Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
tranh của J.M. Atlan (1913-1960)




LÁT CẮT CUỘC ĐỜI






  Q uê ông Kiến Thụy Hải Phòng, nhưng sinh ra và lớn lên trên đất mỏ, mảnh đất và con người vùng mỏ đã nuôi dưỡng dạy dỗ, đào tạo ông trưởng thành . Tuy đã vào tuổi “xưa nay hiếm” nhưng trông ông vẫn tráng kiện quắc thước, vẫn minh mẫn, vần hàng ngày đạp xe đi trên đường phố, vẫn sáng tác văn thơ đều đều gửi cho các báo và tự in để tăng bạn bè thân hữu và lớp trẻ, ông tự hào : “Đất mỏ đã cho ông gân cốt như hôm nay!”.
    Ông cụ thân sinh ra ông cũng là “cu li” vùng than . Chín mười tuổi ông đã đi làm “nhau”, nón mê đội đầu, khoác bao tải lên vai đi ra bãi thải nhặt than... Ngày nhặt than tối đi học. “Phải học con ạ, có biết chữ mới nên người”. Bố ông đã bảo ông như vậy.
   Tên ông đúng là Xuân Oanh, chim Hoàng Oanh được sinh ra vào mùa Xuân. Nhưng rồi đã gọi chệch đi thành Oánh.
   Trong công cuộc kháng chiến 9 năm, ông hoạt động ở vùng Vàng Danh- Uông bí, tham gia chống càn dưới chân núi Yên tử. Ông làm Bí thư Huyện Đoàn Yên Hưng năm 23 tuổi, một trong những lãnh đạo trẻ nhất của tỉnh Quảng Yên hồi ấy.
   Vào những năm thuộc thập kỷ 50 của thế kỷ trước, các xã thuộc huyện Yên Hưng gọi tỉnh Quảng Yên, bị giặc Pháp chiếm đóng, người dân phải sống trong cảnh nơm nớp lo sợ vì các cuộc vây ráp lùng sục bắt bớ du kích Việt Minh, các cơ quan Huyện đều phải sơ tán vào chân núi để lập căn cứ kháng chiến lâu dài ....
    Một vùng núi hiểm trở cây cối um tùm rậm rạp quanh năm., khi mùa xuân đến núi rừng như được tô điểm thêm sắc trắng của hoa Mận, màu vàng của hoa Cúc dại, phơn phớt hồng của hoa Đào, những tà áo xanh viền hoa văn đỏ trắng của các cô gái người Dao. Những đàn bươm bướm trắng bay chập chờn bên vách núi, những tiếng nước róc rách hết ngày này sang ngày khác của dòng suối ẩn mình chân núi đá, chim kêu vượn hót...
   Ông là một trong những tay đào măng rừng giỏi nhất , được các chị cấp dưỡng khen nức nở : Oánh giỏi lắm!
   Ông được các anh du kích cho tham gia trận đánh chống càn đầu tiên trong đời với khẩu “tôm sơn” và 5 viên đạn . Người chỉ huy đã vỗ vai ông : “Hãy bình tĩnh, mỗi viên đạn là một quân thù nghe chưa!” “Đừng có run phải thở sâu nín thở mới bóp cò!” Người chỉ huy phải nhắc nhở như thế vì ông còn quá trẻ và là người tham dự trân đánh đầu tiên trong đời..
   Bọn địch đã dồn lực lượng hòng đánh úp cơ quan đầu não của huyện , để tạo đươc một vành đai an toàn cho chúng. Nhưng rồi do có lực lượng Bộ đội Tỉnh về giúp sức, nên chỉ sau 3 tiếng đồng hồ, bọn địch đã phải tháo chạy. Trận đó ta diệt được nhiều địch và bắt sống tên quan tư Pháp Đuy-Cat. Nhân dân huyện Yên Hưng đã được nhận cờ và Huân chương Chiến Công .
   Cả huyện đêu vui như tết, tổ chức ăn mừng chiến thắng. Ông đã thề nguyền sẽ sống chiến đấu cùng quê hương cho đến lúc chêt.. Ông đã trở thành hạt nhân lãnh đạo của ngành công nghiệp than. Ông đã tham gia khôi phục khu Mỏ, ông đã cùng nhân dân thị xã đi đắp đê ngăn mặn mở rộng diện tích đất đai để trở thành thị xã rồi lên thành phố hôm nay.
   Những năm làm việc ở vùng Mỏ ông luôn thể hiện là một con người mẫn cán trong sáng thủy chung : Sâu sát gần gũi công nhân, quan tâm đến từng bữa ăn của công nhân, xuất bồi dưỡng cña công nhân...Ông có cách đánh giá người công nhân qua thái độ làm việc với tinh thần khách quan vô tư không hẹp hòi, đối với khuyết điểm thiếu sót của cán bộ công nhân, ông đều cân nhắc xem xét khi đánh giá, ông có chính kiến của mình không để kẻ xấu dèm pha, tâng bốc, lợi dụng, không bao giờ quát tháo mạt sát nạt nộ cán bộ công nhân . Ông sẵn sàng bỏ qua lỗi lầm nhỏ đối với những cán bộ công nhân có nhiều thành tích suất sắc trong thực thi nhiệm vụ hàng ngày. Ông nói với cán bộ thuộc cấp của mình : “Nhân vô thập toàn” các anh ạ, bản lĩnh của ông là vậy, vị tha, thương người, rộng lượng và bao dung. Ông đã nói với cán bộ làm công tác tổ chức “ Cứ làm sai là cách chức sa thải thì đào tạo sao cho kịp?”.
   Một lần ông được báo cáo là tổ trưởng tổ nhà đèn đã lăng nhăng tằng tịu với một công nhân gái trực ca tại nơi làm việc. Ông đã gọi anh chàng lên gặp ông. Ông chì chiết : Anh đã phạm hai tội , một : Anh đã lợi dụng cái chức Tổ trưởng để hủ hoá con người ta, thật không ra thể thống gì cả, may mà anh chưa có gia đinh nên có thể châm chước được, tha. Nhưng cái tội thứ hai mới đáng trị : Đi hủ hoá với người ta lại để người ta bắt được, để lãnh đạo phải mất thời gian vì anh thật là ngu hết chỗ nói. Rồi ông bắt anh ta ngồi viết kiểm điểm , hứa không bao giờ tái phạm .
   Xem xong, Ông đã ký kỷ luật bằng mồm : Tôi cảnh cáo Anh và cho về .
   Việc làm này ông đã bị cấp trên phê bình là hữu khuynh, là mỵ dân, là dĩ hoà vi quý, là một chiều, không kiên quyết. Ông đã im lặng ngồi nghe, nhưng ông có cách suy nghĩ của ông.
   Những nơi ông đã từng công tác thường để lại một ấn tượng tốt đẹp... Có Nhà báo đã hỏỉ ông “ Những kỷ niệm để ông nhớ mãi trong đời ?” Ông không hề dấu diếm, đã nói về những kỷ niệm đẹp của người lãnh đạo đối với người thợ làm than, vui khi gặp vỉa than dày và nục nạc như thế nào, vui khi nhìn dòng suối than óng ánh trôi theo máng trượt ra máy sàng mà náo nức lòng người ra sao.
   Ông kể về kỷ niệm của cá nhân là đã nhiều lần lần được gặp lãnh tụ, đó là năm 1959, khi ông là Bí thu Đoàn TN Mỏ . Năm 1963, ông được đi dự hội nghị tổng kết cuộc vận động xây dụng Đảng theo tiêu chuẩn 4 tôt ở Hà Nội. Bác Hồ đã tới thăm và nói chuyện với hội nghị. Năm 1965 đúng vào ngay 2 Tết Bác đã về ăn tết với quân và dân thị xã Uông bí. Cả 3 lần Ông đều tranh thủ đến gần để thưa chuỵên trực tiếp với Bác về người thợ, về lớp thợ trẻ vùng than đối với việc sản xuất than cho Tổ quốc .
   Những lời dạy của Bác đối với Cán bộ Công nhân Ngành than lúc nào cũng vang vọng bên tai ông; “Làm than như Quân đội đánh giặc, Than là bánh mỳ của công nghiệp, Tổ Quốc rất cần than như con thơ cần sữa mẹ...”
