Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        6.



 Người Sán Dìu đã lâu đời ở Cẩm Phả. Họ lấy cấy trồng, săn bắn chăn thả làm nguồn sống chính. Tổ tiên họ gồm những nông dân nghèo từ Trung Quốc sang, từ núi cao xuống, định cư ở đất này gần ba trăm năm rồi. Cùng người Kinh, người Hoa, Thanh Phán, Thanh Y cần mẫn nuôi mình, gia đình, họ hàng, làng nước. Họ sống hoà bình, thích tự do. Không can thiệp vào việc nhà người, dòng tộc khác nếu không được yêu cầu. Không muốn chiến tranh khi quyền lợi của mình chưa bị xâm phạm. Họ gần người Hoa hơn trong trồng trọt, chăn nuôi và thờ cúng tổ tiên. Họ có quy định riêng trong cộng đồng, dòng tộc. Rừng là của chung. Đất đai cũng của chung. Đã thuộc phạm vi quản lí của mình, không được để đất hoang hoá. Không được đốt rừng, chặt phá rừng. Không được chặt cây, đào củ bừa bãi. Không săn muông thú trong kì sinh sản. Đất đai rộng. Làm được bao nhiêu tự quản lý lấy. Đất ở, đất trồng thường được rào mắt cáo chung quanh. Họ thích trồng dùng - Một loại có họ hàng với tre, gióng dài thẳng. Vườn tược thường trồng mía thành luống, chăm chỉ tưới bón. Rau củ quanh năm, tự tiêu tự sản, tự cung tự cấp. Củ cải trồng, chăm sóc tốt, to và đều, nhàu muối làm ca la thầu ăn từ năm này sang năm khác. Cải sen trồng hàng vạt, phơi, muối cả cây, ăn quanh năm. Họ thích trồng tỏi, hành hoa, chăm chỉ tưới tắm nên đất lúc nào cũng ẩm. Cây lên ngùn ngụt. Họ chăn nuôi ngan ngỗng, gà chó, ong mật. Những đõ ong để dưới mái hiên nhà. Ngan ngỗng gà…ăn cám, ăn ngô, đậu lung tung không chuồng trại. Đôi khi có ổ lót bằng rơm và lá mền tên cho chúng đẻ, ấp. Họ tích cực làm lụng, đầu tro mặt muội, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Đàn ông vào rừng săn bắn, đẵn cây, chặt tre đốn gỗ. Trong mỗi khu vườn thường có chòi canh cao, phòng trộm cắp và chim thú phá phách. Trên mảnh vườn ngô, đỗ, kê… đặt những con bù nhìn, phơ phất khi gió động xua chim chóc. Họ có cách đặt tên họ riêng theo chữ truyền đời. Khi gặp nhau, nghe họ tên, hiểu thứ bậc của nhau không cần giải thích.

    Đầu thế kỷ 20, Cẩm Phả vẫn là một xã rộng, thưa dân và nghèo. Cuộc sống thanh bình, bằng lặng. Người Sán Dìu chiếm số đông rồi đến người Hoa, Kinh, Thanh Y, Thanh Phán. Than được khai thác đã lâu nhưng làm thủ công, không ảnh hưởng rộng. Cầy cáo ra đường ngay cả ban ngày. Thấy động, chúng né vào bờ bụi, nhìn rồi lại nhâng nháo tràn ra khi hết sự đe doạ. Hổ báo nhảy vào làng, bắt lợn, dong trâu vượt rào mà đi. Khi quá đói hoặc cùng đường, chúng vồ cả người. Có dòng họ tới mười bốn người bị hổ vồ, báo bắt. Dân Cẩm Phả đêm đêm thường nghe tiếng cọp gầm. Vượn từng đàn, nô nghịch đùa rỡn trên cây, trên dây leo bên bìa rừng, quanh núi đá. Chúng dẩu nhọn môi, hú từng hồi dài, vang vọng đến vài trăm mét. Gặp chúng chuyển đàn băng qua đường, người chỉ đứng xa nhìn không dám lại gần. Cáo lần bắt gà là chuyện thường xuyên. Ban đêm, gà kêu quang quác, chủ nhà dậy, khua thúng đụng nia, đập thùng gõ chậu mãi mới dám ra xua chúng. Dấu vết cầy cáo để lại rành rành.

    Bưởi ở với người Sán Dìu được hơn ba tháng. Anh là nghĩa quân cụ Đề. Tham gia khởi nghĩa gần mười năm. Từ ngày Bưởi còn trẻ măng, xung quân, luyện tập ở Kép. Dần dần, anh được vào làm phận sự trong dinh. Truyền tin từ mọi nơi về Bố Hạ, đưa những mệnh lệnh của cụ Đề, Cả Huỳnh, Cả Dinh ra các đồn, các đội. Những đội quân của hùm thiêng Yên Thế với lòng căm thù giặc cướp nước cũng chỉ chống đỡ được với súng đạn, phương tiện quân sự của giặc hơn ba mươi năm trời. Trong tàn quân của cụ Đề có Bưởi. Anh bị thương, thủng một mảng bụng. Lê lết từ Sơn Động tìm về Mai Sưu. Không rõ chui lủi thế nào, gặp gì ăn nấy, củ rừng, đọt núi, lá rừng về được Huy. Mấy người đi săn lợn rừng bắt gặp. Bưởi đã gần hết hơi sức. Ba người bỏ dở cuộc săn, đan nứa làm cáng khiêng Bưởi về. Họ rửa ráy, đắp thuốc cho anh. Cũng chả cần biết Bưởi là ai, ở đâu ra, tại sao lại thế một cách cặn kẽ. Họ cho ăn uống tử tế vì biết anh đang cần sự giúp đỡ rồi báo cho trưởng tộc. Trưởng tộc đến hỏi han. Bưởi kể mình đi buôn, chạy giặc, bị thương, mê man lê lết về đây. Trưởng tộc nói với mọi người gắng chăm sóc anh đến khi có sức rồi tùy. Muốn ở lại, họ không đuổi. Muốn đi xa, về vùng nào khác, họ không giữ. Trước ngày đi chỉ cần báo qua chủ nhà một tiếng là xong.

    Bưởi đã cùng họ săn bắn, chặt gỗ, chặt ràng ràng. Tước vỏ đánh gianh, dùng guột (ruột) đan giành, rổ, xảo, xi. Dạy chó đàn thành chó săn, tự săn thú, đuổi thú về cho chủ. Ở với họ như thế là quá tốt. Anh chỉ áy náy khi đang làm việc, đang ăn uống cùng nhau, họ buông ra hàng tràng tiếng dân tộc, ròn như pháo nổ. Không phải họ không nhớ có anh. Vài người khi nói còn quay nhìn như anh vừa mắc lỗi gì đó. Chuyện ấy xảy ra thường xuyên khiến Bưởi phật ý, thậm chí ấm ức trong lòng. Anh quyết định ra đi sau khi thông báo với chủ nhà.

    Sáng hôm sau, dậy sớm, ăn uống no đủ. Chủ nhà chuẩn bị cho anh một gói xôi, nửa con gà luộc, chút ít muối, đặt trong lù cở. Anh cảm ơn họ, tìm đường vào mỏ. Hy vọng ở đó, Bưởi gặp người làng, hỏi tin quê hương và gia đình mình.

    Chiều hôm đó, Bưởi tới Cẩm Phả. Tách con đường chính, anh rẽ vào chân núi. Đi gần cây số, tới Cốt Mìn. Phía trong, mấy căn nhà lá ven núi nối với Cẩm Phả bằng con đường như sợi chỉ mảnh giữa những bãi lầy. Ba phía còn lại ngập tràn nước biển. Anh hỏi nơi cần việc, hỏi người quê Phú Ôc, Mỹ Lộc, Nam Định. Người ta nói xin việc thì vào trong phố. Đây toàn dân Nam cả nhưng Mỹ Lộc thì chờ lát nữa, ông Bảng chuyển vôi về. Bỉnh lại dật dờ ra.

    Chiếc xe bánh gỗ bọc sắt kêu lóc cóc. Con bò khoẻ mạnh kéo xe không. Ông già ngồi vắt vẻo trên gốc càng xe. Bưởi đánh bạo:

    - Bác Bảng đấy ạ?

    Ông già dừng xe, ngoái đầu lại. Bưởi chạy đến:

    - Bác quê Mỹ Lộc phải không?

    Ông Bảng hỏi han, đưa Bưởi lên xe, thong thả về nhà. Bác múc nước rửa ráy, dọn chỗ để xe, cho bò ăn. Xong việc, trời đã tối. Thay chiếc áo đang mặc, ông dẫn anh vào phố.

    - Anh đi theo tôi. Họ là người làng anh. Tôi chỉ cùng huyện thôi.

    Dãy phố tối, đen nhờ nhờ. Văng vẳng tiếng thét tiếng quát. Những ánh đèn dầu vàng vọt hắt ra. Hai bác cháu loành quành mấy đoạn. Bước thêm một dạo nữa, ông Bảng đưa anh vào nhà ông Đục. Sau một chút bất ngờ, mấy đứa ồ lên:

    - Anh Bưởi! Anh ở đâu giờ mới tới?


    Năm Bưởi mười lăm tuổi, làng lụt, đê vỡ. Nước ngâm đồng đất hàng tháng. Chẳng nhớ vỡ đê Hoàng Long hay đê sông Hồng. Bố mẹ đưa mười anh em Bưởi đi lánh nạn, ở nhờ nhà bác họ bên Lý Nhân. Khi nước rút, bố mẹ cùng mọi người tất tưởi trở lại nhà, Dứa Bưởi gọi đứa em kế - cô Đào ra dặn: - Ai hỏi, em cứ nói hai anh theo bác Tỳ đi lập nghiệp...Khi nào lớn, các anh tìm về.

    Nói xong, Dứa, Bưởi vội lẫn vào dòng người. Chả có bác Tỳ, bác Tý nào. Nói thế cho bố mẹ yên tâm thôi. Nhà mười anh em: Cam, Quýt, Mít, Dứa, Bưởi, Đào, Ôỉ , Mơ, Bầu, Bí chen chúc trong gian nhà hai gian hai chái. Nhà có ba sào ruộng, làm năm một vụ còn lại đi cấy cày thuê, đóng gạch xúc cát từ bãi sông Hồng, sông Hoàng Long. Anh em Dứa đi, trước mắt nhà bớt được hai miệng ăn. Loanh quanh nghĩ gần nghĩ xa, hai đứa dần bước vào con đường vắng. Lúa hai bên đường xanh như tiếng hát đầu xuân. Mỗi lúc dừng nghỉ, chúng hỏi dò xem đâu đang thuê người làm. Có người hỏi lại, Bưởi đã dám bịa chuyện. Bố đi làm thuê ở mạn trên, đi thuyền, đóng mảng cốn bè hoặc đóng gạch, chuyên chở cát. Nhà gặp lụt, đổ hết. Hai anh em đi tìm bố cả tháng trời nay. Người nói đóng thuyền ra bãi sông Hồng tìm, còn làm gạch, chuyên chở cát vôi thì chịu, không biết... Người khuyên cứ dọc sông Cái mà tìm. Nhiều người thương, cho bữa ăn nguội ngoặm, chỉ dẫn cẩn thận. Có kẻ vô tâm, lắc đầu quầy quậy. Có người cảnh giác xua lánh cho xa. Đến chợ Lội, Bình Lục, Hà Nam đúng ngày phiên chợ. Người đông như nêm cối. “Bỏ con bỏ cháu không bỏ chợ Lội hai mươi sáu tháng chạp”. Đây không phải phiên tháng chạp nhưng hàng hoá mọi nơi vẫn đổ về đủ mọi màu sắc. Đám cãi nhau ầm ào góc chợ. Anh em Bưởi chen vào. Một ông mặt tái xám đứng lặng, thỉnh thoảng buông ra một câu. Cô gái bán hàng sừng sộ, chỉ tay vào mặt ông tới tấp rủa xả. Cô bán rượu. Rượu ở đây một trinh một ực. Đưa chai lên, uống một ực trả một trinh. Chai nửa lít cũng khoảng tám, chín ực. Ông khách này mua rượu, ngửa cổ, rót. Chả biết rượu đi đâu. Chai đầu dốc hết vào miệng, ông giơ tay. Cô gái đưa chai thứ hai. Những kẻ tò mò, người hiếu kỳ đã vây quanh. Ông cứ từ từ rót. Gần hết chai thứ hai mới thấy yết hầu ông chạy lên chạy xuống. Miệng ông phát ra tiếng ực. Ông trả một trinh. Cô gái không chịu. Ông chẳng trả hơn. Cô xỉa xói. Ông lặng lẽ. Chắc chuyện sẽ ghê gớm lắm giữa cô bán hàng đanh đá với người đàn ông dù thế nào cũng vừa nhét bụng gần lít rượu. Người tốt ở đâu cũng có. Họ ngăn cô: - Thôi! Cho qua đi. Người ta cũng chỉ một ực. Còn buôn bán đi lại về sau. Một điều nhịn là chín điều lành. Người thì ghé sát vào ông uống rượu: - Kệ mẹ nó bác ạ! Trả tiền rồi. Dại thì thiệt. Bác cứ đi thôi. Vừa nói, họ vừa chèo kéo, đưa ông ra. Hay gì chuyện đánh nhau. Chợ lại nườm nượp. Không ai thấy bóng ông nữa. Cô bán rượu đã ngồi xuống, đon đả mời khách. Anh em Bưởi kéo hàng, giúp người trong chợ. Những đống chuối xanh, chuối ương xếp cao như đụn rơm, đụn rạ ở làng. Những giành lớn, giành con, thúng mủng khoai bắp, ngô đậu. Họ cho ăn, trả công cho chúng. Đến quá chiều, phiên chợ hết. Cả khu đất rộng buồn như nhà có dịch. Nằm trên những gian lều rơm xiêu vẹo, chúng nhẩm tính sẽ làm gì tiếp những ngày sau. Chẳng bao lâu, giấc ngủ kéo đến. Hai đứa co quắp tới sáng. Hai anh em xúc cát thuê theo dọc sông Cái ngược lên Bát Tràng. Hết viêc. Rẽ ra làm thuê, hái quả, chuyển gạch cát vôi. Tối tối, ngủ đường ngủ chợ ngủ nhờ. Đến Đình Cao trung tâm huyện Phủ Cừ( Hưng Yên), anh em vào chợ. Chợ ở đây là chợ huyện, buôn bán hàng ngày. Chúng vận chuyển hàng, kéo đẩy xe giúp khi họ chở nặng. Tưởng chỉ ghé lại vài ngày, ai ngờ hai đứa ở Đình Cao gần một năm. Ăn uống làm thuê, ngủ ngay góc chợ. Bưởi biết vùng này có hai thứ đặc sản. Dưa hấu bổ ra, đỏ rực. Hai dãy hạt đen như hạt na. Cầm miếng dưa lên, tay không ướt. Cắn miếng dưa ngọt như đường phèn và mát đến lạnh mồm. Nghe nói xưa, dưa Phủ Cừ đã từng dâng tiến vua. Thứ nữa là cà chua. Giống nó theo chân Pháp sang. Gặp điều kiện tốt như chim đậu rừng xanh, người đến đất lành, cây mượt quả sai khó nhìn thấy gốc. Chọn những quả vừa phải, bằng vốc tay. Hấp cà chua cho chín rồi bổ ra, vảy vảy cho hết hạt. Thực tế, nhiều quả không hạt. Đưa vào ca hay bát to đánh nhuyễn. Cho thêm đường kính vừa đủ ngọt, đánh tan đường. Uống thứ nước sền sệt ấy, người đang làm mệt tỉnh táo hẳn ra. Người đi đường nắng, lử lả đói khát, vớ phải như gặp thuốc tiên. Uống bát nước ấy, nóng bức mệt mỏi bay đi hết. Của ngon kén người ngoan. Ăn sung mặc sướng, thả cửa chơi bời, uống nước ấy, cái ngon bổ giảm hết.

    Ở Đình Cao, anh em Bưởi sống vất vả nhưng không phải lo việc, không phải lo ăn. Hai đứa định kiếm thêm chút ít, tìm đường về quê. Có tiền, chúng đã có quần áo diện tết, có người con gái lạ gọi là anh xưng em. Nghe lần đầu, ngường ngượng rạo rực đến mấy ngày. Nhưng người tính đâu bằng trời tính. Lính kéo về Đình Cao đông chật. Thổi còi, bắn súng, tập chạy rầm rập. Chúng đá đít, lôi kéo, giằng giật hàng ở chợ… vào xóm thôn ne lợn bắt gà. Anh em Bưởi sợ mất mật, tóc tai dựng đứng. Sợ quá, lại kéo nhau đi. Vật vã hàng tháng trời, dạt vào Đại Bái ở Đại Thành (Gia Lương- Bắc Ninh). Làng có nghề đúc đồng từ thời vua đéo nghé, nổi tiếng lâu đời, trên một ngàn năm. Do vậy, nghề gò đúc đồng ở Đại Bái có quy tắc, nguyên tắc bất thành văn hay đã thành văn nhưng mất mát. Không được gian dối, cẩu thả khi làm nghề. Đại Bái có bốn xóm: Đông, Tây, Giữa, Xuôi. Mỗi xóm đúc gò một hai loại dụng cụ: mâm, xanh, nồi, chậu, ấm chén, chiêng… Đồng Đại Bái giữ màu, bền. Qua lửa than không bị gỉ, chỉ đen lại. Ấm chén có màu đồng hun nâu đỏ dùng mấy đời không hỏng. Nhiều người giữ ấm chậu, mâm đồng Đại Bái làm của hồi môn. Mẹ truyền cho con. Con truyền cho cháu.

    Anh em Bưởi xúc than bùn thuê. Bùn ao ở đây nhiều ô xít đồng, nước xanh thẫm. Chúng vớt bùn mang trộn trấu, đắp lò bễ. Ngày hè vào Đại Thành, khí nóng bốc lên ngột ngạt. Tiếng búa nện, tiếng đồng va, đồng kéo, đồng đập đinh tai nhức óc. Thợ giữ nghề. Năm tháng ở đây, vật vã với bùn đất, lửa lò, đồng đỏ đồng thau, anh em Bưởi chỉ biết sơ sơ ước lượng độ nóng độ lửa trên lò. Những người thợ đồng ở đây tuyệt giỏi. Nhìn lửa, họ biết phải đưa loại đồng nào vào lò để đúc ra được vật dụng chịu mài, chịu nén, chịu xoắn ra sao. Một nghề thì sống đống nghề thì chết. Thợ giỏi đúc đồng được làng xóm vị nể. Một mình làm đầm ấm, sung túc cả nhà. Rót đồng chảy vào khuôn, ngâm nước bao lâu, đánh ráp thế nào đều được cha truyền con nối. Gò đồng cũng cẩn thận cầu kỳ. Gò ấm chén, mâm nồi, xanh chậu đều phải chọn đe thích hợp. Gò xong, đánh tro trấu rồi đúc lại đến độ bóng đỏ. Hai bên đường vào làng, người ta xếp dụng cụ bằng đồng để báo cho khách biết. Trước cửa nhà, họ treo xếp mâm thau, chiêng choé rước khách vào ra.

    Anh em Bưởi chẳng muốn ở lâu. Không nhà cửa, ăn ngủ vạ vật quanh lò. Lò thả ra khói than, khói xỉ đồng nồng nặc, ngột ngạt. Người khô khao, nước mũi rề rề. Tiếng động ầm ĩ như trăm ngàn mũi đinh ném vào tai. Anh em thợ thì lườm nguýt, giấu nghề như mãn giấu phân. Chúng rời Đại Bái khi tết ra. Các lò đồng chưa khơi lửa. Anh em cuốc bộ, dật dờ vào làng Lim. Mới mười ba tháng giêng, làng quan họ vào hội. Chẳng biết hát hò gì, chúng ăn theo rồi đi. Trong vốn hiểu biết ít ỏi của Bưởi, trên đất Bắc Ninh có bốn mươi chín làng quan họ gốc. Địa bàn Tiên Sơn có mười bảy làng. Yên Phong mười bảy. Thị xã Bắc Ninh mười và Việt Yên năm làng. Người ta chèo thuyền hát. Người ta ngồi đình, ngồi nhà hoặc đi từng làng hát. Nghe đâu có đến một trăm bảy mươi chín làn điệu (gọi là giọng) và năm trăm lời bài hát quan họ. Trống cơm cũng như trống làng quê Bưởi. Cơm dẻo trộn nhuyễn đắp vào hai mặt trống. Muốn trầm thì đắp dày, muốn bổng thì đắp mỏng. Dùng hai tay vỗ vào mặt trống, vừa nhảy vừa hát. Chúng ra đi chả mang theo ấn tượng gì. Tiếng hát tiễn đưa chúng. Hơn ngày sau, chúng tới Quế Võ, xô dạt vào làng gốm Phù Lãng. Gốm xuất hiện ở đây từ thế kỷ mười ba. Men gốm da lươn cổ truyền không bóng, không đồng đều do lửa nung bằng củi, độ nóng không thống nhất. Nghề gốm phát triển nhưng vật liệu như đất mịn, củi… phải đi mua, chuyên chở từ xa về. Làng làm chum, niêu, vại, tiểu, ang, ấm, thạp, nải…Những đồ dùng dân dã làm hàng loạt không cầu kỳ nhưng tiện lợi. Nhiều nơi xa mua với số lượng lớn, chuyển theo sông Cầu vì hàng thông dụng và rẻ, đường chuyên chở thuận tiện. Làng gốm được hình thành do ông Cầu sang Trung Quốc học được mang về truyền cho dân làng. Ông được thờ làm tổ nghề. Dân làng từ lâu gọi cầu là kiều để tránh huý ông. Ở đây, anh em Bưởi đi vận chuyển đất, theo thuyền tới nhiều nơi. Đáng kể nhất, chúng đã vào làng Kim Đôi, Kim Chân cùng huyện. Nghèo khó vì ít chữ, mò mẫm kiếm ăn, vất vả đầy mình, chúng thán phục ngay khi tới cổng làng. Tiếng đọc, tiếng học bài chúng không hiểu nhưng nghe rất rõ. Nhiều đứa bé con, nhiều anh lớn hơn Bưởi đều quần trắng, áo dài đen, đeo guốc đi học. Ông chủ nhà khoe làng này có số người đỗ đạt vào loại nhất nước. Họ Nguyễn, họ Phạm là hai họ lớn ở làng. Chỉ tính mười một đời, họ Nguyễn đã có mười tám tiến sĩ. Trong hơn một trăm năm, đã có bảy tiến sĩ người họ Phạm. Do truyền thống chăm học, hiếu học, số người đỗ khoa bảng làng Kim Đôi chỉ thua làng Mộ Trạch (Hải Dương). Bưởi vào làng, nghiêng người ngưỡng mộ ngay cả với người dưới mình vì cách họ ứng xử khiến người tiếp xúc phải kính nể. Trong lịch sử Việt Nam, chỉ có hai mươi làng được gọi làng khoa bảng. Tiêu chuẩn làng khoa bảng phải có từ mười tiến sĩ trở lên trong tất cả các kỳ thi. Hà Nội có năm làng. Bắc Ninh cũng có bốn. Một kẻ mù chữ đứng trước làng khoa bảng có nhiều tiến sĩ đứng thứ hai của đất nước, ai không ước ao và ngưỡng mộ. Ngưỡng mộ là một chuyện. Việc cần thiết hàng ngày vẫn là cơm ăn, nước uống. Nai lưng ra với đất, quần quật khuân vác, vai ê tay chai được hơn năm, anh em Bưởi lại phải rời làng vì những lí do cả chủ thuê cũng ngại nói. Công việc thổ mộc vất vả, hàng hoá ế ẩm. Tiền công thấp. Chủ lò và người làm thuê ngao ngán nhìn nhau. Tích cực mấy cũng cầm chừng, bê trẽ. Hai anh em Bưởi rời lên làng gốm Thổ Hà (Bắc Giang). Gốm ở đây có truyền thống từ thời Hậu Lê đã ba trăm năm. Đặc biệt đất Thổ Hà nung ra men. Đây chính là bí quyết của làng. Hàng gốm sứ Thổ Hà đã đi khắp mọi miền đất nước. Mẫu mã phong phú, màu men đẹp. Khách sang nhiều nơi ưa thích. Gốm sứ nơi đây không kém gì Bát Tràng (Hà Nội) hay Chu Đậu (Hải Dương). Lại vác đất, chuyên chở hàng. Ráo mồ hôi là hết tiền. Được đồng công đâu phải dễ.

    Khởi nghĩa Yên Thế đã kéo dài hơn chục năm. Giặc nhiều lần bị đánh đến phách lạc hồn bay. Cai Kinh và Cụ Đề luôn đưa người về các nơi tuyển quân, tìm tráng đinh, kiếm người tài, tăng cường lực lượng. Anh em Bưởi đã vào tuổi hai mươi theo luôn. Mỗi người được biên chế vào một đội. Trong trận đánh Kép, Dứa dính đạn ngay khi nghĩa quân vừa mới xung phong. Anh đã được dân Lạng Giang chôn cất tử tế ngay phía trên ngả rẽ về Bố Hạ. Bưởi ở trong quân ngũ hơn chục năm. Khi đánh giặc khắp vùng Kép, Mẹt, Sài Hồ về đến cả Đồng Ngô, Bảo Sơn…lúc cấy cày trong đồn điền Phồn Xương. Rồi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp khốc liệt. Nghĩa quân tổn thất nặng nề. Bưởi cũng rút theo tàn quân, tản mát trong dân chúng. Anh vượt sông Thương phía Bắc Lệ vào mùa thu. Dòng hẹp nhưng nước sâu, xanh không nhìn thấy đáy. Đi vào Sơn Động, nghe tin quân cụ Đề tập trung ở Mai Sưu. Không rõ thực hư, trốn chui trốn lủi, anh bị dính đạn ngay trong ngày đầu xa Sơn Động. Bó người trong tấm áo cuốn, anh lê lết theo lối mòn. Không biết được bao lâu, những người Sán Dìu không quen biết, đi săn dài ngày, bắt gặp, đã che chở cưu mang anh. Anh đã thành trung niên ngoài ba mươi tuổi. Vợ con chưa có, cửa nhà cũng không.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 27.3.2015.