Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
toàn cảnh chùa Bái Đính Ninh Bình



Đền Thánh Nguyễn - Chùa Bái Đính







      Trời đất Ninh Bình thuở hồng hoang. Biển tiến. Biển lùi. Để lại cho con cháu Việt một vùng sơn thủy kỳ bí, linh thiêng. Những núi đá, thung lũng, sông, ngòi, những dòng suối rong rêu và hang động cổ xưa, in dấu tích người Việt cổ, nay còn nhiều bí ẩn.
      Đất Trời Ninh Bình địa linh, nhân kiệt, là đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần. Đất Tâm linh & Huyền thoại, đầy ắp dấu chân Đinh Tiên Hoàng và Nguyễn Minh Không với những chuyện kể về chiến công, thành tựu dâng hiến cho dân, nước của Vua và Thánh.
Đại Hữu sinh Vương
Điềm Dương sinh Thánh.
      Vương Đinh Tiên Hoàng, Thánh Nguyễn Minh Không. Hai ông được sinh ra ở hai làng liền nhau, thuộc huyện Gia Viễn- Ninh Bình.
      Tại núi Dương Sơn có chùa Lạc Khoái, xã Gia Lạc ( Gia Viễn, Ninh Bình) còn câu đối:
Điềm Xá chung linh sinh Nguyễn thánh
Hoa Lư dục tú xuất Đinh Hoàng

      Hơn 1000 năm trước, đất Ninh Bình có ba triều đại vua nối tiếp nhau ra đời: nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý. Ba triều đại này đều lấy đạo Phật là Quốc giáo. Bởi thế Ninh Bình có rất nhiều chùa cổ, chùa làng, chùa trong hang núi, huyền vi, linh diệu, cất giữ những giá trị tu nhân, tích đức, mà cha ông ta luyện phép thần thông, đắc đạo. Trong đó có chùa Bái Đính cổ, trên núi Bái Đính trong quần thể Bái Lĩnh Sơn.
      Bái Lĩnh Sơn là vùng núi có diễn xướng, lễ bái, phong hầu bái tướng. Sách cổ và truyền thuyết vùng Ninh Bình kể từ thời Hùng Duệ Vương (vua Hùng thứ mười tám) đã diễn xướng, lễ bái lớn trên đỉnh núi Đính.
      Quần thể chùa Bái Đính kim, cổ
      Năm 2003. Ngôi chùa Bái Đính cổ linh thiêng, tĩnh lặng, giữa những thung lũng, uốn lượn, hồ và núi đá, ở cửa ngõ phía tây vào cố đô Hoa Lư, được mở rộng, khai phá, xây nên một quần thể chùa Bái Đính khác lạ.
      Đường 95 km tử Hà Nội về chùa Bái Đính kim, cổ, bên quốc lộ 38B, thuộc xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn- Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình 15 km thênh thang gió nắng, mưa nguồn. Những cánh đồng, dòng sông, thôn làng bốn mùa xanh cây lúa, những ngọn núi nhấp nhô, trùng phùng, dẫn ta vào khu chùa Bái Đính mới hoành tráng, đồ sộ, hợp tâm lý người thời nay.
      Quần thể chùa Bái Đính là một không gian rộng 539 ha gồm 27 ha khu chùa Bái Đính cổ, 80 ha khu chùa Bái Đính mới, các khu vườn tượng Phật, tháp, và học viện Phật giáo, khu đón tiếp và công viên cảnh quan, khu hồ Đàm Thị, hồ phóng sinh… mùa lễ hội Xuân, thu hút dòng người tấp nập về. Tiền thập phương đổ về chùa Bái Đính mới, như nước, như mây.
      Khu chùa Bái Đính mới, được suy tôn là một quần thể chùa lớn nhất Đông Nam Á. Ngôi chùa chiếm được nhiều kỷ lục nhất Việt Nam: Tượng Phật bằng đồng lớn nhất châu Á. Tượng đồng Di Lặc lớn nhất Đông Nam Á. Tam quan lớn. Chuông đồng lớn nhất Việt Nam…
      Người đến chùa Bái Đính mới đông đúc, không biết có ai dừng chân tĩnh lặng nghe tiếng chuông, mà bừng cơn mộng, nghe âm thanh giác ngộ, Đức Phật thức tỉnh thế gian thấu lẽ vô thường, giảm tham sân, si. Sống an lạc. Chết bình an.

      Ngôi chùa Bái Đính cổ linh thiêng

      Chúng tôi không chiêm bái nhiều, nơi chùa Bái Đính mới. Tâm linh Tổ Tiên và Phật Pháp dẫn chúng tôi tìm về ngôi chùa Bái Đính cổ, lặng lẽ trầm hương, ngự đỉnh núi phía sau chùa Bái Đính mới.
      Chùa Bái Đính cổ (Bái Đính cổ tự) nằm cách điện Tam Thế của khu chùa mới khoảng 800 m về phía đông nam men theo sườn núi Đính. Núi chùa Bái Đính cổ mênh mang, trầm lặng màu Thiền. Cây rừng, hoa, lá, cỏ cây ướp hương. Chúng tôi vừa đi vừa niệm Phật trong gió thơm, lên đỉnh núi. Mỗi một chặng đường, dừng lại cung kính những mái chùa nho nhỏ, ẩn trong rừng cây, hang đá, thờ Phật Mẫu, Tiên, thờ Thánh Nguyễn Minh Không Quốc sư thời Lý, tâm hồn ta thanh thản, an tịnh, rửa bụi trần.
      Tôi dừng lại hang đá cổ bên sườn núi, chiêm bái pho tượng thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma bên vách đá, giống như ngày xưa, Bồ Đề Đạt Ma đã tọa Thiền trong hang đá, hiến dâng cho nhân loại một kho báu Thiền, luyện Tâm Thân, đạt được phép huyền thông. Đi mây. Về gió.
      Chùa Bái Đính, hướng về núi Đính. Nơi vua Đinh Tiên Hoàng lập đàn tế Trời- Đất, cầu mưa thuận, gió hòa. Thế kỷ XVI núi Đính là nơi tranh chấp Lê- Trịnh với nhà Mạc, khi nhà Mạc chỉ kiểm soát được vùng lãnh thổ từ Ninh Bình trở ra. Sau này vua Quang Trung chọn đỉnh núi Đính tụ hồn thiêng sông núi, làm lễ tế cờ, truyền sức mạnh Tâm linh Tổ Tiên Việt, cho quân sĩ tiến vào Thăng Long đại phá quân Thanh.
      Kiến trúc chùa Bái Đính cổ dựa vào thiên nhiên kỳ thú, xây nên một vùng Tâm linh Việt. Từ chân núi lên có Giếng Ngọc, vườn Sinh Dược của Thánh Nguyễn Minh Không Quốc sư, Đền thờ thần Cao Sơn (một tướng của Tản Viên Sơn Thánh), Đền thờ Thánh Nguyễn, Hang Sáng, động Tối thờ Mẫu và Tiên…) hang núi thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma…
      Lên thăm hang động ở núi Bái Đính, leo khoảng ba trăm bậc đá, qua cổng tam quan ở lưng chừng núi. Lên hết dốc, chia ba ngả. Bên phải là hang Sáng thờ Phật, Thần, bên trái là động Tối thờ Mẫu, Tiên.
      Phía trên cửa hang Sáng có bốn chữ Minh Đỉnh Danh Lam (Lưu danh thơm cảnh đẹp) khắc trên đá, do vua Lê Thánh Tông ban tặng.
      Khi lên vãn cảnh chùa trên đỉnh Bái Đính, vua Lê Thánh Tông đã cảm nhận khí thiêng, địa linh nhân kiệt, tạc bài thơ tứ tuỵêt chữ Hán: (Dịch)

                 Đính Sơn danh tiếng thực cao xa
                  Che chở kinh thành tự thuở xưa
                  Nhân kiệt, địa linh nên vượng khí
                  Núi thiêng cảnh đẹp vững sơn hà.

      Khu chùa Bái Đính cổ, trầm tích một vùng rừng cây lá yên tĩnh, tràn linh khí. Vua Lê Thánh Tông đã cảm nhận được vượng khí nơi đây Nhân kiệt, địa linh nên vượng khí. Hang động truyền kỳ nối chuyển, ôm uốn eo núi. Du khách luồn rừng, lên động, xuống hang, như đi vào giấc mơ huyền thoại.
      Theo ngách đá dẫn tới cửa hang Sáng rộng thoáng, hiện ra một thung lũng xanh. Tiếp xuống các bậc đá, đến đền thờ Thần Cao Sơn. Quay trở lại ngã ba đầu dốc núi, theo đường rẽ trái khoảng 50m tới động Tối. Động Tối lớn hơn hang Sáng, gồm bảy buồng, có hang trên cao, có hang dưới sâu. Các hang thông nhau qua nhiều ngách đá. Có hang nền bằng phẳng, có hang nền trũng như lòng chảo, có hang trần bằng, có hang lóng lánh trần nhũ đá, rủ xuống muôn hình vạn trạng. Trong động Tối có giếng do nước lạnh từ trần động rơi xuống mà thành. Các vị Tiên được thờ ở nhiều ngách trong động. Bên trong động Tối, các nhũ đá rủ mềm mại xây nên cung thần thánh, thờ Tam Tòa Thánh Mẫu.

      Đền thờ Đức Thánh Nguyễn- chùa Bái Đính cổ

      Đền thờ thần Cao Sơn ở sát cuối cửa sau hang Sáng. Rẽ trái là đền thờ Thánh Nguyễn, người con của đất cố đô Hoa Lư, Quốc sư thời Lý.
      Đền Thánh Nguyễn (Lý Quốc Sư 1065- 1141) trên đỉnh núi Bái Đính thờ Thánh Nguyễn Minh Không- người khai sinh Bái Đính cổ tự. Ngài hiển linh trong dáng tượng đồng nguyên khối, ngồi Thiền uy linh, tỏa sáng núi sông, ruộng đồng.
      Nguyễn Minh Không sáng lập chùa Bái Đính. Ông là một Thiền sư, pháp sư tài danh, được vua phong Quốc sư, nhân dân tôn là Thần Khổng Lồ, Thánh Nguyễn.
      Núi Đính cách quê nhà Thánh Nguyễn Minh Không bốn cây số. Chuyện kể rằng ông đến đây tìm cây thuốc chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông hóa hổ, phát hiện các hang động đẹp thần kỳ, nên dựng chùa thờ Phật. Ông tu tại đây, đã tìm ra vườn thuốc quý, và đưa nhiều loại thuốc từ nơi khác về trồng, lấy nước Giếng Ngọc sắc thuốc, chữa bệnh cho dân. Vườn Sinh Dược của Nguyễn Minh Không được gọi là vườn Sinh Dược của ông Khổng Lồ, ôm cả một vùng đất rộng lớn.
      Giếng Ngọc là mạch nước không bao giờ cạn. Là Mắt Rồng, điểm lộ thiên của long mạch Bái Đính. Chùa Bái Đính cổ được xác nhận Ngôi chùa có giếng cổ lớn nhất Việt Nam.
      Tu Thiền đắc đạo, Nguyễn Minh Không đã học hỏi, sưu tầm những kiến thức y học dân gian, hàng ngày tìm thuốc trong vườn Sinh Dược mà trở thành danh y, chữa bệnh cho vua hóa hổ, sưu tầm và phục hưng nghề đúc đồng- Tinh hoa của văn minh Đông Sơn, văn minh Việt cổ, trở thành Tổ sư nghề đúc đồng. Ông là T hiền sư sáng lập nhiều ngôi chùa nhất ở Việt Nam. Tài cao đức trọng, Nguyễn Minh Không được phong Quốc sư. Đền thờ Lý ngàn năm Quốc sư thơm hương, tại phố Lý Quốc Sư- Hà Nội
      Đức Thánh Nguyễn- Ông Tổ nghề đúc đồng
      Thiền sư, Quốc sư, danh y , Nguyễn Minh Không còn được tôn là ông Tổ nghề đúc đồng. Ông góp phần tạo nên “Tứ đại khí” nổi tiếng ở nước ta thời Lý: Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Phật Quỳnh Lâm, và vạc Phổ Minh.
      Theo Tổ nghề đúc đồngSự tích Trâu Vàng hồ Tây, Quốc sư Minh Không có pháp danh khác là Khổng Lồ chữa khỏi bệnh cho con vua phương Bắc. Khi vua trả ơn, hỏi muốn lấy gì, ông chỉ xin một ít đồng đen cho vào tay nải. Nguyễn Minh Không thông thái, đến mức cả kho đồng của vua phương Bắc đều chui vào tay nải của ông trước sự kinh ngạc của triều đình. Ông thả nón tu lờ làm thuyền bơi về nước Nam. Về Thăng Long ông đúc thành chuông. Đồng đen là mẹ của vàng, nên khi thỉnh chuông đồng đen, con trâu vàng bên phương Bắc nghe tiếng mẹ, chạy sang. Nguyễn Minh Không khuyên vua thả chuông đồng và Trâu Vàng xuống Hồ Tây, tránh họa Bắc phương xâm lược. Do vậy Hồ Tây gọi là hồ Trâu Vàng.
      Nguyễn Minh Không đã mang lượng đồng gom được từ Bắc quốc, đúc thành bốn vật báu của nước ta: tháp Báo Thiên cao 20 trượng; gồm 12 tầng với đỉnh tháp hoàn toàn bằng đồng, các tầng còn lại được chạm khắc tinh tế bằng gạch, đá; chuông Quy Điền nặng gần 8 tấn đồng; tượng Phật Quỳnh Lâm cao sáu trượng, vạc Phổ Minh sâu 4 thước.
      Lý Quốc Sư- Nguyễn Minh Không được những địa phương có nghề đúc đồng lâu đời như các làng nghề Yên Xá, Tống Xá ở Ý Yên, lễ hội chợ Viềng (Nam Định); phố nghề Ngũ Xã, phố Lò Đúc (Hà Nội); Đình làng Chè, làng Rỵ (Thiệu Hoá, Thanh Hóa), các làng nghề đồng Châu Mỹ, Long Thượng, Đông Mai (Hưng Yên) và Đào Viên, Điện Tiền (Bắc Ninh) đều thờ và tôn vinh ông là ông Tổ đúc đồng. Mặc dù từ thế kỷ X. Vua Đinh Tiên Hoàng đã cho đúc tiền bằng đồng đầu tiên trong lịch sử và hơn hai nghìn năm, trước người Việt cổ đã đúc Trống Đồng.
      Đầu năm 1118. Nguyễn Minh Không đến chùa Tống Xá ở Nam Định, đã đi thăm các cánh đồng ở đây và thấy có một khu đất rộng, có loại đất sét tốt có thể làm khuôn đúc ở đây. Ông hướng dẫn dân làng nghề đúc đồng. Từ đó cánh đồng có hố đào để lấy đất sét được gọi là cánh đồng Hố, từ thời Lê bắc thêm cầu nên gọi là cánh đồng Cầu Hố. Ngày nay ở thôn Tống Xá có đền thờ ông Tổ nghề đúc đồng Nguyễn Minh Không.
      Thiền sư Minh Không luyện phép Lục trí thần
      Những Pháp thuật lớn của Thiền sư- Quốc sư Nguyễn Minh Không đã sáng tạo Văn hóa Việt Nam rực rỡ trên các lĩnh vực: Phật pháp, Y học chữa bệnh bằng thuốc Nam, nghề đúc đồng… với Trí, Dũng, Đức độ, Nhân cách lớn. Hiện tượng Thiền sư Nguyễn Minh Không, được Hòa thượng Thích Thanh Từ giải thích bằng phương pháp luyện phép Lục trí thần.
      Theo Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm, Phật giáo thừa nhận có phép thần thông. Phàm phu cũng có thể chứng được năm phép thần thông. Bậc Thánh xuất thế chứng được sáu phép thần thông (lục thông). Đức Phật có ba minh, sáu thông.
      Năm thần thông là: Túc mạng thông, biết được đời sống quá khứ. Hai là Thiên nhãn thông, biết được đời vị lai, thấy được xa ngoài tầm nhìn của mắt thường. Ba là Tha tâm thông, biết được tâm niệm, ý nghĩ của người khác. Bốn là Thiên nhĩ thông, nghe được những âm thanh ngoài tầm nghe bình thường. Năm là Thần túc thông, tức là có thể bay nhanh, bay xa, đi lại trong nháy mắt. Năm phép thần thông do trình độ luyện công mà có.
      Sách Thiền Sư Việt Nam- Thích Thanh Từ (NXB thành phố Hồ Chí Minh- 1999) trang 141 ghi Thiền sư Minh Không tên là Nguyễn Chí Thành sinh tại làng Loại Trì, huyện Chân Định- Nam Định. Năm 29 tuổi sư cùng hai bạn thân Giác Hải và Đạo Hạnh sang Thiên Trúc học Đạo với thầy sa- môn, học được phép Lục trí thần. Về nước, Minh Không xây chùa Diên Phước quê nhà, tu luyện, chuyên trì chú Đại Bi.
      Hòa thượng Thích Thanh Từ ghi chuyện Thiền sư Nguyễn Minh Không đi Trung Quốc lấy đồng của vua Tống về đúc Đại Nam Tứ Khí (tượng Phật, hồng chung, cái đỉnh, cái vạc) còn ghi lại trong bài tán của sư Minh Không tại chùa Diên Phước- Giao Thủy.
      Số đồng mang về nước, Thiền sư Minh Không đến chùa Quỳnh Lâm- huyện Đông Triều đúc một tượng Phật Di- đà cao lớn. Tại kinh đô Thăng Long, nơi Tháp Báo Thiên, sư đúc một cái đỉnh. Ở Phả Lại đúc một đại hồng chung. Tại Minh Đảnh sư đúc một cái vạc.
      Số lượng đồng con thừa, Thiền sư Minh Không mang về làng mình, đúc một đại hồng chung ở chùa Diên Phước- Giao Thủy nặng ba ngàn cân. Thiền sư Minh Không làm bài tán:
                 Lạp phú việt đại hải
                 Nhất tức vạn lý trình
                 Tống đồng nhất nang tận
                 Phấn tý thiên câu lực
    Dịch:
      Nón nổi vượt biển cả/ Một hơi muôn dặm đường/ Một đãy sạch đồng Tống/ Dang tay sức ngàn ngựa.
      Bài tán là một minh chứng thật về chuyện cổ tích Việt Nam Sự Tích Trâu Vàng Hồ Tây. Là chuyện thật về ông Khổng Lồ Nguyễn Minh Không. Thiền sư Nguyễn Minh Không bằng xương bằng thịt, đã luyện tu được Lục phép thần thông, mà chính ông ghi lại: Nón nổi vượt biển cả/ Một hơi muôn dặm đường/ Một đãy sạch đồng Tống/ Dang tay sức ngàn ngựa.
      Hòa thượng Thích Thanh Từ ghi Thiền sư Nguyễn Minh Không đi mây, về gió, giúp vua Lý Nhân Tông trừ họa. Chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông, mình mọc đầy lông lá, gầm gừ như cọp dữ. Triều đình phải làm cũi vàng nhốt vua trong đó, và cầu Nguyễn Minh Không về chữa bệnh.
      Chuyện cổ tích Từ Đạo Hạnh được thờ và hiển linh tại chùa Thầy- Hà Nội, kể chuyện Thiền sư Nguyễn Minh Không chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông hóa hổ mà Nguyễn Minh Không đã biết chuyện này từ ba mươi năm trước.
      Ba pho tượng cổ đẹp của chùa Thầy hiển hiện Thiền sư Từ Đạo Hạnh hóa thành ba kiếp.
      Tượng Thiền sư Từ Đạo Hạnh trong kiếp Phật. Tượng được tạc vào thế kỉ XIX, khuôn mặt khắc khổ, nổi rõ mạch máu, ngồi xếp bằng tròn trên một bệ hoa sen còn lại từ đời Lý. Bệ hoa sen đặt trên một con sư tử cuộn tròn, dưới con sư tử là một bệ bát giác. Hiện nay tượng được đội mũ hoa sen và khoác áo vàng.
      Bên phải là tượng Thiền sư ở kiếp Vua. Tương truyền Từ Đạo Hạnh sau khi đã hóa, đầu thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu và trở thành nhà vua Lý Thần Tông. Tượng Lý Thần Tông đầu đội mũ bình thiên, mình khoác long bào, ngồi trên ngai vàng. Bên trái có tượng Từ Đạo Hạnh trong kiếp Thánh, ngồi trong một khám gỗ chạm trổ cầu kì.
      Trong chùa còn có tượng ông Từ Vinh và bà Tăng Thị Loan là cha mẹ Từ Đạo Hạnh và hai bạn đồng đạo thân thiết của Ngài là Thiền sư Minh Không và Thiền sư Giác Hải.
      Thiền sư Việt Nam & Văn hóa Việt Nam
      Lời nói đầu sách Thiền sư Việt Nam Hòa thượng Thích Thanh Từ viết:
      Thiền tông sang Trung Hoa thế kỷ VI do Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Thế kỷ XII Thiền tông sang Việt Nam do Tổ Tỳ-ni-đa-lưu- chi. Thế kỷ XII, Thiền tông vào Nhật Bản, sau Việt Nam năm thế kỷ.
      Song ở Trung Hoa và Nhật Bản sử liệu về Thiền tông rất dồi dào. Ở Việt Nam, quá nghèo nàn. Không phải do Thiền tông Việt Nam kém Trung Hoa và Nhật Bản. Theo dòng lịch sử, từ thế kỷ VII đến XIV, chúng ta thấy Thiền tông đã nắm trọn vẹn tinh thần truyền bá Phật giáo và Văn hóa dân tộc Việt Nam. Sách Thiền tông Việt Nam không kém các nước: Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, Nam Minh Thiền Lục, Liệt Tổ Truyện, Tam Tổ Thực Lục… Kinh sách Phật giáo Việt Nam do Thiền sư Việt viết ra không thiếu.
      Nhưng số sách này, quyển còn, quyển mất. Bởi cuối Trần sang nhà Hồ, giặc Minh đánh chiếm, nước ta bị nô lệ Minh. Sử chép: “Nhà Minh tịch thu hết sách trong nước, các kinh điển nhà Phật, đem về Kim Lăng và đốt phá chùa Việt Nam”…
      Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã dành mấy chục năm sưu tầm, nghiên cứu để viết sách Thiền sư Việt Nam năm 1972 tại miền Nam, nhưng sơ mỏng. Phải chờ đến năm 1987 Thiền sư Thích Thanh Từ mới được ra miền Bắc. Năm 1990 ra lần thứ hai đi khảo cứu các ngôi chùa cổ, tìm tư liệu và năm 1999 hoàn thành sách Thiền sư Việt Nam với sử liệu của hơn 150 vị Thiền sư đã tu Thiền đắc đạo.
      Từ nguồn sử liệu và những giá trị tu Thiền của Thiền sư, Quốc sư Nguyễn Minh Không gửi lại, chúng ta thấy mênh mông, choáng lệ những điều bí ẩn, diệu huyền của Thiền tông Việt Nam, sáng tạo Văn hóa Phật giáo và Văn hóa truyền thống Việt Nam. Những giá trị này đã khai mở khả năng đặc biệt, nhân cách lớn của con người Việt Nam, do tu luyện theo Thiền tông.
      Những giá trị Thiền tông vẫn dạt dào tuôn chảy, truyền muôn đời con cháu Việt. Ngày nay, nhiều Thiền sư, nhiều người tại gia, đã và đang tu luyện theo ngọn đèn Thiền, cứu nhà, cứu nước.
      Ngọn núi Yên Tử thắp sáng một rừng Thiền. Tiếng Phật Hoàng Trần Nhân Tông gọi chúng ta:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Ðối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền.
      Ngọn núi Bái Đính Lục phép Thần tỏa sáng. Thiền sư, Quốc sư, Ông Khổng Lồ Nguyễn Minh Không hát:
Cảnh nhàn của ông chài
Sông trong trời biếc muôn trùng
Một thôn dâu lúa, một vùng khói mây
Ông chài ngủ chẳng ai hay
Quá trưa tỉnh giấc, tuyết bay đầy thuyền.
Hồ Gươm Xuân 2015.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 15.3.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn