Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




ĐƯỜNG TRƯỜNG KÝ SỰ (5)





LANG THANG ĐẤT KHÁCH QUÊ NGƯỜI


TÔI ĐI VẠN VỸ QUẢNG TÂY


Người Việt sang ở đảo Vạn Vỹ đã 500 năm. Đó là một hòn đảo còn giũ được âm cổ ngữ Việt Nam . Đã có lần giáo sư – tiến sĩ khoa học Kiều Thu Hoạch cùng các nhà ngôn ngữ học Quảng Tây ra ghi chép tại đây. Ở đảo còn nhớ chuyện Nguyễn Trãi, ghi chữ trên lá đa, Cũng có chữ viết Nôm như “la thị” là quả thị, “la xưa” là quả dừa, đó là âm cổ của tiếng Việt.

Người Kinh sang đảo Vạn Vỹ mang theo truyện Tống Trân Cúc Hoa, nay các cụ nhớ trong đầu rồi chép chữ Nôm theo dạng chữ Hán. Mấy chục năm về trước có diễn xướng truyện Nôm.

Thời bao cấp, người Việt Nam trên đảo không lấy người Hán và người Hán cũng không lấy người Việt Nam ở Vạn Vỹ,

Truyện Kim Vân Kiều ở Trung quốc có chi tiết Từ Hải đi buôn. Trên đảo Vạn Vỹ các hình thức hát đúm, hát đám cưới các cụ già còn nhớ.


NHẬT KÝ MỘT CHUYẾN ĐI


    17h ngày 23/4/08 : chúng tôi đến Móng Cái và nghỉ lại. Tôi ở phòng 505 ks Hữu Nghị.

     8h ngày 24-4-08 : Cả đoàn đã sang đất Trung Quốc, tôi lên một cái xe nhỏ do phụ nữ lái .Hỏi chuyện, cô lái nói khá sõi tiếng Việt :

- Em lái xe đã mấy năm ?

- Em đã 25 tuổi (cô nàng tưởng tôi hỏi tuổi)

- Anh không hỏi em mấy tuổi, mà anh hỏi em lái xe đã mấy năm

- Một năm rồi.

- Có con chưa ?

- Có 3 con (cả xe cười vang)

- Tại sao lại có 3 con ?

- Thì chính phủ cho phép có 1 con, chồng em và cái xe là hai con, vậy đủ 3 con chớ. (lại cười)

- Phố này là phố gì ?

- Phố này là phố Tân Hoa

- Một ngày em thu nhập bao nhiêu tiền

- Chạy được 300 tệ

- Bây giờ em đưa chúng tôi về đâu ?

- Chưa biết

- Thế thì đi về nhà em nhé.

- Ới dô ! Có dám về không ? (cô lái xe cười vang)

- Có dám đến. nhưng chồng em có cầm dao xông ra giữ vợ không ?

- Các anh không dám đến rồi . Đã đến thì sao phải sợ

- Cái xe này em mua bao nhiêu tiền ?

- Em mua 65.000 NDT tức là bằng 150.000.000 VNĐ đấy.

     Tôi nghĩ bên Việt Nam đang cấm xe tự chế ba bánh nếu mà cho mua loại xe này dùng thì hay hơn, bớt ồn và lịch sự.

8h30 xe đưa chúng tôi đến khách sạn Vân Ngọc bên Đông Hưng. Tại Đông Hưng đường phố rộng hơn đường Hà Nội , xe chở khách chạy dầu và chạy điện đều do phụ nữ lái, đó là những xe thay thế xe lam bên Việt Nam. Lái xe đón khách ngoài cửa khẩu và đưa khách về nội địa. Ở đây, công nhân vệ sinh MTĐT khoác áo mầu da cam, đội nón lá, uể oải đạp xe, lôi theo một cái xe thùng đựng rác. Trong thùng có rác và chiếc chổi tre nan dài

Đường giao thông nội thị rộng, chạy 4 làn xe, các xe tư nhân đeo biển xanh, xe cơ quan đeo biển trắng. Tại các ngã tư đều có đèn giao thông đếm ngược, đối với người đi bộ có hình người đi mau chân qua đường Vỉa hè rộng khoảng 8m. trên mặt phần lớn lát gốm sứ cỡ 5x5 tạo nên hoa văn,


Chiều 24-4-08


Chúng tôi đến Vạn Vỹ, sau khi thăm đình hát, một ngôi đình Việt Nam mới được dựng lại, anh em ra thăm khu người Việt Nam cư trú.

Tôi đến một ngôi nhà, nếu không phải là đất TQ thì nơi đây hoàn toàn là nhà quê Viêt Nam Tại đây có bụi tre bên cái giếng thơi nhỏ, có cái gầu úp bên cọc giếng, có sào phơi quần áo trên cái sân gạch và một ngôi nhà ngói 5 gian , đúng mẫu nhà ngói Việt Nam. Về kiến trúc vẫn giữ mẫu Việt : có nhà trên và nhà ngang dùng làm bếp. Chủ nhà là một bà cụ già, mặc áo đen kiểu Tàu, nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt

- Chào cụ, năm nay cụ thọ bao nhiêu tuổi

- tám mươi sáu tuổi, già rồi.

- Thưa cụ Cụ sinh ở Việt Nam hay ở đảo này.

- Tôi sinh ra ở đây. Ngày xưa có mấy chục người đến đây ở

- Các cụ tổ đến đây lâu chưa ?

- Cụ tổ đến đây lâu rồi đó.

- Cụ đã về Việt Nam lần nào chưa?

- Chưa. Biết quê ở đâu mà về được

- Cụ có biết tiêu tiền Việt Nam không ?

- Tiền Việt Nam à ? Cũng có người biết sài tiền Việt Nam đấy.

- Con biếu cụ đồng tiền Việt Nam nhớ. Đây là tờ 20.000đồng VN đổi được 8 tệ. Nhưng quý là có ảnh Hồ Chủ tịch, cũng như ở bên này đồng bạc nào cũng có ảnh Mao Chủ tịch

- Àu àu. Cản ơn nhớ. Tôi già, cũng có con, có cháu cả rồi. có cả con dâu đấy. Ba người con ở chung một dãy nhà này (cụ chỉ một dãy nhà ngói liền kề nhau) Chiều đi làm về, nhà nào cũng nấu cơm. Con dâu nó làm nhà ở ngoài chợ. Bà còn ở đây để thắp hương thờ các cụ

- Bà ơi, bà họ gì ạ ?

- Tôi họ Vũ tên Chống, Vũ thị Chống là tôi đấy. Chồng tôi họ Tô.

Tôi hỏi thêm mấy câu :

- Cụ đã cao tuổi, có nhớ câu ca nào không ạ

- Tôi chỉ biết hát ru thôi. Chồng tôi khi còn sống nhớ nhiều câu lắm, ông ấy mới đi xa, rồi cụ chậm rãi kể chuyện : ngày trước bà đến ở đầu thôn, dân nghèo lắm. có câu :


Về đây ăn bổng lộc gì

Lộc sung thì chát, lộc si thì già

       Hỏi cụ về câu hát ru con, cụ lại cười : Quên rồi, quên nhiều rồi.

       Một lát sau , cụ nói À, có nhớ đấy

    Rồi thong thả hát rằng :

Con cò trắng bạc như vôi

Có ơi muốn lấy chú tôi thì về

Chú tôi chẳng đánh chẳng chê

Thành duyên, vừa ý thì về làm ăn


Chúng tôi sang nhà bên, gập một bà cụ và một cô gái có mang gần ngày sinh, nhìn bụng cô, mọi người chúc “sẽ sinh con trai”, cô nói “ con gấu đấy”

Một lão ngư trở về, ông có dáng to lớn, đầu múp nở, Ông bảo các bà ở đây hay hát lắm . Chúng tôi mời cụ hát và kể chuyện xưa.

Ông cụ kể chuyện hôn nhân trên đảo, khi trong nhà có người con gái lớn, các nhà giai mỗi nhà mang đến một chiếc guốc tới để tại đầu hè. Khi nhà gái so với guốc cô dâu thấy thành đôi thì cho lấy nhau. Dân đảo gọi là Bồ Đa, tức là làm mối. Hỏi cụ về hát ru con, các cụ nói : “chỉ có người già biết thôi, người trẻ không biết đâu. Một anh trong đoàn cất tiếng hát ru con, cô gái có thai lắng nghe rồi nói

- Tốt nghe nhỉ. Cô bảo ở bên này chỉ hát :

Con ơi, con ngủ cho lâu

Để cho bố mại đi cấy ruộng sâu chưa về


    Hát đến đấy cô cười : chỉ biết hai câu đó thôi. Anh em trong đoàn hát tiếp :

Lúc về bắt được con cá rô, trê

Cầm cổ lôi về, nấu nướng ngủ ăn


Đông người đứng giữa sân vừa hát, vừa nói chuyện. Tôi hỏi các cụ :

- Hôm nay chúng tôi sang, nói chuyện thế này, các cụ có vui không

- Càng nói càng vui à. Nhưng muốn về không được vì xa lắm

   Ông lão ngư cũng cất tiếng hát :

                         Nhớ ánh sáng

                         Cờ đỏ sao vàng

                         Tưng bừng phố thủ đô Hà Nội

                          Ngày Mồng Hai tháng Chín

Tôi hỏi ông lão : Năm nay cụ bao nhiêu tuổi ?

Ông cụ đáp : Năm nay tôi đã 82 tuổi.

Cụ chỉ vào ngôi nhà hai tầng xây khác với bà con. Cụ bảo :

- Đó là nhà tôi ,

    Tại ngôi nhà này theo truyền thống Trung Quốc có các chữ chúc tết Cat Tinh Cao Chiếu và đôi câu đối :

                                                      Hợp gia hoan lạc nghênh tân tuế

                                                       Nội ngoại bình an hảo vận lai

    Trong tình cảm dạt dào, bà con cứ dùng dắng không muốn chia tay, mãi sau mới để chúng tôi ra đình.

    Đình Hát là một ngôi đình cổ của Việt Nam, trong phong trào Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản đã bị phá, sau này dưới thời Đặng Tiểu Bình Đình Hát được khôi phục lại, nhưng có kiến trúc lai Tàu. Bà con trên đảo Vạn Vỹ đã Trung Quốc hóa bằng cách gọi người Việt Nam ở Trung Quốc là dân tộc Kinh, một dân tộc thiểu số của Trung Hoa.

    Với mọi gia đình mà tôi đến thăm, bà con rất quý mến người Việt bên đất Tổ đã đến với người tha phương, tay bắt mặt mừng coi như nguời thân trong gia đình. Nhiều cụ hỏi : Anh ở đâu.? Khi tôi nói tôi ở Hà Nội thì họ lại nhắc chuyện năm xưa có ngày 2-9 , cụ chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố nước Việt Nam độc lập tự do



Ngày 25 – 4 – 2008.


ĐI CHỢ RAU ĐÔNG HƯNG


Mới tang tảng sáng, tôi trở dậy đi xuống chợ rau ở cách khách sạn 1000m. Đây là chợ rau của Đông Hưng, bà con ở xa mang rau đến gây nên ồn ào tiếng động, tiếng phụ nữ Quảng Đông, Quảng Tây lẫn trong chợ,

Chợ này bán rau cải, khoai lang, cải làn, Ai đến chợ cũng mang theo hàng để bán. Tôi hỏi một người :

- con gà gáy là ông đi chợ à, Ông lão không hiểu tôi nói gì, cứ tưởng tôi hỏi mua gà, sốt sắng chỉ về cuối chợ.

Cũng giống chợ đêm bán rau ở bên cầu Long Biên Việt Nam, tại đây nông dân Trung Quôc từ các làng ven Đông Hưng mang đủ các thứ hàng đến bán. Nào ngô, dứa, cà tím, mướp, dưa đủ các loại. Họ là những người dân quê không có ai chuyên nghề buôn bán, nên họ không thông thạo tiếng

Việt Nam. Trả lời những câu hỏi của tôi, họ đều trả lời “mấy yểu à, pú tủng à” chỉ vào mớ rau, mớ cải thì họ biết, nói giá tùy theo từng loại.

       Ở đây rau nhiều lắm, tất cả những thứ rau nhiệt đới , á nhiệt đới đều có. Một thanh niên hỏi tôi bằng tiếng Việt : “Anh đi chợ à” Đáp “ tôi đi chơi, đến 8 giờ thì về Việt Nam”

         - Anh về hôm nay à ?

    Tôi không đáp, hỏi anh ta “ ngày nào anh cũng đi chợ à, mấy giờ thì dậy?”

- Làm cái công việc này phải dậy từ hai giờ đấy.

- Nhà anh có ở gần đây không ?

- Có, nhà cách đây 4km thôi.

- Anh bán rau có được nhiều tiền không ?

- Có ngày 70, 80 tệ, cũng có ngày 200, 300 tệ đấy.

- Thế là hơn bên Việt chúng tôi đấy. Tiền hàng của anh bằng cỡ 500.000 đồng VN . Thế rau bán cho ai ?

- Bán cho người thành phố thôi

- Cảm ơn anh

      Hai chúng tôi bắt tay chào nhau, Cả chợ mới gập anh này biết nói tiếng Việt Nam. Lại đến một hàng rau khác, cô hàng rau hỏi tôi : “Duẩy Nan à” .Cười. Lại đến hàng thịt lợn. Cô hàng thịt tay dao tay cầm cân trả lời tôi rành rọt :

- Tôi không được rỗi để nói chuyện với bác đâu, còn phải bán hàng.

Đúng là người mình, nên trả lời cứ đôm đốp

    Tôi lại đi sâu vào trong chợ, hỏi một bác già : Tên chợ là gì ? Ông ta im lặng không trả lời,

    Cũng giống như các chợ rau ở Bắc Qua, Đồng Xuân bên Hà Nội, tại đây có một ngôi nhà lầu 3 tầng to rộng,tầng dưới có đèn sáng trắng và rau bầy kín các sạp Ngoài các sạp, rau tràn ra hè phố xung quanh, đông người bán nhưng nông dân TQ không biết tiếng Việt, chỉ lắc đầu mà cười.

Trong chợ còn có một khu rộng bán cá tươi. Có những khay lớn đựng cá, chứa đầy nước, máy bơm chạy rì rì phun bọt khí cho cá thở, Một cô bán bánh bao chỉ cho tôi tìm đến một quầy hàng do người Việt bán,


ĐẤT LẠ GẬP NGƯỜI QUEN


Cô hàng bánh bao chỉ cho tôi một quán bán trứng vịt lôn và bảo “duây nan à”. Theo tay cô chỉ tôi bước vào quán bán hàng ăn rất giống Việt Nam

Cô chủ quán là một thanh nữ, áo sơ mi trắng, quần âu dài, khác với y phục của chị em phụ nữ TQ trong chợ. Tôi hỏi :

- Cô là người ở đâu sang bán hàng bên này.?

- Dạ, Em là người Hải Phòng.

- Cô sang đây lâu chưa ?

- Em bị người ta lừa sang đây đã hơn chục năm rồi.

- Cô có nhớ quê không ?

- Quê em thì em vẫn nhớ, nhưng em không về quê nữa

- Vì sao ?

- Em đã có chồng ở Việt Nam, một hôm em đi cùng các chị chơi chợ biên giới bị lừa bắt sang bên này, và ép lấy một thanh niên Trung Quốc. Em sinh với người ta một đứa con trai. Có một lần em về Hải phòng, người nhà không nhận em, đuổi đi. Em đành quay lại bên này sống yên phận với chồng mới

- Anh ấy có yêu vợ không ?

- Biết yêu, nhưng giai nông thôn Trung Quốc chịu khó làm

việc, chiều vợ. Nhưng ngôn ngữ bất đồng nên khi thể hiện tình cảm hắn không biết nói thế nào. Em đi đâu “nó” cũng lặng lẽ đi theo. Cô chỉ người thanh niên đang ngồi ở cuối ghế, và nói mấy câu tiếng Quảng với anh ta, chúng tôi chào nhau. Tôi hỏi : - Bây giờ vợ có phải rửa chân cho chồng không ? Cô đáp : Nó phải rửa chân cho em đấy, chứ em không chịu rửa chân cho nó bao giờ.” Có lẽ cô ta trẻ đẹp, lại đẻ con giai nên anh chồng chiều hết ý, Cũng là hạnh phúc đấy.

Cô chủ quán hỏi tôi : Anh ăn quà gì ? Đáp : tôi cũng không biết nữa.

-Anh ăn trứng vịt lộn nhé. Khi em bán món này, người Trung Quốc lúc đầu không dám ăn, nay thì ăn nhiều vì họ nói “ngon và bổ”

Tôi đưa tờ hai chục đổi lấy 8NDT và mua hàng của cô , cô gói cho tôi 2 cái bánh chưng (bánh của người Choang) và 2 quả trứng vịt lộn.

Tôi vừa ăn quà vừa nói chuyện. Bánh chưng của người Choang gói hình củ ấu, cũng có nhân đậu bên trong. Tôi hỏi cô ;

-Đời sông nông dân bên này thế nào

- Họ sống khổ gấp 10 lần nông dân bên Việt Nam. Ở đây cũng có người biết tiếng Việt nhưng giờ này họ còn ra đường biên buôn rau thơm VN mang về đây bán chợ ban ngày.

- Thế mình bán hàng, họ cũng bán hàng, có cãi nhau không ?

- Mình bán của mình, nó bán của nó, không cãi nhau đâu

Nói chuyện, ăn quà xong, tôi quay lại hàng bánh bao cảm ơn đã chỉ chỗ và mua của cô bánh bao mấy cái đem về KS,

Tôi chụp mấy kiểu ảnh khu chợ rau Đông Hưng rồi ra về. “Tha hương kiến cố nhân” sang đất Đông Hưng gập cô này, nghe cô kể chuyện cũng giúp tôi hiểu đôi điều về chợ Rau. Và tình cảnh ngưởi dân quê nơi đây.


NHỮNG CÔ GÁI CỬU VẠN NƠI BIÊN GIỚI


Cuộc đi du khảo đã gần kết thúc, hôm nay tôi ra cửa khẩu để về Việt Nam. Tại đây tôi được chứng kiến những vất vả nhọc nhằn của các cô “cửu vạn” Tôi gập ở đây rất nhiều nữ thanh niên Việt Nam, họ đều từ 18-25 tuổi, cái tuổi tràn đầy sức khỏe. Các cô mặc áo ngắn, sức vóc mạnh, hùng hổ làm việc như các cô TNXP ngày kháng chiến. Có điều chua xót là hiện nay các cô ấy không phải là TNXP phục vụ chiến trường đánh Mỹ mà là cac nữ cửu vạn vận chuyển thuê cho các đầu nậu kiếm đồng tiền, bát gạo nuôi thân. Hôm nay, các cô đang mang một loại hàng đóng trong hòm giấy cỡ gần 1m3

Hòm thì to, người thì nhỏ, các cô không nhấc nổi cứ kéo lê trên sàn. Đã vất vả như thế mà họ còn tranh nhau chỗ xếp hàng nên cứ bị bọn CATQ đá vào các thùng hàng và đẩy những người lên xuống, Tôi giơ mấy ảnh định chụp thì mấy CSTQ đã xô đến, không cho chụp. Người lính TQ giữ trật tự trạm xuất biên mặt cứ lạnh như băng không lý gì chung quanh. Cô nào không vào hàng là bị anh ta đẩy đổ. Mà những cô gái VN đó chen chúc như một bầy kiến tha cái mồi to bự qua cửa ra ngoài biên giới Trung Hoa. Mỗi ngày có hàng vạn nhân công được các chủ đầu nậu làm giấy thông hành qua bên kia mang vác hàng về cho họ. Liệu nền công nghiệp của ta có ngóc đầu được không khi mà trong những cái hòm ấy là vô số thứ có thể làm chết kinh tế Việt chúng ta.

Đoàn khách chúng tôi đi không, về không, tòng teng cái túi bên vai khi qua cửa khẩu những lính Hải quan TQ cũng mở túi ra xem, không thấy chúng tôi mua thứ gì mang về, họ ngao ngán lắc đầu “những người khách này không thèm dùng hàng Trung Hoa chăng ?”


MUA HÀNG NƠI BIÊN CƯƠNG


Tôi ngồi bên cột mốc 1369 bên Đông Hưng lặng lẽ ngắm nhìn về cửa khẩu Móng Cái bên phía Việt Nam. Từ đây người ra đi thưa thớt, chỉ là vài đoàn khách du lịch, chưa thấy một xe tải nào, đoàn người nào mang theo hàng hóa xuất ngoại.

Trái với hình ảnh đó bên phía cửa khẩu Đông Hưng đã có một dãy dài người Việt Nam vai gánh, tay xách, kéo lê, khoác vai không biết bao nhiêu là thứ hang của Trung Quốc mang về Việt Nam. Như trên đã giới thiệu, họ là những cô gái đi làm cửu vạn miền biên ải.

Một người thông thạo địa phương cho tôi biết : các cô gái đó là những “cửu vạn công khai”, họ được chủ hàng bảo lãnh, mua vé quá cảnh hàng ngày đi sang Đông Hưng. Họ làm việc như những con kiến thợ tỏa sang nước bạn nhận hang, đóng hang mang về nước.Họ mang những thứ gì ? Đó là quạt tích điện, là đèn tích điên để chiếu sáng khi bị mất điện, là các thiết bị dùng cho nhà bếp như nồi từ, ấm từ, đến quần áo các loại. Mỗi ngày có đến hàng nghìn người đi về mang công khai qua biên giới theo quy định (lại thêm con đường tiểu ngạch nhập hàng lậu qua biên giới) chẳng mấy chốc đã bóp chết nền công nghiệp nhẹ của ta.

Qua cửa khẩu, mọi người lần lượt xuất trình Giấy Thông Hành có dán ảnh, có dấu và số hiệu để biên phòng Truing Quốc nhìn anhrm, đối chiếu với người. Sau vụ này là kiểm tra hành lý, mọi người phải đặt lên băng chuyền, chạy qua cửa kiểm tra, Nhiều túi có máy ảnh cũng bị lôi ra , xóa những ảnh chụp nơi biên ải, Họ không muốn cho ai biết về những việc đã xảy ra tại đây.

Đến Đông Hưng, xem nhiều nơi, khảo giá nhiều chỗ, mới thấy cái mức ứ đọng của hang Trung Quốc. Họ sản xuất ra nhiều, nhưng không có nơi mua, gập khách du lịch thường nói thách, nâng giá hang gấp 4, 5 lần, cứ ngỡ khách du lịch là những con vịt giời

Về khách sạn ở Móng Cái, nhận xong phòng nghỉ, mấy an hem rủ nhau đi thăm thị xã đã gập ngay một đội quân bán quần áo may sẵn của Trung Quốc bao vây. Từng đôi, từng đôi đèo nhau trên xe máy, bám theo mọi người,. Họ giơ vào tận mặt mời khách xem các mẫu quần áo, lúc nguội lúc nóng, nài nỉ bán hang

Chúng tôi bực mình lắm nhưng lại thông cảm hoàn cảnh của họ “Cuộc sống mà”. Vì cuộc sống mà xe chạy đến đâu, các lái buôn chạy theo đến đấy. Có người bảo “Các cậu truy chúng tôi ghê quá” nhưng họ lại nhũn như chi chi mà nói rằng “ Xin các ông thông cảm, chúng con cũng vì miếng cơm manh áo mà thôi. Có hàng thì phải bán hết, vì giá hàng thay đổi nhanh lắm. Nếu hôm nay không hết, ngày mai bên kia hạ giá, hàng mua rồi không kịp bán. Thế là chúng con trắng tay”

Cái tâm lý bán gấp không chỉ có ở người buôn quần áo, mà đã lan khắp các nhà hàng Móng Cái. Chúng tôi ít người, kiệm vốn, làm sao đủ tiền mua hàng cho họ.

Đường về còn xa lắc, bao nỗi khó khăn đang chờ sau khi xuống xe


VỀ NƠI ĐẤT MẸ .


Chúng tôi cũng đã đi một quãng dài, đã ăn ở nhiều chỗ, nhiều nơi, nhưng bây giờ về Việt Nam, đến bên cột mốc biên giới mà ngồi với nhau nhớ lại từng chi tiết, từng việc đã qua mà cười với nhau. Nhớ những bữa ăn tại Đông Hưng thấy thức ăn nhiều món nhưng đưa bầy nhỏ giọt từng món một, khách ăn hết mới bưng đĩa khác ra (mặc dù thực đơn đã ghi có 10 món, nhưng cuối cùng là no dồn đói ép.)

Khách vào bàn không biết cái gì nên ăn trươc, món nào nên ăn sau. Ai ăn nhanh chóng no thì lại là người ăn ít món. Một số người chê món ăn Tàu quá nhạt, không đạm và nhiều mỡ.Về tới khách sạn Hữu Nghị bên Móng Cái, ăn món canh cá nấu chua có mấy quả cà pháo mà ai cũng ngon mồm. Quê cha đất Tổ vẫn là nơi cho ta bao điều thiêng liêng. Trên mâm cỗ Việt, không bưng ra lẻ tẻ mà bày một lúc để khách ăn tùy ý, gắp tùy nơi , tạo nên điều vui thú cho mọi người. Có một câu chuyện vui khi ở KS Đông Hưng, chúng tôi muốn uống cà phê sữa. Đến lễ tân hỏi, cô gái lấy ra 2 gói G7 của VN. Hỏi giá, cô ta không biết tiếng Việt mà viết ra 1 G7 = 2 tệ. Thế thì 2 gói là 4 tệ và tôi đã giả tiền theo tỷ giá . Đến hôm ra về, lễ tân gọi lại và đòi tiền theo cách khác :

1 ly cà phê giá 20 tệ

2 ly giá 40 tệ x 2,500đVN = 100,000đVN

     Uống ly càphê trong KS 3 sao Đông Hưng trong khi tiếng nói không biết, chữ nghĩa không hay bị nó bóp chết là phải. Anh em được phen cười no. Có anh lại tếu “chắc là mày đã “chạm vào nó” chứ gì. Trả tiền ngu là cái chắc,”

Ngày 26-4-2008

Chúng tôi về đến Hà Nôi, chấm dứt chuyến thăm nơi đất lạ.


CÂU THƠ TRÊN ĐƯỜNG


Lâu mới có ngày đi đủ Hội

Anh em ai cũng thấy vui mừng

Mười hai con giáp du hạ giới

Thơ phú đem ra đọc váng trời


Mỗi năm một tuổi xuân tiếp xuân

Nhiều bậc thềm nên bước mỏi chân

Già lão cố đi vui với trẻ

Lỡ mai còn có kẻ tri âm


Ba giờ đêm thức, xem đá bóng

Nghe ở buồng bên có tiếng rồi

Lạ nhà, lạ đất nên khó ngủ

Đành ngồi lấy bút viết thơ chơi


Du lịch lần này nhờ hãng mới

Đường xa tính thấy rẻ vài trăm

Lần nào cũng được như vầy nhỉ

Hoan hô Hành Tỏi- sống muôn năm



Ngày mai mới thật đi Vạn đảo

Thăm người dân Việt lạc năm nao

Giũa chốn trùng dương còn ai nhớ

Lời ru tiếng mẹ thuở năm nào.


Sang đến xứ người nhiều cái lạ

Đường to, xe chạy cứ bon bon

Bốn làn đường lớn, hai bên phố

Hè to, kiến trúc thật đàng hoàng


Bạn bảo đây chưa là phố lớn

Chỉ là gương sáng chốn biên cương

Ăn ở Quảng châu, chôn ở Liễu

Nhớ rượu Mao đài đất Quý châu




Xe chạy miên man về đất đảo

Nhiều nơi hàng vải bán xen nhau

Em mặc vải nào mà xinh thế

Hay là áo mới vải Hàng Châu


Đã tới nông thôn vùng Vạn Vỹ

Cánh đồng thấp thoáng bóng trâu bò

Cảnh quê không lạ. Người không lạ

Cứ ngỡ như là Ta đến Ta


Đêm Quảng châu 24-4-2008


  Thành ngữ Trung Quốc :


             Ăn ở Quảng châu, uông ở Quý châu

             Mặc ở Hàng châu, chết chôn Liễu châu


ĐÊM ĐÔNG HƯNG


Đêm ở Đông Hưng không thao thức

Biết người đã bước quãng đường dài

Thế mà còn lắm hình xưa cũ

Thì ra đâu cũng có chông gai.


Bên một Đông Hưng buôn bán lớn

Vẫn có Đông Hưng chợ vỉa hè

Vẫn có người công nhân quét rác

Có chiếc xe thùng, tiếng chổi tre


Ngày mai tôi lại về đất Việt

Xếp hàng lần lượt nối theo nhau

Đồng hồ cứ nhích từng giây một

Tỉnh giấc chiêm bao mọi sắc mầu.


Lại về cuộc sống người thường dân

Gạo châu, củi quế lắm lo toan.

Bán chữ chợ đời khe hẹp lắm

Chúc cho thiên hạ được bình an


Quá nửa đêm nghe tiếng lao xao

Tiếng xe nhỏ ồn ào đường phố.

Hé cửa ra xem : đèn vẫn tỏ

Phố lặng im trong giấc ngủ thiên thần


Phố lặng yên. Nhưng cải trắng rau xanh

Cứ kĩu kịt khắp nơi ùa đến.

Như xứ ta, chủ trải vuông khăn xuống

Bày rau tươi đã thành chợ bên hè.


Chợ họp sau khu tập thể đông người

Cả khu phố vẫn còn im lặng

Họ khác ta ở nơi tầng trệt

Đã biến thiên thành bách hóa riêng nhà


Tôi đi miên man nghìn ngắm nơi nơi

Những khuôn mạt sạm đen vì nắng gió

Những con người ở phương trời xa lạ

Chung niềm vui khi kết quả cầy bừa


Chợ kéo dài như một giấc mơ

Bu vịt, lồng gà cũng mang đến chợ

Bà con nhìn tôi cười , rất lạ

Duẩy nam à…không biết nói gì đâu


Đông Hưng 24-4-2008



... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 11.3.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn