Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Dân Bắc Hà & Vua Quang Trung






Hà Nội Tết Ất Mùi- 2015. Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội chúng tôi “ăn cỗ” rất to. PGS. TS Hán Nôm Đỗ Thị Hảo, Chủ tịch hội bảo: “Đây là Hội Nhà Quê”.

        Chúng tôi ăn cỗ Tết với nhiều công trình nghiên cứu làm sống dậy hồn thiêng Nhà Quê của Thăng Long- Hà Nội tỏa hương nối đời, do những hội viên cao tuổi thực hiện. Nhiều tác giả, tác phẩm được xuất bản, được công bố rộng, được giải thưởng…
         Một trong những công trình nghiên cứu đó là sách Dấu Xưa Chuyện Cũ Thăng Long- Hà Nội (NXB Phụ Nữ- 2014). Hơn 300 trang sách do PGS. TS Đỗ Thị Hảo chủ biên, gồm hơn một trăm chuyện kể về những dấu tích hiện vẫn còn, hay đã bị mai một, về những sự kiện và những con người thật đã sống/ chết, dâng hiến cho đất Thăng Long- Hà Nội, được huyền thoại hóa, tỏa hào quang dẫn dắt muôn đời con cháu Việt.

        Tổ Tiên Việt bằng xương, bằng thịt, trong huyền thoại

         Để chứng minh luận điểm “Những con người thật đã sống/ chết, dâng hiến cho đất Thăng Long- Hà Nội, được huyền thoại hóa” tôi trích dẫn tư liệu về núi Tản Viên trong Lời nói đầu cuốn sách trên, của PGS. TS Đỗ Thị Hảo.
          Tư liệu đã làm cho tôi Đi Tìm Tổ Tiên Việt (NXB Văn Hóa Thông Tin- 2014) nao nức, khi gặp Tổ Tiên Việt bằng xương, bằng thịt, trong huyền thoại Tản Viên Sơn và núi Tản sừng sững phía Tây kinh thành Thăng Long- Hà Nội:
         “Về dấu tích xưa, trước hết có lẽ phải kể đến núi Tản (Tản Viên Sơn)… Núi thờ Đại Vương Sơn Tinh họ Nguyễn
con rể vua Hùng thứ 18. Theo sách Giao Châu Tự thì ngài vô cùng linh thiêng, khi hạn hán hay lụt lội, cầu đảo để phòng tai, trừ họa đều lập tức ứng nghiệm. Vì vậy ngài được tôn là một trong Tứ bất tử và là biểu tượng trong công cuộc chống thiên tai của người Việt. Tương truyền khi Cao Biền nhà Đường sang cai trị An Nam, muốn yểm những những nơi linh tích, bèn mổ bụng những cô gái trẻ (độ 17 tuổi) chưa chồng, vứt ruột đi, nhồi cỏ bấc vào bụng, mặc quần áo rồi đặt ngồi trên ngai, tế bằng trâu bò, hễ cứ thấy động thì vung kiếm chém đầu. Biền dùng thuật này để đánh lừa các thần, trong đó có Tản Viên Sơn Thánh. Song chỉ thấy ngài cưỡi ngựa trắng ở trên mây, nhổ nước bọt mà bỏ đi. Cao Biền phải thốt lên rằng:
                                    “Linh khí ở phương Nam không thể lường được. Vượng khí đời nào hết được”.
                                                      (SĐD trang 6)
           Huyền thoại Tản Viên Sơn hay Thần Tản Viên, một trong bốn vị Thánh bất tử Việt Nam (Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Mẫu Liễu Hạnh) được khẳng định là người họ Nguyễn, con rể vua Hùng. Thêm một minh chứng hùng thiêng về Tổ Tiên Việt bằng xương, bằng thịt, đã được huyền thoại hóa.
          Tổ Tiên Việt của chúng ta đã ẩn vào huyền thoại, giấu thân trong miếu, chùa, đình… Linh khí Tổ Tiên tỏa hào quang linh diệu. Chúng ta đời đời cung kính huyền thoại, cổ tích, huyền sử, và bia, mộ, miếu, đền, chùa cổ, dấu xưa, tích cũ… là những nơi Tổ Tiên Việt thiêng liêng ngự. Linh khí nước Nam vượng, là nhờ  Hào quang Tổ Tiên Việt từng tích tắc, tỏa rạng ngời. Cao Biền đã nói không sai. Biền sợ vượng khí Nước Nam là đúng.

         Dân Bắc Hà & Vua Quang Trung 

       Sách Dấu Xưa Chuyện Cũ Thăng Long- Hà Nội PGS. TS Đỗ Thị Hảo sưu tầm và biên soạn câu chuyện dân trại Văn Chương dâng sớ lên vua Quang Trung khiếu nại về tình trạng quân lính Tây Sơn, trong lúc đánh tan tướng tá họ Trịnh sợ hãi, ẩn nấp vào đền, chùa, miếu. Những cuộc quân Tây Sơn truy lùng, tại khu Văn Miếu, làm cho lầu gác, đền đài bị phá, trường ốc và những tấm bia tiến sĩ bị đập nát.
        Chuyện kể rằng Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đem quân Tây Sơn từ miền Nam ra Bắc, chỉ vài ngày đã lật đổ cơ đồ mấy trăm năm họ Trịnh. Chiến công Nguyễn Huệ chói lọi. Uy thế ông lừng lẫy. Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí ghi dân Thăng Long, ai cũng khiếp sợ. Quân quan triều đình, kinh hồn hết vía.
         Nguyễn Huệ phò Lê, diệt Trịnh. Vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho người anh hùng áo vải. Ngọc Hân tài hoa, đức hạnh, giỏi cầm, kỳ, thi họa. Nàng truyền những giá trị Văn hiến Thăng Long và nhân cách cao cả, dũng khí mãnh liệt của Kẻ sĩ Bắc Hà, cảm hóa Nguyễn Huệ đi cùng Nhân Dân.
        Dân Thăng Long rất kính nể nhà Tây Sơn Bắc tiến, làm việc nghĩa, nhưng bất bình về sự xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng và dấu tích Văn hóa Thăng Long ngàn đời. Họ đồng tâm khiếu nại lên vị chủ soái Tây Sơn Nguyễn Huệ.
         Dân Thăng Long nén lòng chờ cơ hội, cho đến khi vua Quang Trung lên ngôi, yên vị ít lâu, chính lệnh đã ban hành rõ ràng. Họ mới tìm cách dâng sớ lên vua, đòi xây lại Văn Miếu, dựng lại bia tiến sĩ.
        Dân làng Văn Chương tìm nhà Nho, nhờ ông viết một bài sớ bằng chữ Nôm.
        Tôi thuộc hai câu thơ vua Quang Trung phê vào bài sớ của dân làng Văn Chương:

                     Nay mai dọn lại nước nhà
                     Bia nghè lại dựng trên tòa muôn gian…

       Nhưng tôi và nhiều người chưa biết bài sớ dân thưa kiện với vua Quang Trung về quân đội của ngài xâm phạm Văn hóa kinh thành Thăng Long.
       Theo PGS. TS Đỗ Thị Hảo, bài sớ đó của nhà Nho tên là Hà Năng Ngôn, hiệu Tam Nông tiên sinh, in trong cuốn sách Tam Nông truyện biểu và bình luận:
       “Bài sớ quả là tài tình, khéo léo. Tác giả bịa ra câu chuyện đồ đảng Trịnh Khải phá bia và Văn Miếu và kể lể dài dòng, chỉ cốt làm cho những lời trách móc quân Tây Sơn ngắn hơn, nhẹ hơn, song lại đanh thép hơn. Cuối cùng nêu một yêu cầu rõ ràng và cấp thiết xin nhà vua cho gấp rút tu bổ lại. Có thế thì dân chúng “Mừng hơn cày cấy Trời cho được mùa”.
          Bài sớ dài dòng văn tự hiệu quả lớn

                Chúng tôi một lũ dân cấy hái
                Trái mùa, sinh vào trại Văn Chương
                Trong khi cày ruộng, cuốc nương
                Vành ngoài trông vọng, cung tường Miều Văn
                Có một thứ băn khoăn trong dạ
                Mượn thầy Nho phô tả ra tờ
                Dám mong lọt cửa quân cơ
                Gió Nam đưa tới cờ ngài Quang Trung
                
                 Bia Tiến sĩ dựng trong Văn Miếu
                 Khởi từ năm Đại Bảo thứ ba (1442)
                 Xí vào Nhâm Tuất hội khoa
                 Thái Tông ngự trị thuộc nhà Hậu Lê
                 Rồi từ đó lệ về Quốc Giám
                 Trải ba trăm ba mươi tám năm ròng
                 Đến năm thứ bốn mươi hiệu Cảnh Hưng vua Hiến Tông (1779)
                 Là khoa Kỷ Hợi (1779) cuối cùng hết bia
                
                 Tính gần lại số bia trong Giám
                 Cả trước sau là tám mươi ba
                 Dựng theo thứ tự từng khoa
                 Bia kia sáu thước cách xa bia này
                 Nhà bia đủ đông tây mười nóc
                 Vuông bốn bề ngang dọc bằng nhau
                 Mỗi bề hai chục thước Tàu
                 Cột cao mười thước, có lầu chồng diêm
                 Coi thể thế tôn nghiêm có một
                 Cửa vào ra then chốt quan phòng
                 Bốn quan nhất phẩm giám phòng
                 Ba cơ, bảy vệ canh trong, quét ngoài
                 Bia mới dựng đầy hai nóc trước
                 Tám nóc sau còn gác lưu không
                 Năm năm chờ đợi bảng rồng
                 Các quan bộ Lễ, bộ Công chiếu hành
                 Kề cửa Khổng sân Trình gang tấc
                 Đào tạo nên nhiều bậc anh tài
                 Một nền văn hiến lâu dài
                 Tiếc thay chưa được đón Người ngự thăm
 
                 Bốn năm trước, giữa năm Bính Ngọ (1786)
                 Ngài đem quân ra thú Bắc Hà
                 Oai Trời sấm sét thoảng qua
                 Cơ đồ họ Trịnh bỗng ra tro tàn
                 Bia tiến sĩ vô can vô tội
                 Mà vạ lây vì nỗi cháy thành
                 Bia thì đạp đổ tung hoành
                 Nhà bia thì đốt tan tành ra tro
                 Có kẻ nói:
                 Tội ác ấy là do Trịnh Khải
                 Lúc sa cơ hắn phải trốn ra
                 Cho vời các bậc đại khoa
                 Trước sau chẳng thấy ai qua theo mình
                 Sau có một nghè Canh ứng tiếp
                 Lại đưa nhầm vào mép hổ lang
                 Đến khi việc đã nhỡ nhàng
                 Giận người khoa giáp lại càng tím gan
                 Nhân có cháu là Lan trốn lủi
                 Khải trao cho một túi vàng kho
                  Dặn về thuê kẻ côn đồ
                 Phá bia tiến sĩ để cho bõ hờn
                 Trịnh Lan cũng đang cơn giận bực
                 Trốn được về tức tốc làm ngay
                 Dân nghèo mộ được nhiều tay
                 Mấy trăm lính cũ, cùng thầy tớ thân
                 Cho tiền bạc, cho ăn, cho uống
                 Cho cuốc, vồ, mai, thuổng, búa, đao
                 Thừa cơ binh lửa ồn ào
                 Phá bia, đốt Giám, lửa cao lưng trời
 
                 Có kẻ nói:
                 Những lời trước là lời bịa tạc
                 Nào có ai đích xác mắt tai
                 Hay chăng quân lính nhà Ngài
                 Trong khi sung sát ra oai thi hùng
                 Bia tiến sĩ bỗng không mà đổ
                 Chẳng qua vì khí số xui nên
                 Xét soi nhờ ở lượng trên
                 Phá đi rồi lại dựng đền nay mai
                   
                 Chúng tôi chiếu lại hai lời ấy
                 Sự thực hư chưa thấy rạch ròi
                 Song le việc đã qua rồi
                 Chẳng chi bới móc tìm tòi uổng công
                 Chỉ xin được Ngài trông vì nước
                 Dựng lại bia cùng nhà bia cho được y nguyên
                 Trước là giáo dục kẻ hiền
                 Sau là văn mạch rồi truyền dài lâu
                 Nấn ná nữa, mưa dầm, nắng dãi
                 Dùng dằng rồi, ngày lại, tháng qua
                 Cát vùi, rêu phủ, chữ nhòa
                 Tay sờ không thấy, lệ sa bằng thừa
                 Muốn tìm lại dấu xưa, vết cũ
                 Ai là người khảo cổ cho hay?
                 Vậy nên mong ở ngày nay
                 Một giờ nào sớm, càng hay một giờ
                 Chúng tôi kịp đợi chờ chiếu ngọc
                 Mong Ngài trông vào nhà Quốc học ngay cho
                 Chúng tôi mừng vận làng Nho
                 Mừng hơn cày cấy mà Trời cho được mùa
                 Chúng tôi chúc nhà vua muôn tuổi
                 Vì nước ngày mở hội Hà thanh
                 Còn bia tiến sĩ đề danh
                 Vẫn còn bàn thạch triều đình non Tây.

           Vua Quang Trung đọc bài sớ mỉm cười phục thiện. Vua nhận ra giọng văn khôn ngoan, hóm hỉnh, sâu sắc và trí dũng của Kẻ sĩ Bắc Hà. Vua cao hứng vung bút phê vào lá sớ đơn kiện:

                   Ta không trách nông phu
                   Ta chỉ gớm thầy Nho
                   Cả gan to mật dám kêu vua bằng Ngài
                   Thầy Nho là ai?
                    Sắc cho bộ hỏi, dân khai…

           Vua ghi luôn ý kiến giải quyết vấn đề Văn Miếu bị quân Tây Sơn phá:

                    Thôi! Thôi việc đã rồi
                    Trăm nghìn hãy cứ trách bồi vào ta
                    Nay mai dọn lại nước nhà
                    Bia nghè lại dựng trên tòa muôn gian…

          Dân trại Văn Chương được lời vua phê, đã yêu mến, tin, phục vua Quang Trung đàng hoàng nhận lỗi và hành động vì Dân, vì Nước. Họ đốt đuốc trong đêm, công kênh người viết bài sớ dâng vua Quang Trung vòng quanh Văn Miếu- Quốc Tử Giám.

        Hồ Gươm Xuân Ất Mùi- 2015.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 18.02.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn