Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




ĐI LÀ ĐỂ TRỞ VỀ



Không chỉ ở Trường Sa mới có Tết sớm, Tết trong em cũng sớm như những người lính nơi chiến tuyến địa đầu. Đó là những cái Tết của những người vợ có chồng đang công tác ở các đảo xa.

Miền Trung nắng gió và bão bùng đã không làm cho người ta ngán ngẩm hay đánh mất niềm tin yêu về nó, ngược lại đi đâu rồi người ta cũng nhớ về, nhớ chốn cắt rốn chôn nhau nơi đã mọc lên những câu ca dao ngọt ngào đến sâu lắng. Chiều chiều ra đứng ngõ sau, trông về quê mẹ ruột đau chín chiều…
Vậy là xuân của em đã đi rồi. Đi từ hôm hăm tám tháng chạp với hành trang là những món quà quê và tình yêu thuỷ chung son sắt. Xuân của em về với đảo xa, với nắng gió và bão bùng giông tố, với hai vai nặng trĩu tình nước, tình nhà.
Ở đâu trên đất nước này mà không thế, tuổi hai mươi luôn tự hào mình là rường cột của nước nhà. Cuộc trường chinh qua bốn ngàn năm dựng và giữ nước của ông cha chưa hề dừng lại bao giờ. Đất nước luôn chập chờn bóng giặc. Dẫu biết không dễ gì thắng được nhưng kẻ thù đâu bao giờ muốn ta yên, đâu bao giờ muốn ta mạnh giàu.
Hơn 500 năm câu sấm của Trạng Trình vẫn còn hiệu nghiệm, mà không chỉ 500 năm, muôn đời sau câu sấm ấy vẫn sẽ trường tồn. “ Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân ” là câu thần thi bất diệt của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khi nói với sứ giả của Đoan Quận công Nguyễn Hoàng.
Đất nước hơn mười lần giặc đến từ biển Đông, Miền Trung khúc ruột mỏng manh luôn là tuyến đầu nghinh giặc và cũng bấy lần giặc tan tác thua đau. Miền Trung nơi dãy Trường Sơn uy dũng chắn che là nơi có những binh đoàn như từ trong lòng đất chui ra tập kích quân thù. Nơi Khe Sanh, Tu Mơ Rông, Đức Cơ, Tân Cảnh…đã thành tên, đã làm cho giặc thù khiếp đảm, kinh hoàng. Nơi mà mùa hạn hán, đứt đường người lính sống cầm hơi bằng rau rừng, củ chuối nhưng chiến công luôn thắm đỏ màu cờ. Miền Trung ơi gian lao mà anh dũng.
Ngày ấy em chỉ là đứa bé ăn chưa no lo chưa tới, quen thèm những trò chơi quê, thích bắt những chú chuồn kim xanh, đỏ rồi thả chúng bay vào miền thơ ấu của mình. Cuộc sống quê bình lặng. Bữa cơm chiều thường dọn dưới ánh trăng. Trăng quê sáng trong là đầy đặn. Trăng quê em đẹp và sáng hơn nơi nào khác bởi trăng không phải một mà là hai, ba. Trăng trên trời, trăng dưới nước, trăng trong câu chuyện kể của bà…Vừa hư vừa thực, trăng trong em là cổ tích giữa đời thường, có Hằng Nga, có chú Cuội, có cả khúc quân hành của cha và đồng đội xuyên suốt màn đêm.
Từ bao giờ trong em hình ảnh “ chú bộ đội cụ Hồ ” đã thành dấu ấn không thể phai mờ. Tình yêu đó phải chăng được thai nghén từ cha mẹ, chị anh, từ những người vì giặc thù mà gian lao chiến đấu nên khi vào đời gặp anh, yêu anh – người lính nơi đảo xa – cũng là lẽ thường tình.
Khắp dọc dài Miền Trung là rừng và biển nên truyền thống sống của cư dân ở đây cũng là biển và rừng. Đó là hai ngành nghề gian nan, vất vả nhưng dễ gì giàu có được đâu. Đất hẹp, ruộng vườn manh mún, hạt gạo Miền Trung nuôi không đủ dân mình thì dám đâu xuất giá theo người sang Mỹ, sang Tây.
Nghèo ăn vào áo vá, rừng dần khánh kiệt, lũ lụt ngày càng lộng hành, biển luôn chập chờn bóng giặc, giấc ngủ không được tròn thì mơ ước cũng chỉ là những ước mơ suông. Ai đã từng đến đây, lên rừng sâu, vào bản vắng để thấy cuộc sống nơi này còn thiếu thốn đủ điều. Hiện đại văn minh dẫu sẵn lòng thì cũng không thể ngày một ngày hai đến được. Trường học tranh tre nứa lá vẫn còn, cầu tre, cầu tạm nhan nhản. Bát cơm tuy không còn khoai sắn nhưng vẫn ăm ắp mồ hôi còn để ngon và bổ như thị thành thì hẳn là lâu lắm.
Em cũng không thể là ngoại lệ. Làm cô giáo vùng cao, bản xa gùi chữ đong đưa trên vai nhìn rất thong dong nhưng lại ăm ắp nỗi niềm. Bài học vỡ lòng luôn là bài học khó nhất nên người thầy không thật sự tâm huyết thì con chữ có đặt sát mắt trò cũng chỉ là những thứ vô nghĩa mà thôi.
Ở đây, học trò học một thì thầy cô giáo phải học mười. Học trò chỉ học chữ còn thầy cô giáo phải học làm con dân của bản, học phong tục tập quán, học lời thưa câu mời và quan trọng nhất là học làm người anh, người chị của các em.
Giờ thì em đã là con của hai quê, ngày của em không chỉ ngồi để nhìn xuyên từng con chữ mà phải gieo nó vào tâm hồn, biến nó thành trí thức để lớp đàn em sau kế thừa và phát huy sở học của người xưa. Để những cánh rừng thiêng không phải dần mai một, những dòng sông không phải hung hãn thét gào, để ai đó có dịp ngồi dưới tán thông nhặt lá thông rơi để nuối tiếc về một thời chặt to kho mặn, ăn cây táo rào cây sung, phá cả cánh rừng chỉ để đổi vài tấn bắp. Rừng thôi xanh, đồi dần trọc. Để thấy cư dân miệt rừng yêu cây rừng như yêu mình. Em muốn điều đó thành hiện thực nên từ bây giờ, từ những bài học vỡ lòng em muốn học trò của mình biết yêu từng ngọn cỏ, từng cành cây. Trăm năm trồng người mới lâu chứ mười năm trồng cây thì chẳng mấy chốc. Những đồi trọc rồi đây sẽ xanh, những dòng sông sẽ lại hiền hoà, rừng sẽ không còn khói. Rừng làm du lịch, rừng nuôi lại người và rừng mãi là nơi cho con cháu Tiên Rồng làm chốn “ vạn đại dung thân ”.
Tạm biệt Tết quê với ăm ắp niềm vui khăn gói lên đường về đơn vị cũ, trong ba lô em là cả cánh đồng làng. Đó là những món quà quê đơn sơ nhưng nặng tình nặng nghĩa. Ngoài bánh ít lá gai, bắp nổ, kẹo lạc và vài thứ hải sản khô thì bánh dẻo nhân mứt là món quà Tết mà chẳng nơi nào có. Đó là món bánh ngon mà lạ miệng, ăn rồi sẽ nhớ hoài. Nó là sự tổng hợp của nhiều loại mứt và bột nếp đã được rang chín. Nó cũng là đứa con lai của bánh dẻo được bày bán trong dịp tết Trung Thu mà ai ai cũng biết và cũng từng thưởng thức nhưng nó khác ở chỗ là nhân bánh không chỉ gói gọn giữa bánh mà trộn lẫn vào bột nên khi cắt bánh ra thành lát mỏng bánh có nhiều màu sắc đẹp, nhìn bắt mắt và ăn rất ngon. Nó là bánh của Tết vì nhìn vào là thấy Tết bởi nhân bánh là các loại mứt chỉ có trong dịp Tết như mứt bí, mứt dừa, mứt trái cây, củ quả mà trước khi ngào đường người ta cắt tỉa sao cho khi cắt bánh ra có nhiều màu sắc đẹp.
Đó cũng là món quà quê mà em đã kịp xếp vào ba lô của anh trước khi anh lên đường ra với đảo xa, ra với tài trai và lòng kiên trung bất khuất. Tết trong em đã thật sự đến từ khi anh về và cũng thật sự không còn từ lúc anh đi. Có thể với ai đó là ích kỷ, hẹp hòi nhưng suy cho cùng cũng là chuyện thường tình bởi lắm khi người ta cười nhưng đâu phải vì vui. Hạnh phúc thường thì do người trao nhưng hạnh phúc không phải ai trao mới là chân hạnh phúc. Đó là thứ hạnh phúc mà em có được qua công việc, qua thành bại và sự phấn đấu không ngừng.
Chuyến xe lên miền ngược sáng nay chật kín người, ai cũng vui, cũng tíu tít nói cười dẫu phải xa nhà, xa quê. Phải chăng cuộc sống và tương lai của những người trẻ như em bây giờ là những chuyến đi. Đi bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần. “ Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất sẽ hoá tâm hồn ”, quê hương mỗi người chỉ một nhưng vì cuộc sống nên đôi khi phải nay đó mai đây. Đất nước rộng mở, bạn bè Mỹ, Âu đã khắp chỉ cần một cái máy điện thoại là có thể kết nối năm châu. Em lên rừng nhưng luôn hướng về đảo xa, luôn sát cánh bên anh qua từng tin nhắn, nỗi nhớ niềm thương cũng vì đó mà tươi hoài.
Tạm biệt mùa xuân ở quê, tạm biệt những con đường đất đỏ ngoằn ngoèo và những cánh đồng lúa xanh khiêm tốn cùng với mẹ và những người đàn bà quê lam lũ, tảo tần. Khoé mắt cay cay, ngôn ngữ của mọi cuộc chia ly đều là nỗi buồn. Em không thể khác. Em an ủi mình là “ dặn lòng ai dỗ đừng xiêu…”


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ ĐàLạt ngày 11.3.2015.