   Ông đã đem những lời chỉ bảo dặn dò nhắc nhở của Bác đến với CBCN đơn vị. Các đơn vị mà Ông lãnh đạo đều có phong trào thi đua sôi nổi phấn đấu hoàn thành suất sắc nhiệm vụ được giao. Ông đã được Nhà nước tặng Danh hiệu Thợ Mỏ vẻ vang, Huân chương Kháng chiến hạng nhât, nhiều kỷ niệm chương và Bằng khen, Ông đã có huy hiệu và giấy chứng nhận tuổi Đảng. Ông đã thường xuyên đến với mọi người trong cương vị “cây đa cây đề” của quê hương, “Tuổi cao- gương sáng của Thị xã”, Ông luôn tranh thủ diễn đàn về truyền thống ông cha ở trên vùng đất quê hương
   Khi ông nghỉ hưu, tuy có tiêu chuẩn nhà ở Hà Nội, nhưng ông đã trao lại cho Nhà nước để về với Vùng đất Uông bí thân yêu của mình, vì ở đây ông có người vợ hiền và đứa con trai đang lãnh đạo quản lý một xưởng Gạch có gần một trăm công nhân. Ông về làm cố vấn cho bà , ông luôn nhắc nhở vợ con là ngoài trách nhiệm trả lương sòng phẳng cho công nhân còn phải lo đời sống ăn ở cho công nhân, phải phấn đấu hoàn thành nghĩa vụ thu nộp đối với ngân sách Nhà nước ...
   Khi người vợ của ông ra đi, sau 3 năm để tang bà, có người đã rỉ tai khuyên ông : “Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông!”. Ông đã suy tư nhớ lại thời trai trẻ của mình, những mối tình đẹp và thuần khiết biết bao, nay người còn người mất, cũng có người đang sống cuộc sống cô đơn… Ông đã cười .
   Ông đã bàn giao lại toàn bộ cơ sở sản xuất gạch của gia đình cho Thị xã quản lý. Không những vốn được bảo toàn mà còn có lãi.
   Từ thời gian ấy ông đã giành nhiều thời gian cho công tác xã hội và giành thời gian cho sáng tác thơ văn và từng bước ông đã phấn đấu trở thành hội viên Hội Văn học Nghệ thuất Tỉnh , là Hội viên Câu lạc bộ Thơ Yên Tử. Ông đạp xe đi xuống các xã vùng ven để thăm hỏi bạn bè làm than cũ của ông. Những lúc đó ông thường ngồi ôn lại những nỗi khó khăn vất vả của người thợ làm than trước đây, phải chạy gỗ lò, phải chay vật tư vất vả như thế nào, những vụ tai nạn kinh hoàng đối với người thợ mỏ ra sao …Ông bảo thời nay làm than sướng thật có kỹ thuật, có máy móc hiện đại, không phải chạy gỗ, lại có năng suát cao, công nhân đi làm có xe đưa đón…”
   Ông là người tích cực tham gia làm việc thiện ở địa phương ông hăng hái tham gia tuyên truyền những gương tốt, việc tốt về hoạt động nhân đạo từ thiện...; Tại đại hội Hội Chũ Thập Đỏ khu vực ông được mời dự, có 6 cháu tật nguyền được quỹ Hội Chữ Thập Đỏ tăng mỗi cháu 100.000 đồng, ông đã tự nguyện tặng thêm mỗi cháu 50.000 đồng nữa, ông thường động viên con cháu tích cực tham gia công tác vệ sinh môi trường để sạch làng đẹp xóm. Ông rất vui, phấn khởi khi được tin những người kém may mắn ở địa bàn được sự giúp đỡ của Hội đã vượt qua những nghịch cảnh để vươn lên trong cuộc sống.
   Sự nhiệt tình của ông đã trở thành nguồn động viên rất lớn đối với mọi người .Việc làm của ông được Hội Ngưòi Cao Tuổi ca ngợi và Hội Chữ Thập Đỏ biểu dương. Tuy nhiên không phải không có ý kiến nghị luận bàn ra tán vào “Ông ta muốn đánh bóng mình”! Ông cười: tuỳ nhận thức của mỗi người, ở sao cho vừa lòng người, khó lắm…?
    Ông đã nhận ra một điều thời gian trôi đi, mỗi khúc mỗi đoạn của cuộc đời đều để lại những “lát cắt” để đời.... Ông nhiệt tình bảo ban giúp đỡ lớp trẻ đang giữ cương vị lãnh đạo ở Xã Phường, ông hướng dẫn họ viết lịch sử, viết sự lớn lên qua từng thời kỳ của quê hương Ông tham gia đầy đủ các cuộc họp hội thảo do các cấp hội tổ chức, có ý thức tuyên truyền giáo dục phát triển Hội viên.
    Ông đem kinh nghiệm của mình để đóng góp ý kiến cho các đồng chí giám đốc đương nhiệm trẻ. Mỗi khi nghe tin lò mỏ nào có sự cố ông đều đến với lãnh đạo sở tại để tham góp ý kiến giải quyết. Ông thực sự thấy vui với thành tích năng suất công nhân đạt được, ông buồn khi thấy công nhân lò mỏ bỏ việc nhiều, thu nhập thấp. Ông rất tự hào vì công sức của lớp người đi trước như ông đã được bù đắp một cách xứng đáng, ông coi đó là phần thưởng không cái gì so sánh được .
   Ông đã giành hàng chục triệu đồng để tự in văn thơ do ông sáng tác về truyền thống quê hương để tặng cho các phòng đọc , các thư viên các trường học, cho công nhân các công ty sản xuất than và người nghèo không có tiền mua sách .Ông nghĩ “lớp trẻ ngày nay có ham học, có yêu non sông đất nước, có quý trọng sức lao động của những người đi trước hay không, có hăng hái làm việc hay không là do có sự quan tâm dạy dỗ, bảo ban của lớp người đi trước một cách có bài bản hôm nay !”
   Nhà ông năm trên một sườn đồi đây nắng và gió, gọn gàng và ngăn nắp. Những giờ phút rảnh rỗi ông đã giành cho việc chăm sóc vườn hoa cây cảnh Hoa và cây cảnh trong vườn ông đan xen nhau, tạo ra nét chấm phá rất vui mắt, nhà ở vị trí sườn đồi, ông đã tạo thành những cung bậc bắt mắt .Trong vườn trồng hoa và cây cảnh, có đủ các loại hoa : Thược dược, Hồng Nhung, Hồng bạch, Tứ quý, Đồng tiên đơn, Đông tiền kép...về cây cảnh có Thiết mộc lan, Quỳnh, Trúc Nhật, tre Đằng Ngà...Cây ăn quả thì có nhãn, vải, bưởi, hồng. Phần đất còn lai ông trồng xu hào, bắp cải... Chiều nào cũng vậy , ông dùng vòi nước để tưới phun cho hoa cho cây...
   Bạn Văn, Bạn thơ trong thị xã cũng thường xuyên đến thăm ông. Những ngày lễ lớn những đồng chí lãnh đạo thị xã thường gửi Thiệp mừmg tới ông... Ông là mẫu mực và tấm gương cho con cháu trong gia đình và dòng họ . Con trai và con dâu ông đều có trình độ cử nhân . Hai cháu nội của ông đều là những học sinh chăm ngoan, lễ độ...
   Gia đình ông luôn được công nhận là Gia đình Văn hóa trong nhiều năm... Ông tự hào được khoẻ khơăn, tráng kiện như hôm nay, là do ông biết sống và suy nghĩ ở vị thế cân bằng chủ động ổn định . Ông đã biết sâu chuỗi những “lát cắt” sắp xếp nó lại thành những kỷ niệm đẹp của cuộc đời , quên đi những bức xúc buồn phiền …Trong tâm tư sâu thắm của lòng mình, chưa bao giờ ông nghĩ đến “lát cắt” cuối cùng … Mà ai biết được cái “lát cắt” cuối cùng sẽ đến với ông khi nào?.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Uông Bí ngày 14.3.2015.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN CHÍNH VIỄN TRONG VIỆT VĂN MỚI

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn