Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Đi Thăm Các Danh Thắng Ở Hải Dương




THĂM ĐẢO CÒ AN DƯƠNG – THANH MIỆN

Chúng tôi đến Đảo Cò. nằm giữa hồ An Dương thuộc địa bàn xã Chi Lăng huyện Thanh Miện. Xe dừng bên bờ hồ, nơi ngôi chùa An Dương đang xây dựng. giàn giáo lỉnh kỉnh và những đống gạch, đống cát đổ bừa bộn ngoài tường
Nổi trên mặt nước có Nhà hàng Đảo Cò . mái lợp lá gồi, đậu bên bờ chờ khách. Đây là điểm đầu của tỉnh lộ 396. cột cây số sơn mầu xanh phía trên, có hàng chữ Km 0, Phía dưới sơn mầu trắng, dòng chữ Đảo Cò khắc sâu trên thân cột
Một ông địa phương, tiếp chúng tôi, nói rằng :
- Thưa với các quý khách, diện tích mặt nước của khu vực Đảo Cò chừng 11 ha, diện tích của đảo tương đương 2 ha Trên đảo cò này, chủ yếu có 2 loài cò và vạc sinh sống. Cò có chừng 11 loại, còn vạc có 4 loại Trong hồ đầm này có loài cá nước ngọt, giống cá ăn chìm như cá trắm, nặng tới 40-45 kg
Theo sử sách và lời truyền của các cụ vào khoảng thế kỷ XV có trận đại hồng thuỷ làm cho dải đê ven sông Hồng ba lần liên tiếp vỡ. Trong lần vỡ đê thứ hai đã tạo thành hòn đảo nổi giữa lòng hồ. Khu vực này trở thành nơi “đầm lầy”, thu hút nhiều loài chim về. Đến lần vỡ đê thứ ba thì hình thành hai hòn đảo ở giữa lòng hồ. Đất lành chim đậu, chim về ngày càng nhiều. và cũng có 7 hộ dân ra đảo cư trú. Nay xã chúng tôi đã di dời các hộ dân ra khỏi đảo cò, để bảo vệ các loài chim về đây. Hiện nay ở trên đảo có nhiều loài cò như cò trắng, cò ruồi, cò nghênh, cò ngang, cò bợ, cò diệc, cò lửa và cò hương. Có con cò to nhất, chúng tôi gọi là cò nhạn. Con này mỏ to, viền cánh đen, đuôi đen mình xám, chân dài, rất hay ăn ốc bươu vàng, khi nó mò được con ốc bươu vàng thì ngậm chặt tha con ốc bươu lên bờ. Chú cò nhạn dậm chân lật ngửa con ốc lên, dùng mỏ phá miệng ốc rồi moi thân và ruột để ăn. Có một con cò nhỏ nhất sống trên đảo này chúng tôi gọi là cò hương . Thưa với cô bác rằng con này có mỏ và chân nhỏ như chân hương thắp trên bàn thờ, mình nó bấy bớt , nhỏ như con chim chào mào nhưng nó lại dễ thương. Ngày xưa, các cụ nhà mình thấy con cháu gầy gò ốm yếu thường nói “trông mày như con cò hương” là như thế.
Cô bác định tìm hiểu đời sống, sinh hoạt và tập tục cuấ các loài cò vạc trên đảo, chí ít cũng phải mấy ngày, như vậy mới biết được chúng nó sống ra sao, ăn ngủ ra sao, đi kiếm mồi vào giờ nào. Tại sao mà những con cò ưa đậu cành tre đến thế, khăng khít với nhau đến thế mà không chịu đậu sang cây khác trong đảo, cò với tre thân thiết cứ như vợ chồng nơi thôn quê
Ông già nói chuyện đến đây, chỉ tay ra phía mấy con thuyền đang chờ trên bến. rồi nói tiếp : “ Mời cô bác ra đi thuyền, các em sẽ nói chuyện thêm với cô bác về sinh hoạt loài có. Hôm nay, thay mặt Ban Quản lý Đảo Cò An Dương, kính chúc cô bác mạnh khoẻ, có chuyến tham quan thắng lợi”.
Những con thuyền nâu nhẹ nhàng lướt trên mặt nước trong xanh, Đã gần đến đảo, trông rõ nhiều loài cò đang chui rúc dưới gốc hay đậu trên cành tre cao Anh chở thuyền cho chúng tôi nói :
-Vào mùa heo may, đó là lúc cò về nhiều, cả một hòn đảo đều trắng muốt mầu trắng của cánh cò , hôm nay đang tiết xử thử, nên cô bác thấy trên đẩo chưa nhiều loài chim, cò về sinh sống.
Đúng là tôi đến Đảo Cò lúc này là chưa đến tiết lập đông. Thế mà trên các lùm tre, dưới các bụi ven hồ nước, đã có nhiều loài cò trú đậu Nghe bác quản trị nói chuyện không bằng bây giờ ngồi trên thuyền thực sự đi quanh đảo, tha hồ nhìn ngắm và chụp ảnh . Những cánh cò bay trên hồ, bay trên đảo, chao nghiêng đôi cánh lượn tìm chỗ đậu. Chúng dạn dĩ với con người, không hể hoảng sợ khi các thuyền bơi sát đảo đẻ khách chụp ảnh. Tiếng cò kêu vang xa, trầm bổng, tạo thành một bản hoà tấu . Người chở thuyền nài nỉ : Các bác muốn quan sát đời sống con cò, hãy ở lại một đêm bên đẩo cò. Chừng 20-21 giờ là lúc cò về nhiều nhất, sự đoàn tụ gia đình của chúng thân thiết cho đến sớm hôm sau, lại bay đi kiếm ăn, con cò it đi ăn đêm như con vạc vì tập tính của chúng khác nhau
        Tôi lặng ngắm những chú cò trên đảo, nghe như tiếng mẹ hát ru câu ca dao về thân phận những con cò khi đói, phải mò mẫm kiếm ăn trong đêm
                                                                  Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao
Ông ơi ! Ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy sáo măng
Có sáo thì sáo nước trong
Đừng sáo nước đục, đau lòng cò con
      Con cò xưa, gần cái chết vẫn còn giữ tiết hạnh, để cánh cò vẫn sải trắng đồng quê. Ngày nay, cò đã có nơi trú ngụ. Đất lành quê ta vẫn là nơi chờ cò về. Mọi người đang tìm mọi cách giữ môi trường trong sạch đón cò mỗi khi mùa đông đến. Cò hãy về đây để sống bên nhau, sinh sôi nòi giống. Cò ơi !!


THĂM DI TÍCH VĂN MIẾU MAO ĐIỀN


     Theo chương trình đi khảo sát thực tế của Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội, chúng tôi đã về thăm Văn Miếu Mao Điền của tỉnh Hải Dương
     Văn miếu Mao Điền là một trong số ít các Văn Miếu hàng tỉnh còn tồn tại ở Việt Nam . Từ giữa thế kỷ XV với chủ trương mở mang việc học hành, và đào tạo nho sĩ, triều đình nhà Lê đã cho phép xây dựng một loạt những trường học trong đó có trường quốc lập Mao Điền ở Hải Dương.
     Trường học Mao Điền thuộc tổng Mao Điền, phủ Bình Giang trấn Hải Dương , (nay thuộc thôn Mao Điền xã Cẩm Điền huyện Cẩm giàng tỉnh Hải Dương) là một trong số các trường học trong nước được phép tổ chức thi Hương.
     Sách Đại Việt Sử ký toàn thư đã chép : về đời Lê Thánh Tông có đoạn
    … “Nhâm tý năm thứ 23, mùa đông tháng 10 thi Hương các học trò trong nước Sai quan Hàn lâm viện làm khảo quan tại 4 ty Thừa tuyên : Hải Dương, Sơn Nam,Tam giang, Kinh Bắc mỗi ty 4 viên. Quan Hàn lâm làm khảo quan thi Hương bắt đầu từ đây”. (trích sách ĐVSKTT tập III trang 310)
    Đến thời Mạc, nhà vua đã 4 lần tổ chức thi đại khoa cũng tại trường thi Mao Điền. Trong một lần thi đại khoa năm 1592 dưới thời Mạc, bà Nguyễn Thị Duệ người huyện Chí Linh lúc đó tròn 20 tuổi đã giả trai đi thi, và đỗ Tiến sĩ. Khi vào yết kiến, vua Mạc Kính Cung phát hiện tiến sĩ là nữ giới, nhưng trọng vì tài chí của bà, nhà vua đã tha tội, và cho làm quan triều Mạc. Khi nhà Mạc bị nhà Lê trung hưng đánh bại, vua Lê mến tài bà, đã triệu bà ra làm quan trong triều. Được sự tin cẩn của nhà vua, bà đã làm Giám Khảo khoa thi , lại có công trong việc mở mang nền giáo dục địa phương. Bằng cách tổ chức học từ xa soạn những bộ đề , bài thi gửi về địa phương để học trò ôn thi, vì thế ở Hải Dương có nhiều người thành tài.
Bà có nhiều đóng góp với nhân dân trong 3 đời vua các triều Mạc Lê. nên được người đời ca ngợi, gọi là “Nhất kính chiếu tam vương” và được xây dựng đền thờ tại Chí Linh. Trong đền, ngoài tấm bia kể về sự tích của bà, còn có tấm bia “Chí Linh bát cảnh ” lưu lại những bài thơ bà viết ca ngợi 8 cảnh đẹp vùng Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
     Sau khi bỏ học chữ Nho, Văn miếu Mao Điền thành nơi thờ Khổng Tử và không tổ chức thi nữa. Ông Ngô Vi Liễn khi viết về huyện Cẩm Giàng, trong mục Xã Mao Điền : có câu hoài cảm :“Có văn miếu hàng tỉnh, phong cảnh rất đẹp vì trước năm 1804 tỉnh lỵ Hải Dương đóng ở xã Mao Điền” (trích sách Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ -xuất bản năm 1928)
      Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954), năm 1948 quân Pháp đã chiếm đóng Mao Điền, phá tất cả các di tích, phá nhà, xây lô cốt, xây tường rào dây kẽm gai xung quanh. Đạn bom và những năm tháng chiến tranh, đã tàn phá di tích nặng nề, đến lúc quân Pháp rút đi, để lại một bốt hương dũng xây bằng gạch. nằm ở phía sau nhà Giải vũ. Năm 1973 một cơn bão lớn đã phá sập nhà Giải Vũ, từ đó, Văn Miếu Mao Điền chỉ còn một bãi đất hoang trên cánh đồng phẳng lặng
Từ một di tích lịch sử có thắng cảnh đẹp, Văn Miếu Mao Điền trở thành nơi hoang phế, đã làm nhức nhối nhiều tấm lòng hoài cổ.
Bà PGS-TS Đỗ thị Hảo kể cho biết : “Cách đây khoảng trên 15 năm, tỉnh Hải Dương có kế hoạch phục hồi Văn Miếu Mao Điền. Ông Đặng Việt Cường, Giám đốc Sở Văn hoá Hải Dương lúc đó đã mời Viên Hán Nôm tham gia khôi phục. với mục tiêu xây dựng lại Văn Miếu là căn cứ trên các thư tịch, bia ký có tại địa phương và trong Viện Hán Nôm. Vì không có các hình ảnh cũ, để làm tỗt việc phục hồi, tỉnh Hải Dương quyết định lấy Văn Miếu Quốc Tử Giám làm mẫu xây dựng các cơ sở vật chất. Lúc đó, mới là sơ bộ nghiên cứu.” Đến năm 2002, tỉnh Hải Dương chính thức khởi công xây dựng lại, sau hai năm nỗ lực thi công, công trình đã khánh thành. Từ đó, Văn Miếu Mao Điền trở thành điểm du lịch đáng tự hào của Hải Dương.
Nhiều thong tin cho biết ngay từ khi mới xây dựng, Văn Miếu Mao Điền tuy mang dáng vẻ Văn miếu Quốc Tử Giám, nhưng bề thế và uy nghi hơn. Trên cánh đồng đồng làng Mậu Tài, một công trình văn hoá mang nhiều nét đẹp dân tộc đã hình thành. Cửa ra vào tuy vẫn giống mấu cửa ngoài của Quốc Tử Giám nhưng to hơn, cao hơn. Mọi người vào trong sân, thấy đủ nhà bia, lầu chuông, lầu trống, nhà Đông vu, nhà Tây vu và nơi thờ.
Phần chính gồm hai toà nhà lớn 7 gian mái cong vút, chạm trổ hình rồng phượng áp sát vào nhau. Đi qua nơi tụ hội bái lễ của các quan trường, chúng tôi vào nhà trong . Tại đây là nơi thờ Khổng Tử và 8 vị danh nho của tỉnh Hải Dương,
Biết rằng văn miếu vốn là nơi thờ kính Khổng Tử và các vị tiên hiền trấn Hải Dương năm xưa, nhưng trong 9 ban thờ của Văn Miếu Mao Điền, ngoài gian giữa thờ Khổng Tử vị “vạn thế sư biểu” của dạo Nho, còn có các tượng đồng và bài vị thờ 8 danh nhân của Hải Dương. Đó là Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thị Duệ, Nguyễn Trãi, Chu Văn An và các vị khác.
Nếu so với “Danh sách 15 vị Đại khoa trấn Hải Dương đỗ Đệ Nhất giáp Đệ Nhất danh” đang treo tại Phòng Khách của Văn Miếu Mao Điền thì sự thờ kính này có nhiều câu hỏi. Phải chăng giữa ngôi vị đỗ cao và sự cống hiến với quốc dân còn có nhiều điều khác nhau.?
Ngoài đoàn Văn nghệ dân gian Hà Nội đến thăm Văn miếu Mao Điền, Chúng tôi còn gập nhiều học sinh của các trường đi xe đạp, xe máy tới di tích chiêm ngưỡng. Khách thì đông, muốn hỏi nhiều nhưng người giới thiệu về Văn miếu Mao Điền lại có một. Ông ta nói vo với khách nên người nghe không cảm nhận hết điều hay . Tôi nói với ông phụ trách : “Tại sao các ông không học tập nhiều di tích khác, in ấn nhiều tờ gấp đầy đủ lịch sử và lễ hội của địa phương để giới thiệu với khách mà cứ nói vo thế này ?” Ông ta đáp “Thưa các vị, chúng tôi đã biên soạn rồi, nhưng chưa được tỉnh duyệt, nên đành phải khất với các vị ”
     Không biết cái thời gian mà ông tỉnh định duyệt là ngày nảo, và khi tờ gấp giới thiệu về Văn Miếu Mao Điền ra mắt khách thập phương là năm nào
Đường xá xa xôi, thời gian vùn vụt trôi qua, ai sẽ chờ ai để biết hơn về Văn Miếu Mao Điền ?
Biết rằng Văn Miếu Mao Điền đã xây dựng lại theo mẫu của Văn Miếu Quốc Tử Giám, nhưng trong quá trình tồn tại, văn miếu Quốc tử giám cũng đã có lần bị tai hoạ.
Trong tập “1000 câu hỏi – đáp về Thăng Long Hà Nội” của nhà xuất bản Chính trị quốc gia, các tác giả đã thừa nhân: “Phong trào Tây Sơn với những sự kiện long trời lở đất cuối thé kỷ XVIII đã lật nhào cơ đồ thống trị của vua Lê chúa Trịnh, đập tan cuộc xâm lăng của 29 vạn quân Thanh , Thăng Long sống qua những giây phút hào hùng nhưng cũng bị tàn phá nặng nề. Văn Miếu Quốc Tử Giám cũng không tránh khỏi bị tàn phá. Nhà che bia bị đốt, bia Tiến sĩ bị đạp đổ.
Vào năm Quang Trung thứ hai (1789) những người nông dân trại Văn Chương đã dâng sớ lên vua Quang Trung xin được sửa chữa. ..Vua Quang Trung khi xem sớ đã nhận lỗi về phía quân Tây Sơn và phê rằng :
Thôi, thôi, thôi việc đã rồi
Trăm nghìn hãy cứ trách bồi vào ta
Nay mai dọn lại nước nhà
Bia nghè lại dựng trên toà muôn gian
Nhưng đến đầu mùa thu năm 1792 , vua Quang Trung bị chết đột ngột, nhiều hoài bão không thực hiện được Việc xây dựng lại Văn miếu Quốc tử giám chuyển sang tay triều Nguyễn, lúc đó, Thăng Long không còn là kinh đô mà chỉ là Bắc thành do ông tổng trấn Nguyễn văn Thành chỉ huy.
Từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến ngày nay, Văn Miếu Quốc tử giám được nhà nước ta chú trọng xây dựng, ngoài các nhà che bia, còn xây thêm nhà Thái học, trở thành một trọng điểm giáo dục, du lịch của quốc gia


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 27.3.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn