao mòn sức lực. Năm 1538 vua cho Bà về dưỡng bệnh tại quê nhà La Ninh và cử các quan Ngự y về chạy chữa thuốc men rất tận tình. Bà không qua khỏi, đến ngày 16- 11 năm ấy Bà qua đời ở tuổi 28. Triều đình cử nhiều viên quan giữ trọng trách trong triều mang lễ vật về điếu viếng rất trọng thể và đưa Bà đến nơi an nghỉ tại cánh đồng Đa Bang trong làng. Năm 1539 hai vị quan Đại phu trong triều là Tả Thị lang Bộ Lễ Nguyễn Tiến Thanh và Hiệu lý viện Hàn lâm Bùi Hoằng cùng trao đổi soạn thảo văn bia ghi lại.

Bia Bà sừng sững ở cánh đồng Đa Bang làng La Khê suốt ba thế kỷ rưỡi. Đến ngày 25 tháng 2 năm 1913, đất lún, bia đổ. Bấy giờ có một người làng La Khê (không rõ họ tên) ý thức được giá trị của Bia Bà, tự nghĩ rằng, đây là tấm bia của tiền nhân, nay bỗng bị đổ, chỉ sợ nước chảy đá mòn, người đời sau không đọc được bia nữa nên đã bỏ ra cả ngày trời cầm bút sao chép lại, để trong cuốn sổ Thánh tích của làng. Ít lâu sau Bia Bà lại được dựng như cũ. Thời gian thâm thoát đến những năm tám mươi của thế kỷ XX, bia lại đổ sụp. Sau đó bia được đưa về để ở sân đình làng La Khê.

Nhận thấy đây là tấm bia có giá trị, không chỉ giúp chúng ta hiểu thêm về sự tích Bia Bà mà còn cung cấp cho chúng ta nhiều tư liệu quý giá về chế độ quan chức, nghi thức tế lễ, tập tục thờ cúng của vương triều Mạc (1527-1593) nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Minh Đang phiên âm và Dịch nghĩa:

Làng La Ninh huyện Từ Liêm là quê hương của Bà phi. Ông nội của bà húy là Thiện, được phong là Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Thái bảo; bà nội họ Nguyễn huý là Trù, được phong là Liệt phu nhân. Thân phụ của bà họ Trần, húy là Chân, do có công lao được phong là Thiết Sơn bá, rồi Dũng Quận công; thân mẫu họ Trần, húy là Tú, được phong là Huy nhân.

Bà phi sinh vào giờ Mão mồng 2 ngày Quý Mùi tháng 3 năm Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (1511) đời Lê. Xuất thân trong gia đình thế phiệt, cung kính giữ đạo khôn nhu thuận mà điềm báo tốt lành sớm đã định sẵn. Ngày tháng thuộc về Hoàng thượng, ứng kỳ thẹn lẽ sinh ra. Chăm sóc bên trong, tuân theo lễ phép. Năm Đinh Hợi niên hiệu Minh Đức thứ nhất (1527) Thái thượng hoàng vâng mệnh nắm quyền mở mang cho đời sau, Hoàng thượng bấy giờ đội bao ân đức, bà phi vâng mệnh vào hầu Đông cung. Năm Canh Dần niên hiệu Đại Chính thứ 1 (1530) Hoàng thượng vâng mệnh hoàng đế nhường ngôi, nắm quyền đạo thống, bà phi vâng mệnh vào ở Đệ nhị cung, xe ngựa vẻ vang, sớm khuya nhắc nhở, đạo cả hoàn thành, có lẽ nhờ sự giúp sức của bà phi vậy. Vào ngày Mậu Thân mồng 1 tháng 5 năm Nhâm Thìn niên hiệu Đại Chính thứ 3 (1532) sinh ra Hoàng tử th 5, ứng vào điềm lành hùng hủy, thời đức nhân thấy gót kỳ lân, thực đã rõ ràng. Đến ngày Giáp Tý 30 tháng 6 năm Mậu Tuất niên hiệu Đại Chính thứ 9 (1538) do mắc bệnh hậu sản cảm mạo rồi thành tật. Đến ngày Tân Dậu 21 tháng 9 bà về dưỡng bệnh tại nhà ở cũ làng La Ninh. Tháng này, hàng ngày Hoàng thượng sai các quan Tư lễ giám Tổng Thái giám Tham tri giám sự Lê Ngọc Uyển, Tư lễ giám Hữu đề điểm Nguyễn Nhượng, Cung môn Thừa chế phụng sự Lê Quý Đô, Giám sát phụng ngự Đỗ Khanh, Bản cung Cung phó Dương Quang Bật, Nữ quan Hồ Tiếu ng vâng mệnh ban cấp cho 400 quan tiền cổ; lại sai các quan Ngự y An Kim Bảng, Đàm Hữu Luân chữa trị. Mặc dù trăm phương chạy chữa, song thuốc thần cũng không có hiệu quả, vậy há chẳng phải mệnh trời ru? Đến giờ Dần ngày Bính Tuất 16 tháng 11 bà mất, hưởng dương 28 năm.

Hoàng thượng nghe được tin buồn bèn nghỉ buổi chầu, ngay hôm ấy liền sai viên Tả đô đốc ở phủ Đô đốc đạo Bắc quân là Khánh Sơn bá Trần Ôn trông coi việc tang lễ. Ngày Kỷ Mùi 25 tháng 8 năm Kỷ Hợi niên hiệu Đại Chính thứ 10 (1539) quan Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Đô sát Tổng thái giám Chưởng giám sự Lễ Giang bá Đỗ Khải Đễ vâng mệnh mang kim sách đến phong cho bà phi là Bảo Huy phi, lấy tên thuỵ là Thận Nghi, tức là làm rạng rỡ tên hiệu của bà. Ngày Quý Hợi mồng 9 tháng 9 làm lễ khải thấn, lại sai Lễ Giang bá Đỗ Khải Đễ đến phủ dụ, đồng thời sai Tư lễ giám Tả đề điểm Ngô Thì Đạt mang 450 quan tiền cổ về điếu viếng bày tỏ điển lễ thương xót. Đến ngày Canh Dần 25 tháng ấy, đưa linh cữu về an táng tại xứ Đa Bang huyện Từ Liêm, tọa Quý sơn hướng Đinh. Nghi lễ tống chung và văn tế đều có đầy đủ cả.

Ôi ! Đức tính điềm tĩnh thận trọng thư thái nhàn nhã của bà phi đã giúp bà cần kiệm thu xếp ổn thỏa mọi việc trong nhà cho dù những người được tán thán trong Kinh Thi, Kinh Dịch cũng không hơn thế được. Đáng lẽ bà phải được hưởng phúc khánh nhiều vô cùng, song không hiểu sao sớm đã quy tiên, thật đáng thương thay. Bà phi có nhiều đức hạnh cao đẹp như vậy, sao chẳng đem khắc vào bia đá để lưu truyền bất hủ ư?


Bài minh rằng:

Vận mở nền hoàng đạo

Trời phò giúp thánh quân.

Hiền phi sẵn tài đức

Được nạp làm cung tần.

Đoan trang và hiền thục

Cung kính lại kiệm cần

Hành động đúng khuôn phép

Nói như đanh đóng cột

Thánh đo được hoàn thành

Việc làm chẳng sai sót

Hiếu thuận thường xiển dương

Hòa khí đầy trời đất.

Hùng bi ứng điềm lạ

Kỳ lân thơ họa thành.

Phúc khánh kéo dài mãi

Cửa nhà được hiển vinh.

Tiếng thơm như Giản Địch

Nét đẹp sánh Nữ Anh

Trăm năm một kiếp người

Ai là không có mệnh

Nhạt nhòa ánh hiên tinh

Mộng về nơi tiên cảnh

Hương huệ buổi sớm thưa

Gió lan hơi buốt lạnh.

Trong đầm ánh sao Chẩn

Ơn vua đâu sánh bì

Núi nhân đã định chế

Xa xăm ấy hạn kỳ.

Bia đá chép sự thực

Muôn thuở còn nhớ ghi.”


Hòa khí đầy trời đất/ Hùng bi ứng điềm lạ


            Từ khi Bia Bà được thờ tại đình La Khê dân làng được tiếp khí lành. Đức hạnh của người phụ nữ làng La Khê tỏa sáng:

             Đoan trang và hiền thục/ Cung kính lại kiệm cần/ Hành động đúng khuôn phép/ Nói như đanh đóng cột/ Thánh đo được hoàn thành/ Việc làm chẳng sai sót/ Hiếu thuận thường xiển dương/ Hòa khí đầy trời đất/ Hùng bi ứng điềm lạ.

         Dân làng ngày đêm hương đăng, hoa, trà, quả, cúng nguyện cầu Bà phù hộ độ trì cho mọi người được vui sống ấm no, an bình. Tiếng lành đồn xa. Khách thập phương về cúng lễ rất đông. Cung kính. Tôn vinh. Cầu nguyện điều lành.

Nhiều người được khai ngộ sống Chân Thiện Mỹ, làm ăn phát đạt, họ trở về làng La Khê cung tiến xây đền bia Bà trong khuôn viên đình La Khê.

          Đình La Khê hay là Đình Bia Bà là ngôi đình được cho là xây dựng vào đầu thế kỷ XVII được tu bổ lớn trong thế kỷ 18. Đình thờ hai vị Thành Hoàng: Hắc Diện Đại Vương và Thiên Tiên Bảo Hoa công chúa (gọi là nhị vị đại vương), đã giúp dân trừ ác và có nước để cày cấy, chăn nuôi, vùng đất này trở nên trù phú.

           Chúng tôi hân hoan cung kính trước khuôn viên đình rộng thoáng, linh thiêng Thành hoàng làng, Bia Bà và linh khí hồn cây cổ thụ (diện tích 8000m2). Hào quang lấp lánh trên từng cánh hoa, cành lá, rễ gốc các cụ cây, bao bọc tôi. Trầm tích trong khu di tích đình Bia Bà có Bia Bà và Bia Thánh Sư, lưu giữ 28 sắc phong của các triều đại Việt Nam.

Bia Bà thờ Bà Trần Thị Hoàng Phi - Hoàng phi đời Vua Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh). Bia Thánh sư thờ 10 vị người Trung Hoa đời Minh sang dạy dân làm nghề lụa, đó là các ông: Lý Công, Trang Công, Trần Công... Đến đời nhà Nguyễn được sắc phong Dực Bảo Tôn Thần. Bia Bà và Bia Thánh Sư là hai di tích lịch sử văn hóa quý.

Nhà nghiên cứu Văn hóa Dân gian làng La Khê, bạn của chúng tôi kể về sự linh thiêng của Bia Bà. Dân làng La Khê tôn thờ người con gái làng La là Đức Thánh Bà. Người con gái cụ quận công Trần Trân sống thời vua Quỷ, vua Lợn mà cha con vẫn giữ được Đạo làm Người.

Lê Uy Mục – “Vua quỷ”


Lê Uy Mục (1488 –1509) là vị vua thứ 8 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Lên ngôi từ năm 17 tuổi, ông được xem là một vị hoàng đế tàn bạo và hoang dâm, đẩy triều Lê vào tình trạng hỗn loạn.

Sử sách ghi Uy Mục là một vị vua ăn chơi vô độ, ham rượu chè, gái đẹp ít ai sánh bằng. Ông nổi tiếng tàn bạo khi giết hại nhiều người vô tội.

Khi mới lên làm vua, Uy Mục đã giết tổ mẫu là bà Thái hoàng Thái hậu, giết quan Lễ bộ Thượng thư là Đàm Văn Lễ và quan Đô ngự sử là Nguyễn Quang Bật vì những người này từng phản đối việc đưa ông lên ngôi.

Vị vua này còn ra lệnh cho giết hết những người Chiêm bị bắt làm gia nô trong các điền trang của các thế gia, công thần. Tàn ác hơn, Uy Mục đêm nào cũng cùng với cung nhân uống rượu, rồi đến khi say thì giết đi.

Sứ thần Trung Quốc chứng kiến sự quái gở của Uy Mục, đã làm thơ gọi ông là Vua quỷ (Quỷ vương).

Sự bất nhân của Uy Mục đã gây nên một làn sóng bất bình trong dân chúng và hàng ngũ quan lại, dẫn đến việc Giản Tu Công Lê Oanh lật đổ và giết chết vị hôn quân này sau bốn năm ở ngôi.


Lê Tương Dực – “Vua lợn”


Sau khi giết Lê Uy Mục. Lê Oanh tự lập mình làm vua, lấy niên hiệu là Hồng Thuận, tức vua Lê Tương Dực (1495- 1516). Trong thời gian đầu trị vì, Tương Dực tỏ ra là một vị vua tốt, nhưng càng về sau ông càng sa đà vào việc chơi bời xa xỉ truỵ lạc, bỏ bê việc nước.

Lê Tương Dực nổi tiếng với việc sai người thợ cả Vũ Như Tô xây điện 100 nóc, xây Cửu Trùng Đài. Quân dân làm trong mấy năm trời không xong. Hao tổn tiền của. Chết hại nhiều người.

Ông còn cho đóng chiến thuyền bắt con gái khỏa thân chèo chơi ở Hồ Tây, giết chết 15 vương công, cho gọi các cung nhân của triều trước vào cung để gian dâm. Vì hoang dâm như thế, cho nên sứ nhà Minh sang trông thấy vua, bảo rằng Tương Dực có tướng lợn, nên dân chúng gọi ông là Vua Lợn (Trư vương).

Lê Tương Dực hoang chơi khiến triều chính hết sức rối loạn, loạn lạc xảy ra khắp nơi trong cả nước. Do can gián vua không được mà còn bị phạt trượng, nguyên Quận công Trịnh Duy Sản đã giả mượn tiếng đi đánh giặc để đem binh vào cửa Bắc Thần giết vua Tương Dực, chấm dứt bảy năm cầm quyền của “Vua lợn”.


Dân thờ Người phụ nữ Tài Đức Đẹp Hiền


Nàng là Trần Thị Hiền, xinh đẹp nết na, giỏi đường kim, mũi chỉ, cơm dẻo, canh ngọt, nhu hòa, đức hạnh. Khi cụ quận mất, nàng được mẹ và anh trai là võ tướng Trần Lực chăm sóc chu đáo. Nàng học Văn chương, học dệt lụa làng La. Nàng càng lớn càng xinh đẹp. Năm mười sáu tuổi, dáng yêu kiều của nàng làm xôn xao triều Mạc. Nàng trở thành đệ nhị cung của vua Mạc Đăng Doanh. Bà hết lòng phò vua giúp nước. Lê Quý Đôn viết Đời Mạc dân no đủ, của rơi không ai nhặt.

Những năm 1538 xảy ra thảm cảnh Lê- Mạc phân tranh. Bà sinh quý tử rồi quy Tiên. Nhớ thương người vợ hiền xinh đẹp, tài đức. Vua Mạc Đăng Doanh khóc Bà:

    Ôi! Người hiền đức, thục hạnh, đoan trang sao sớm xa nơi triều nội!

Bia mộ Bà đặt ở cánh đồng làng La, dân gọi là cánh đồng Hoàng hậu. Mấy trăm năm, dân làng thờ cúng nguyện cầu, linh khí vượng một vùng quê.

Bạn vào internet, tìm Đền Bia Bà thấy rất nhiều chuyện lạ về sự linh thiêng của vua Bà. Nhiều người từ khắp nơi đến Đền Vua Bà cầu nguyện. Một số ít được thức tỉnh lương tâm. Nhưng cũng có nhiều người hám lợi Quyền/ Tiền. Họ đến cầu cúng Đền Bia Bà mong Tham Ác vô biên. Họ đâu biết, Quỷ Thần trên hai vai. Ai hành động Tham Ác, Quỷ ghi nhận xô xuống địa ngục. Ai sống lương Thiện, Thần chỉ đường hào quang từng bước an bình.

Biết vậy nên mỗi khi tôi chắp tay cầu khấn Thượng đế, Tổ Tiên Việt, Phật Mẫu, Thần Trống Đồng, Thần núi, Thần sông, Thần cây, Thần Đất, Thổ Công, Thổ Địa, Hồn thiêng sông núi, Ông bà, cha mẹ... chỉ dám xin cho mình hai chữ Bình An.

Xuân 2015. Cầu nguyện trước Đền Bia Bà Làng La Khê, tôi khấn cầu Bà:

Vận mở nền hoàng đạo

Trời phò giúp thánh quân

Xin nguyện cầu Hào quang Đền Bia Bà khai sáng mở cánh cửa Trời, nâng làng nghề dệt the La Khê phong lưu, phồn thịnh như những ngày xưa thơm mát trong lành, bay tỏa năm châu.

Hà Nội Xuân 2015.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 04.4.2015.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC TRONG VIỆT VĂN MỚI

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn