Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        5.



 Tháng tư, hoa phượng rực rỡ. Dưới gốc, hồng lên những vầng hoa. Từng đám trẻ lau nhau, đùa rỡn, bẻ từng chùm, ngắt tua nhị, kéo vào nhau, chơi chọi gà. Chúng hả hê khi thắng và im lặng nhìn tua nhị của mình bị kéo đứt. Những tán bàng lá xanh như quét mỡ, toả bóng râm mát, Gío từ biển thổi lên lồng lộng. Ông Đục đi xuống phố, Hôm nay, tầng ông không ra than. Mấy cánh chim sẻ sà xuống bên gốc nhãn, mổ những con bọ xít vàng, to như ngón tay cái. Chúng chảnh choẹ, tíu tít, xô đẩy, chen lấn nhau. Thấy vui vui, ông đứng lại nhìn, ngẫm nghĩ.

    Nhà ông tưởng rộng giờ ra đụng vào chạm vì ăn ở luộm thuộm. Những đứa trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn, làm vất vả về, bỏ mặc, không dọn dẹp, lăn ra ngủ. Sáng dậy sớm, mờ đất đã ở tầng. Mùa hè, cái bếp không mấy khi đỏ lửa. Quần áo cái nào mơi mới một chút phải mang gửi cậu Nam. Hôm nay, nhìn đàn chim nghĩ về bọn trẻ, ông ngạc nhiên sao mình không nhắn người làng ra, cho chúng ở, trông cửa trông nhà.
    Đã mấy tối, ông Đục bàn với bọn trẻ: - Bác nghĩ kỹ rồi các cháu ạ. An cư mới lạc nghiệp. Mình có nhà cửa hẳn hoi mà như ở đợ, không quy củ gì cả. Tạm bợ quá. Chúng mày xem thế nào? Ở đây chín người mười làng, không phân biệt ngụ cư ngụ kiếc gì. Nơi nào làm ăn được thì ở. Tao bàn với chúng mày thế này.
    Ông thủ thỉ tâm tình. Lúc chúng mày, khi các cháu, lúc xưng tao, khi xưng bác. Câu chuyện rầm rì tới khuya.
    - Đã được nửa năm rồi. Việc làm cũng vừa sức. Chúng mày xem đưa anh em ra. Cả những đứa bé ấy, cho chúng trông cửa trông nhà. Ngày nghỉ, bác cháu mình trồng rau mà ăn, chăn nuôi gà chó, thêm cặp vào. Không ăn cơm hàng, tằn tiện được khối ra.
    - Nhà cháu đầy em. Sáu đứa cả trai lẫn gái.
    - Nhà cháu cũng đông. Năm mống, Chúng ăn như thợ đấu làm khoán.
    - Thế nhưng đứa nào ra đây được. Thằng Cải sao?- Ông Đục hỏi.
    Thằng Cải vuốt vuốt mặt, im lặng một lát: - Cháu còn hai đứa em gái. Cái Thừa, cái Thãi. Cũng muốn đưa chúng nó ra nhưng bằng cách nào. Cứ nghĩ đến hồi bác cháu mình ra mà khiếp mãi.
    - Nhắn người đưa ra. Vất vả nhưng người ta ra đầy chứ riêng gì mình?
    - Thế còn bác? Sao không tìm lấy một người.
    - Ôi dào! Cũng chẳng dễ. Bác yếu rồi. Lấy vào lại khổ thêm người ta.


    Anh em thằng Động lũi cũi theo Giống. Cả ba lếch thếch nhếch nhác như nhau. Mỗi bước mặt thằng Đậy lại méo xệch. Chân nó sưng phồng những bọc nước. Cổ chân, bắp chân nần nẫn, nóng hôi hổi. Động thương em. Nó nói với Giống cho nghỉ, vào mua mấy cây mía của làng Động nhai cho đỡ khát. Giống gạt đi: - Mua bán gì. Dừng lại bây giờ không đi nổi. Chó sói hùm beo đầy ra. Ai bán mà mua. Dân làng Động đổi hàng lấy hàng chứ đồng tiền chẳng mấy giá trị. Cố gắng mà đi. Gần tới nơi rồi.
    Những cái bóng dật dờ bước. Chòi canh vườn của người làng Động lần lượt hiện ra, lần lượt khuất. Chòi canh là một cây cột cao. Bên trên có chỗ nằm ngồi, có mái lợp, trông xa như chuồng chim bồ câu. Một cái thang dài bắc tựa để leo lên, túc trực canh vườn. Kẻ lạ mặt, cầy cáo khỉ sóc vào đấy, phát hiện ra thì thôi rồi. Súng đấy. Bòm một phát. Không chết cũng hồn xiêu phách lạc. Súng tự chế, sát thương rộng. Đối với người làng Động, phòng thú dữ là chính. Trộm cắp không nhiều. Có lần họ bị cướp. Trâu bò bị lùa đi. Gà, ngan ngỗng… đưa vào bao tải, khuân lên lưng ngựa, kéo đi mất. Thằng Giống vừa lê chân vừa kể.
    Chúng dật dờ như thế đến vàng vàng mặt trời mới tới lán phu. Để em nằm nghỉ với đôi chân tê bại, Động theo Giống vào gặp cai Hào. Hào có khuôn mặt thô, hàm răng vẩu. Hắn ngồi, gạc cả hai chân lên bàn, rung rung như bắt nhịp. Thấy Giống, hắn từ từ co chân xuống, thủng thẳng: - Đã ra rồi à? Làm được chưa?
    Nghe Giống trình bày việc gặp Động và mục đích của chúng. Hào liếc nhìn rồi nói nhẩn nha: - Làm được chứ hả? Mày quê đâu? Sáng mai đi làm nhớ mang cuốc xẻng cho tốt.

    Sáng hôm sau, thằng Đậy sốt li bì. Những vết bỏng nước ken dày bàn chân nó. Mấy cái vỡ, trầy trượt, đỏ hỏn. Động phải ở nhà, vay gạo bà Hào, mượn cái tách nấu cháo cho Đậy. Hôm sau, hôm sau nữa, Đậy cố lồm cồm ngồi dậy được. Động thấy em mình đã bớt mới dám đi làm.
Công việc với Động không đến nỗi nhưng mệt mỏi rã rời vì bụi bặm, vì gánh vác nặng và bàn chân trần đạp lên đá xít, than ghét không quen. Những gánh than quật sáu bảy mươi cân đè níu trên vai đứa trẻ mười lăm, mười sáu. Không làm thì không tiền. Sực tắc (ăn được) thì phải đổ mồ hôi lấy cái vỗ vào miệng. Tay làm hàm mới có mà nhai.
    Tưởng qua loa, ai ngờ trận ốm thằng Đậy kéo dài cả tháng. Đi làm, ai xui lấy lá gì, đào củ gì lấy nước uống hoặc ngâm rửa cho em, Động cũng cố tìm, làm theo. Nó thường ở lại bẻ lá lẩu, đào bới rễ củ nên đến nhà đã tối không còn rõ người. Lại phải chờ người ăn xong mới mượn được vấu. Thằng Đậy sốt nóng sốt rét, khi bớt khi tăng, khi nặng khi đỡ cho đến ngày từ bỏ thế gian. Nó chưa biết làm than ra sao sau khi vượt ba trăm cây số tìm về mỏ chủ yếu bằng đôi chân gầy guộc của thằng bé mười hai tuổi đói khát kinh niên.
    Mộ nó không có nén hương nào. Một mô đất lè tè chung quanh gai góc, cỏ dại và cây bụi. Đậy qua đời còn được an ủi bởi tiếng gào thê thiết của anh nó. Chỉ mấy tháng sau, mộ nó lẫn vào cỏ rác, tan vào trong đất. Ngày ấy, ở cái vùng than dầy đặc đau thương và mịt mù tăm tối này đã ai có nhiều thì giờ dành cho người chết đâu.

    Hôm nay nghỉ, ông Đục đi cho khuây khoả. Lững thững khá xa khu dân cư tập trung, ông mới quay trở lại. Hai bên đường mấp mô những vạt cỏ xanh đậm. Đôi chỗ, cây bụi mọc dày. Một con suối chắn ngang. Ông bước xuống. Nước trong leo lẻo. Những viên cuội tròn. Ông nhặt lên. Có hòn mềm. Có hòn cứng, đóng keo nhìn cũng biết. Có cả những hòn son đỏ cờ, vàng tươi, trắng nõn.
    - Ông ơi!
    Ông Đục ngước lên. Một ông già chống gậy, khoác bị, lại cõng trên lưng đứa cháu nhỏ. Ông già nhìn ông, muốn hỏi điều gì. Ông Đục vội khoả tay xuống làn nước, bước lên. Hai tay còn ướt, ông chùi vội vào quần đùi, xoa xoa vào cái áo vá chằng.
    - Ông ơi! Sắp đến chỗ làm than chưa ông?
    - Ông đi đâu thế này? Con ai đây?
    Ông già chờ ông Đục bước hẳn lên đường cái, mới lắp bắp:
    - Con cháu đấy. Chuyện dài lắm ông ơi. Nhờ ông chỉ cho chỗ làm thuê. Bố con chúng cháu cực khổ hơn tháng trời nay. Nghe làm than cũng tốt ăn. Ông ơi!   Xin vào làm thì xin ở đâu?
    Ông Đục nhìn ông già. Đứa bé trên lưng giương cặp mắt lờ đờ nhìn ông.
    - Ông đặt cháu xuống đã. Ông làm được gì?
    Ông già đặt đứa trẻ xuống. Nó cởi truồng. Cái áo mỏng manh cộc cỡn để lộ rốn lồi to như quả ổi găng. Hai ống chân nhỏ như hai ống sậy bọc lớp da nhẽo nhèo.
    - Cháu tìm việc.
    Ông Đục ái ngại: - Chết! Thế còn đứa trẻ này? Cháu ra bác bế.
    Ông Đục xoè hai tay. Đứa trẻ lừng khừng quay mặt đi nhưng ông kéo lại, bế đứa trẻ lên, giục: - Nào! Ông đi với tôi.
    Ông Bỉnh quê ở Hưng Yên. Bố mẹ chết khi cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy đến hồi kết thúc. Bỉnh mười hai tuổi sống vạ vật, chăn trâu cắt cỏ, làm thuê làm mướn, xẻ đất đào ao, đi phu thuê cho con cái nhà giàu. Năm mười chín tuổi, hai tay vun lỗ miệng. Một người nhà khá có cô con gái, thấy anh chăm chỉ, thương tình, gả cho. Công việc càng ngày càng khó, làm ăn cứ lụn bại dần. Nuôi trâu trâu chết, nuôi lợn lợn còi, nuôi gà gà toi. Hôm trước không sao, hôm sau sân nhà dày đặc xác gà. Bán không ai mua, ăn không hết, cho không ai lấy. Bố vợ lo lắng phát ốm rồi qua đời. Nghe ngoài mỏ làm ăn kiếm được, Bỉnh định ra một mình xem thế nào. Làm ăn được hãy đưa vợ con ra. Cô vợ không chịu. Ra cùng ra cả. Sống chết có số. Không cần bàn cãi làm gì. Thế là bán nhà bán ruộng, vợ chồng con cái bìu ríu nhau đi. Vợ cõng đứa nhỏ, chồng đứa lớn. Đồ đạc chẳng nhiều nhặn gì. Vài bộ quần áo của vợ của chồng và hai thằng con. Tay xách nách ôm. Biết rằng vất vả nhưng ai ngờ lại cay cực khổ ải đến thế. Hôm đầu cố được hơn hai chục cây số. Hôm sau còn hơn chục rồi tám cây số một ngày. Năm ngày sau về tới Đông Triều. Vợ kiệt sức. Con nhỏ hết hơi. Bỉnh để con lại cho vợ, một mình vào làng. Làng nhỏ ven sông Cầm cũng nghèo túng. Đi gần khắp Mễ Xá, Mễ Cụ rồi Nghĩa Hổ, Kim Sen, van xin hết nhẽ. Có người thương, cho cả bọn ở nhờ. Được vài hôm lại người, vợ chồng từ giã nhà chủ, cõng con đi. Chủ nhà còn dặn xuống dặn lên chỉ chục cây số tới Mạo Khê rồi. Không việc gì phải vội. Hôm ấy, nắng gắt quá. Vợ con sốt, nằm lăn trên đường bụi. Mình Bỉnh phải gắng gỏi gần hai ngày mới tới Mạo Khê. Người mách nước xuống Tràng Bạch tìm bà lang Bài mà cắt thuốc, chỉ ba thang là khỏi. Người dặn vào làng tìm ông lang Sài. Người khuyên sang tìm thày pháp Bốn. Hơn một tuần, đứa bé bỏ vợ chồng chúng cháu mà đi. Chôn con có khổ không cơ chứ. Tới Tràng Bạch lại nghe phải đi Uông Bí mới làm được than chứ quay lại Mạo Khê sức anh làm ba bảy hai mươi mốt giờ, may còn cái xác. Vợ cháu nghe nói, sợ quá, bàn đi Uông Bí. Đến suối Sến, vợ cháu lại sốt cao, thương con, gào lên từng hồi. Cháu dìu vợ cõng con vào lấy thuốc. Loanh quanh hơn một ngày. Vợ cháu chưa uống hết bát nước sắc, tay rời ra, người giật giật liên hồi rồi đi.
    Ông Đục nghiêng người tránh hố nước. Thằng bé oằn người đòi xuống đất. Nó đi đái. Nước đái vàng đặc.
    Nắng cũng đã nhạt. Chờ thằng bé, nhìn kĩ Bỉnh, ông Đục hỏi: - Năm nay ông bao nhiêu?
    - Cháu tuổi mùi. Cầm tinh con dê. Năm nay cháu ba hai.
    - Ba mươi hai?- Ông Đục ngạc nhiên hỏi lại.
    - Vâng.
    - Chú kém tôi gần hai giáp. Chắc khổ quá đây mà. Hoàn cảnh chú cơ cực quá rồi. Nhưng không lo. Bố con vào nhà tôi, ăn uống cho no bụng cái đã. Còn đau mệt thì nghỉ. Ôm tha già thải. Nếu khoẻ, cùng tôi sang nói cai Nam xếp việc cho. Ở đó, cái ăn chỗ nghỉ được ứng trước. Làm công cho người ta, lấy tiền trừ sau. Chúng tôi cũng từ quê hương đói khát mà ra, làm được gần chục năm rồi.
    - Vâng! Trăm sự bố con chúng cháu cậy nhờ vào bác.

    Đêm ấy, sau khi cho con ăn no ngủ say rồi, Bỉnh còn thức khuya tâm sự cùng ông Đục: - Khổ ải chồng chất, bác ơi! Cháu phải đào hố chôn vợ, chôn con trong vòng một tuần. Trên đời có ai va cảnh như cháu không? Cháu tưởng chết. Người ngây dại tê bại ra. Con cháu kia - thằng Vòi - cứ ôm lấy cháu, mắt trố ra. Nó đâu biết nó vừa mất hai người ruột thịt. Còn bác, xin bác cho cháu lạy sống bác. Dịp khác, cháu nói bác nghe đoạn đường chìm nổi khốn khổ khốn nạn của cháu. Chứ bây giờ. Bác ơi! Bỉnh nấc lên.


    Ông Bội lững thững đi dọc phố. Nhà tranh, nhà ngói đan xen. Ông ra vùng ven. Cỏ dại cao ngút. Cấn rác chồng chất, lẫn lộn phân lợn, phân chó. Những con chuột to như bắp chân người, thấy động, chạy làm phép rồi ngồi lại, nhe hai răng trắng ởn ra, nhằn nhằn thức ăn. Ông đi, nhìn ngó kĩ càng rồi lần lối khác về. Có lúc ông phải rẽ cỏ, lúc ông phải quay lại vì cụt đường. Những cây đơn buốt hoa trắng, hạt có gai móc dằn xước cổ chân ông. Không rõ ông có kế hoạch gì. Tối tối, ông về lán, người như chui lò ra. Bụi đóng cục dưới mũi, ngay khoé mắt. Bụi phủ lên quần áo, đầu mặt, tay chân.
    - Về ăn cơm! Ông đi đâu thế?
    Ông Bội không trả lời, cởi áo đập chung quanh, đập qua người mình rồi giũ. Bụi mờ như phủ khói.
    Chiều hôm sau, dân mỏ lại gặp ông đi lững thững. Tuần này, tuần sau vẫn thế rồi người dân còn bao nhiêu việc. Chẳng ai thèm để ý ông Bội lang thang loanh quanh, miệng lẩm bẩm những gì.
    - Này Bội! Đi đâu vậy? Tầng sao rồi? Không đi làm à?
    - Ơ Đục! Nhà ở đây?
    Hai ông lão mới ngoài năm mươi, mặt mũi hom hem hốc hác cùng kéo nhau vào nhà. Bội nhìn quanh. Nhà tuyềnh toàng. Một vài cái áo vắt lòng thòng. Ông Đục chống tấm che cửa sổ mắt cáo. Ánh sáng tràn vào. Bội ngó hai chái nhà, ra sân, nhìn một lúc, gật gật đầu. Ánh nắng tàn chiều làm gương mặt ông loang lổ:
    - Được! Chắc chắn đấy. Ông chưa tự nấu ăn hay sao mà bếp rác lạnh lẽo vậy.
    - Ừ! Tôi đang định.
    - Định cái đếch gì? Việc lặt vặt. Nghĩ là làm, hỏng làm lại, tội gì phải nghĩ. Để sức nghĩ việc dời non lấp biển có hơn không?
    Cả hai thủng thẳng chuyện trò đến lúc thằng Ao, thằng Cải, thằng Đá, thằng Bào về, nhí nhố ngoài đầu ngõ. Ông Bội ngỏ ý tìm chỗ làm nhà.
    - Có vài nơi nhưng tôi chưa ưng ý lắm.
    - Hay ông kiếm đất quanh đây. Chỗ nào đẹp, cắm một đám. Anh em cùng cảnh áo ngắn, nương tựa vào nhau.
    Ông Bội lừng chừng; - Tôi còn thằng Cheo. Cháu nó cùng quê. Tôi bàn với nó đã. Có gì…
    Mấy thằng con cháu ông Đục đã về đến nhà. Thấy ông Bội, chúng chào hỏi tíu tít.

    Ông Đục muốn bố con Bỉnh về đây. Ông sẽ ở một chái. Sáu chú cháu anh em nó ở hai gian là đủ rộng rồi. Mua cái tách, cái vấu, nấu riêng bên chái còn lại. Của ai nấy giữ. Tiền đóng gạo góp hàng tháng cho đủ. Ai đi làm về trước lo việc nấu ăn. Ông bàn thế nhưng mấy đứa không nghe... Dù sao, Bỉnh cũng là người mới quen, không họ hàng làng nước gì, lôi thôi phiền phức ra. Vài năm nữa, bọn chúng lấy vợ, nhà lại chật, phải làm mới, không khéo thành dãy dài.
    - Chúng mày tìm chưa? Đã dấm dứ ai rồi?
    - Chưa đâu! Bác tin đi. Chúng nó theo cháu như sẻ thấy lúa chín. Chả nhẽ chúng cháu chịu chết già ư?

    Ông Bội đã bàn với Cheo. Hai ông con sang thưa với ông Đục cùng mấy đứa trẻ. Đất rừng hoang hoá ấy mà. Cứ vỡ ra làm nhà mà ở, trồng cấy mà ăn. Hai ông là chỗ quen biết. Người tầng dưới tầng trên. Con cháu ông Đục làm với cậu Nam. Ông Bội và Cheo làm chỗ cai Toàn. Công việc giống nhau. Dùng mồ hôi đổi lấy tiền gạo. Ông Đục hơn ông Bội hai tuổi. Mấy đứa trẻ nhang nháng tuổi nhau. Mỗi ông một hoàn cảnh. Qua bao nhiêu từng trải tăm tối gian lao nên dễ gần dễ hiểu, dễ cưu mang nhau.
    Nửa tháng sau, căn nhà mới, một gian hai chái mọc lên. Nhà ông Đục cũng thay đổi. Bác cháu không ăn bên cậu mợ Nam nữa. Cái tách nấu mặn xong, múc ra, nấu cơm sau. Cái vấu nấu nước uống, nấu canh. Nếu cần, múc nước vại. Ngày ở quê, uống nước ruộng còn được nữa là.
Bỉnh thường đưa con sang chơi những ngày mưa nghỉ. Thằng bé đã qua đốt dặt dẹo, lại người nên lanh lợi, láu táu gọi hỏi ông Đục suốt. Có hôm, cả bọn uống rượu. Rượu mua ở nhà bà Khảo cuối dãy. Bỉnh trông sáng sủa ra. Anh trở lại cái tuổi ba mươi hai không còn như hôm gặp ông Đục. Ông Đục ngỡ anh bằng tuổi, năm mươi tư.
    Cậu Nam khi rỗi việc thường áo trắng, quần cộc thắt dải, ghé qua. Bỏm bẻm nhai trầu, đôi khi phì phèo thuốc lá, cậu đứng nhìn, nói vài câu. Chưa bao giờ thấy cậu ngồi xuống phản gỗ, chỉ lững thững nhìn ngó.
    Cậu sợ bẩn quần áo.

    Căn nhà thứ hai mọc lên. Sự gắn bó giữa ông Đục và ông Bội, giữa Cheo với bốn đứa lồng ngồng Cải, Đá, Ao, Bào càng thêm thân thiết. Xa xôi, gặp nhau quý nhau là thân. Người làng thành họ hàng. Họ hàng thành anh em ruột thịt. Nhiều buổi tối, chúng kéo nhau đi tán gẫu, tán gái, trêu chọc nhau. Hai ông già trơ lại, tự tìm đến, thổ lộ tâm tình, bàn bạc tính toán hoặc chuyện trời ơi đất hỡi, chuyện linh tinh. Tuổi nào bạn ấy, hợp tính hợp tình. Nếu chưa hợp tính hợp tình đi nữa thì họ hiểu, cố tránh những điều làm người nghe phật ý. Ai cũng có một vùng cấm trong tâm tư. Không ai được chọc chạch, xỉa xói. Bồng bột lắm, đã chạm vào tìm cách mà gỡ ra. Con người sợ cô đơn. Vì thế, họ tìm đến nhau.
    Dây cà ra dây muống, Động cũng gặp, quen với những đứa trẻ khu này. Chỉ còn Bỉnh. Nhiều lúc, Bỉnh vào, ngồi lặng đi, nhìn mãi về xa xăm. Những ngày ở Uông Bí, đến giờ, mỗi khi nhớ lại, anh còn nổi da gà. Vợ chết, con dại, đất lạ, không nơi bấu víu. Người mụ mị đi. Dân quê mỏ lầm than không hề quen biết, tự động, tự nguyện giúp đỡ Bỉnh. Họ cho bố con anh ăn nghỉ, tìm việc cho anh. Con nhỏ, anh không thể vào làm mỏ. Anh trồng mía, dỡ khoai sắn, nhàu cải muối dưa, cày ruộng, làm đất với bà con Sán Dìu, Hoa kiều. Xa dần Uông Bí, làm đâu ngủ đấy. Tối là nhà, ngã là giường. Nhà này hết việc lại giới thiệu anh đến nhà khác. Suốt hai năm, anh làm thuê khắp Uông Bí, Hoành Bồ, Dương Huy, Quang Hanh, khe Hùm, Hạ Thổ (Hà sú). Không quá đói nhưng nghèo tiền bạc. Nghe trong Cẩm Phả đang lấy người làm than. Bố con anh đã từ Huy qua Quang Hanh, hỏi đường về Cẩm Phả. Hơn hai mươi cây số. Loành quành khe suối thế nào, mãi ba ngày sau, vào buổi chiều may mắn ấy, bố con anh gặp ông Đục. Nếu không gặp ông mà còn hơi sức, anh sẽ gặp người khác. Có thể tốt, có thể không, anh vẫn sống được. Nhưng lúc ấy, thân tàn lực kiệt, cơ thể rã rời lại còn đứa bé trên vai. Như chết đuối vớ được cọc. Suốt đời, Bỉnh coi ông là ân nhân của bố con anh.
    Những thử thách đã rèn luyện Bỉnh nhưng chẳng bao giờ muốn mình phải trải qua dù có được hưởng bao nhiêu ưu ái về sau. Bỉnh sống lặng lẽ. Nhiều lúc anh ngồi làm thinh khi đứa con nô nghịch đẩy xô ầm ĩ. Ông Bội nói trước sau gì, anh cũng phải lấy vợ cho cửa nhà yên ổn. Bỉnh cứ ậm ờ, không ra muốn không ra không. Ông Đục nghĩ anh buồn vì bạn cùng lứa quanh đây không có ai. Bọn chúng - con cháu ông - tuy kính trọng anh anh em em nhưng không mật thiết vì khá xa về khoảng cách tuổi tác. Cũng chả cần băn khoăn nhiều, thời gian nghỉ ngơi của cu li than ít lắm. Họ còn biết bao công việc lặt vặt cần thiết cho cuộc sống hàng ngày.
    Những căn nhà lẻ, không khoá, bên trong chẳng nhiều đồ đạc, vật dụng tồn tại suốt mấy chục năm. Vùng than vẫn âm thầm ngày ngày bồi đắp thêm nhân lực cho cuộc đổi thay lớn. Cái ác mới hình thành. Cái thiện chưa phải đương đầu một cách khốc liệt. Cái hay cái tốt, cái dở cái xấu, cái đúng cái sai chưa phải chống trả một mất một còn. Mọi thứ đều manh nha.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 05.3.2015.