Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




GIAN NAN LÀM NGƯỜI





Chương 1.


VẼ LẠI BỨC TRANH XƯA


Phố Ga Thường Tín đầu năm 1945

Gió lạnh thổi hun hút trên đường sô 1, vun những lá bàng rơi thành nhóm tấp vào hè đường . Những chiếc lá bàng đã khô ròn, úa màu tím đỏ, khi va vào nhau bật lên âm thanh khô khôc. Nền trời xám ngoét. Dãy bàng mọc sát hè phố, thân gốc sù sì già cỗi, cành trơ trên nền trời thành nét vẽ.
Đã tàn buổi chợ Vồi. Mấy bà già khoác áo tơi lá, nón che cum cúp đi túm vào nhau tránh rét. Vài cô hàng xáo gánh nặng cong hai đầu đòn gánh, bước rảo theo nhau. Mỗi người như có một tâm sự riêng nên chẳng thấy ai chuyện trò gì. Họ cứ đi im lặng và xa dần khung cửa nhà tôi.
Vâng. Nhà tôi hồi ấy ở tại phố Ga. Gọi là phố vì đó là một dãy nhà tranh mái là, thỉnh thoảng có nhà gạch mái ngói chen vào giữa. Kéo dài đến ngã ba đường là dãy rào chắn của ga Thường Tín. Cái nhà ga nhỏ ấy luôn luôn có một đoàn tàu nằm đợi tránh nhau. Từ bé tôi đã quen ngắm cảnh đầu tầu hỏa đen chũi như một con bọ hung chạy hồng hộc ở nơi xa tới đấy, rồi tiếng bánh xe ken két nghiến trên đường ray. Con tàu mệt nhọc nằm thở phì phò, từ bụng nó nhả ra bao nhiêu là người, Tiếng gọi nhau bên trong ga thế mà vọng tới các nhà ngoài phố nghe cứ ầm ầm. Chợt từ cái đầu máy đen sì ấy phun ra một luồng khói trắng, tiếng “huýt còi... hoong” mạnh mẽ kéo dài báo hiệu thế nào cũng có một đoàn tầu ngược đường đang đến Thì ra tàu hỏa cũng biết chào nhau để tiễn biệt đi xa.
Dãy phố nhỏ lại trở về cảnh bình lặng hàng ngày.
Người trong phố đều từ mọi nơi đến kiếm sống thôi thì thời buổi khó khăn, “tứ hải giai huynh đệ” nào ai có cấm đoán ai, chỉ miễn là biết trọng điều nhân ái thủy chung.

`Nhà của gia đình tôi thuở ấy là một căn nhà gạch – Hiệu thuốc Đông Y Mai Nguyên Đường – mới có ở ga từ khoảng đầu năm 1920. Khi tôi lên năm tuổi, phố ga đông người hơn. Quanh nhà tôi đã có nhiều cửa hàng, cửa hiệu. Hồi ấy hiệu Ích Phương có bán thuốc cam “Con Hươu Vàng”. Lại có chỗ sửa xe nhà ông Kế, ông ấy làm việc suốt ngày, quần áo lấm lem dầu mỡ, khuôn mặt gầy, đầu nhỏ, khi ông ngẩng lên cái yết hầu ở cổ lộ thành cục giật giật. Xa hơn phía gần chợ Vồi là nhà bán giò chả. Bác Quý chủ hàng hay mặc áo cánh vải phin mầu mỡ gà, tay béo bóng nhẫy vì mỡ luôn ngồi cạnh tủ hàng. Bác trai là người ít khi thấy mặt nhưng cứ tang tảng sáng tiếng giã giò có nhịp từ nhà bác vang lên, người trong phố bảo nhau “ Nhà Quý đã dậy rồi đấy” , để mà đánh thức nhau trở dậy. Nhà bác Quý có thể coi như cái đồng hồ báo thức cho cả phố Ga này.
Giữa phố Ga mà có hiệu thuốc Đông Y treo biển hiệu đàng hoàng hẳn là mọi người sẽ hỏi : hiệu thuốc này từ đâu tới nhỉ ? Sau này lớn lên, tìm về quê nội hỏi chuyện tôi mới được các vị cao tuổi kể cho rằng :
...Làng Yen Thái tổng Trung huyện Vĩnh Thuận xưa là làng làm nghề giấy bản gia truyền. Từ 500 năm về trước, giấy dó lụa của các làng vùng Bưởi đã cung cấp cho biết baonhieeu sĩ tử mài mực đề thơ, làm văn đi thi. Đến năm thành Hà Nội bị Pháp chiếm lần thứ hai Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, làng có nhiều người bỏ nghề làm giấy, đi theo nghĩa quân đánh giặc. Mưu sự không thành, những người lính già trở về làng cũ nhìn cảnh làng xưa : dọc sông Tô Lịch nhưng vạc nấu dó nằm im không nhả khói, mà bãi tha ma bên chân thành Đại La mả mới đã nhiều hơn
Không thể sống bằng nghề giấy, cụ lang Vũ đã đưa một người con nhỏ tuổi cùng sách thuôc, sách học viễn du về phương Nam. Tôi cứ tưởng tượng một chiều mưa gió, có chiếc xe ngựa đỗ lại một quán chợ Bình Vọng, hai cha con bước xuống xe tìm nơi ở. “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” (Mua không có then khóa mà có thể giữ được chân người) khiến ông già đượm buồn ngâm một câu thơ cổ. Vài ba ngày sau cha con người lính già được các vị nho học trong làng trọng vì tài, mến vì đức ái quốc đã mời ở lại. Từ đấy, cụ lang đã lao động miệt mài, truyền nghề thuốc Đông Y cho nguời con trai, tích cóp xây dựng được cửa hiệu. Để nhớ về quê cũ, tên hiệu lấy chữ Mai làm đầu, ai đi qua đều có thể biết đó chính là dòng thuốc gia truyền nhà họ ở Yên Thái Bưởi. Lớn lên và lập nghiệp ở Thường Tín, bố tôi kết hôn với người Thường Tín định kế lâu dài. Mẹ tôi cũng là con nhà gia thế.
Cụ Ngoại là một nho sinh đã thi đến Tam trường thì bị đánh trượt vì bài thi phạm húy. Người bạn đồng hương thi đỗ, được vinh quy bái tổ làm cho nỗi buồn của cụ thêm nặng. Từ đó, cụ không đi thi nữa, mà mở trường dạy học, trở thành vị Tổng sư danh tiếng trong vùng Khi tôi lớn lên thì cụ Ngoại đã quy tiên, chỉ còn nét chứ của cụ viết trên những hoành phi, câu đối treo tại đình làng Phú Cốc.
Chiều chiều, từ sau nhà mẹ con chúng tôi thường đứng nhìn về làng. Chỉ cách một cánh đồng mà sao xa ngái. Bà chỉ cho tôi biết nơi cánh cổng làng lấp ló sau bụi tre là cổng làng Hà Hồi, nơi có ngọn tháp nhô cao là lăng ông Thánh tử vì đạo ở làng bên Giáo. Thực ra quê mẹ tôi ở sau dãy tre làng Hà Hồi đó làng làng Phú Cốc nhỏ nhoi nằm kẹp giữa hai làng Hà Hồi và Khê Hồi.
Người già kể rằng “ Làng Phú Cốc (Giàu thóc) ngày xưa giàu có to lắm, mỗi năm đến mừa gặt thóc đóng cót hàng dẫy, cây rơm đại xếp cao đến nối người đi ngoài đường thiên lý còn nhìn rõ. Một hôm, Hoàng thượng tuần du, thấy cây rơm ngài hỏi quần thần “ Cây chi mà cao rứa ?” Quan Hộ giá vội thưa “Muôn tâu đó là cây rơm làng Phú Cốc” Nhà vua chỉ tay khen làng giàu có, sung túc, ai ngờ cái chỉ tay của bậc thiên tử có uy lực “chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan ” đã làm cho cây rơm nghiêng ngả như gập bão lớn rồi bỗng nhiên phát hỏa đổ ập xuống. Từ đó làng Phú Cốc nghèo dân, con cháu có học, có thi nhưng không ai đỗ đạt nữa
Bên kia bờ vực Hà Hồi, nằm nép cạnh một con đường nhỏ có một quán gạch cũ. Cây đa trước quán xòe tán che cả mái, rễ đa thử từng búi đong đưa trước gió.Chiều chiều nắng quái rải ánh vàng trên nóc, nhuộm sáng cả đám lá đa trong chốc lát rồi tất cả chìm vào bóng tối. Phía đông ngôi sao Hôm đã mọc le lói sáng trên trời.
Những bức ảnh ngày xưa luôn đan xen nhau trở về với tôi, hơn 50 năm đã trôi qua, Phố Ga Thường Tín bây giờ đã trở thành một thị trấn với nhiều nhà cao tầng, buôn bán sầm uát. Người xưa bây giờ đã về đâu, bức tranh xưa dù cố hìnhdung cũng chỉ lờ mờ nét vẽ .


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 11.3.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn