Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




ĐƯỜNG TRƯỜNG KÝ SỰ (3)




HUẾ DI SẢN VĂN HÓA CỦA THẾ GIỚI


Cái đích cuối cùng mà đoàn tôi đi đã hiển hiện . Năm nay Huế đã chịu nhiều mưa bão, nay gió Đông Bắc thổi về, mưa rào ào ạt nên Huế đã mất đi vẻ thơ mộng. Vào tới nội thành, xe đi ven sông Hương mà ai nấy nhìn sông Hương chỉ thấy mờ sương khói. Nào đâu cảnh sông Hương êm đềm thơ mộng. Vào trong nội thành , bên tay trái tôi là Hoàng thành nước mưa chảy tràn trên các bờ thành cổ.
Có lẽ cảnh Huế sẽ buồn và chim lặng nếu Đoàn chúng tôi không gập một cô gái Huế nhí nhảnh, lanh lợi dẫn khách đi khắp nơi
Không biết ai dã mách bảo nà mới gập nhau cô đã nói :
- Cháu đi cùng đoàn các chú, không biết có giúp được chi,
cháu chỉ mong học hỏi được ở các chú. Nếu các bác,các chú có viết thơ về Huế thì cho cháu xin một hai bài để làm tài liệu đọc cho khách sau này và học tập.. Cháu là Lê Thị Nhung hướng dẫn viên Công ty du lịch Huế,
Năm nay Nhung đã ngoài 30 tuổi, nhưng nét con gái vẫn còn trong ánh mắt, vẫn ngọt trong giọng Huế khi nói nhấn câu.
Chúng tôi đang đi trên con đường đẹp nhất của trung tâm thành phố Huế, Sông Hương chia đôi thành phố theo hướng Đông Tây, Ta đang ở bờ Nam, qua cầu Tràng Tiền là bờ Bắc, Giữa bờ Nam và bờ Bắc các công trình kiến trúc hoàn toàn khác nhau. Bên bờ Bắc là các kiến trúc cổ, đặc trưng cho kiến trúc Hoàng Thành.. Bên bờ Nam là kiến trúc mới, nếu ai muốn tìm cảm giác cổ xưa xin qua bờ Bắc, nơi đó có nhiều lầu thơ, nhà vườn, tinh nịch và thơ mộng.
Huế có cây cầu nổi tiếng, và lâu đời nhất bắc qua sông Hương là cầu Trường Tiền, cầu này do Pháp xây dựng. Trong chiến tranh cầu Trường Tiền bị hư hỏng, sau năm 1975 chúng ta làm lại, đặt theo tên mới là cầu Cầu Tràng Tiền, nhưng dân Huế vẫn gọi là Trường Tiền
Bên phía tay phải có một cây cầu mang tên cầu Bạch Hổ, xây nên để dành cho xe lửa đi qua. Có nhiều cây cầu mới bắc qua Phú Xuân, dân dều gọi là Cầu Mới,
Nếu đi sang bờ Bắc, qua cổng Hiền Nhơn ta vào khu chợ Đông Ba. Đường Trần Hưng Đạo đi thăm Thành Nội. Chùa Thiên Mụ cũng ở bờ này. Huế là một thành phố nhỏ, khác xa Hà Nội về độ rộng và nật độ dân cư.
Chúng tôi dến Thành Nội, xe đỗ ngoài cửa Hiền Nhơn. Trời vẫn mưa, mọi người líu ríu lo áo mũ che mưa, hàng quán bên đường vớ được đám khách, nhà nào cũng mang hàng ra mời.

Tôi đi trên đường Đại Nội bước trên con đường lát gạch cổ kính khá rộng. Bên ven đường là một hàng cây lớn đang ngả nghiêng theo gió. Bên tay trái là cửa Ngọ môn với hai cửa phụ bên Tả và bên Hữu để nhân dân qua lại
Lang thang trong thành Nội, nghe mưa rơi trên ô, tôi bỏ tiền (35.000đ) mua vé vào thăm Hoàng cung.
Tòa Đại nội Huế là một nhà lớn ở cách cửa ra vào một cái sân rộng, Con đường đi vào giữa hai hồ vuông đầy nước, Hai bên đường giồng cây đại, nay đã thành cổ thụ trụi lá trong mùa đông.
Đi tiếp, là qua một nghi môn gồm 4 cột cao chạm rồng, đỉnh cột có tấm hoành phi viết đại tự chữ Hán Vào đến sân gập 2 con nghê lớn bầy hai bên, những con nghê này đều bày trên bục cao. Cuối sân là bậc thềm lên điện Thái Hòa, có 5 thềm đá đều là mỗi thềm có 9 bậc , Thềm giữa hai bên tạc rồng đá, uốn mình từ trên điện cúi xuống sân, có một con rồng bị vỡ mũi, không hiểu là người đánh hay trời đánh
Ở đây, người ta soát vé lần nữa, trước khi cho khách vào Đại Nội. Tòa Đại Nội gồm 7 gian 2 dĩ, lợp mái ngói. Đại nội có kiến trúc như một cái miếu lớn, hai tầng mái cách nhau khoảng 1 mét, trong không gian khoảng cách đó là những mảng trang trí. Những ngôi miếu, nhà thờ họ… ở miền Bắc chưa có nơi nào có dáng này.
Đây là điện Thái Hòa, nơi vua thiết triều hàng ngày. Ngai vàng đặt ở chính giữa nhà, Theo lịch sử thì ngôi điện này xây năm 1805, có sửa chữa lớn vào các năm 1833 và 1923.
Điện Thái Hòa là nơi cử hành đại lễ trong triều Nguyễn, Trong ngày lễ, Hoàng đế ngự trên ngai vàng, các hoàng thân và đại thần ngự chầu hai bên, các quan thấp hơn thì sắp hàng ngang trên sân Đại triều, Họ đứng theo thứ tự, phẩm trật được ghi trên những phiến đá nhỏ đặt hai bên sân theo nguyên tắc Tả văn Hữu võ
Điện Thái Hòa có kiến trúc tiêu biểu cùa ngôi nhà mái kép, trong đó tiền điện và hậu điện nối với nhau bằng phần thừa lưu. Trong Nội điện có 80 cột to bằng gỗ lim sơn son thếp vàng, trên thân cột vẽ rồng, trang trí tượng trưng cho Hoàng đế.
Điện Thái Hòa là cung điện lộng lẫy nhất của Hoàng cung còn lại đến ngày nay.

Em dẫn tôi vào thăm Hoàng cung
Căm căm giá rét, lạnh gai lưng
Chín gian nội điện, sơn đỏ chói
Một chiếc ngai vàng lắm kẻ mong.

Bước chân ra khỏi Nội điện gập ngay cái giá lạnh ùa đến, Thật đúng là mưa Huế, bởi có mưa mà có gió lạnh thì sợ hơn là rét gió hanh ở ngoài Bắc. Ở đây mưa có giọt gianh, đứng trên thềm Đại Nội ngắm toàn cảnh trong mưa gió, tôi cảm thấy sống ở Hoàng cung đơn độc quá, Nhưng mọi chuyện đã thuộc về dĩ vãng.
Phía sau nhà Thái Hòa có 3 bậc thềm đi xuống, bậc thềm giữa có đôi rồng Nguyễn phủ phục, đầu chúc xuống sân. Con rồng này mũi sư tử, trán to, bờm xẹp lép và kéo mượt về đằng sau. Chân rồng không vươn lên phía trước, Ở hai bậc thềm bên chỉ có mây lửa làm thành bệ. Cả ba thềm đều có kích cỡ giống nhau, bệ nào cũng có 9 bậc lên xuống.
Phía sau điện Thái Hòa có hai tòa nhà ở hai bên tả, hữu, ngày nay dùng làm nơi tổ chức triển lãm.
Ở góc nhà sau bên phải , Sở Văn hóa Thông tin Huế có sáng kiến dựng cảnh ngai vàng như ở trên nội điện. Ai đi du lịch qua Huế, muốn làm vua xin mời đến đây chi 25.000đ một kiểu ảnh để được mặc hoàng bào, đội khăn vàng, hướng mặt vào ống kính và lên ngôi Vào Huế, tôi ghi được một bài ca diễu cợt chuyện này . Ca rằng :

Rủ nhau vào Huế làm vua
Vương triều cũ hóa chuyện đùa hôm nay
Cao sang rồi cũng thế này
Thì ta chân đất điếu cầy lên ngôi

Thăm di sản Huế là một sự tò mò có hạn , người ta đã vào đến Đại Nội, vào Hoàng Cung xem rồi tự nhiên mất hứng không muốn tìm hiểu gì thêm. Bởi lẽ qua 50 năm chiến tranh, con người và bom đạn đã phá Huế nhiều lắm. Ban Quản lý di tích Huế có nhiều công phục dựng nhưng chưa đủ và chưa đúng Cái việc tổ chức cho bình dân lên ngôi vua đã khiến cho Huế mất đi cái vẻ thiêng liêng của một Hoàng thành cổ kính, mất đi cái vẻ đẹp dân tộc mà ta thường theo đuổi. Ông cha đã dạy “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, hãy để người có Đức, có Tâm, có Tài lên ngôi vua còn hơn là bắng nhắng bỏ ra 25.000đ để chụp một tấm ảnh làm vua giả.

THĂM CÁC LĂNG TẨM Ở HUẾ

Ở Huế, bạn có thể đến thăm các tư gia như nhà vườn của bà Tôn Nữ Thu Hà, đó là nơi bạn ngắm cây cảnh, ăn các món đặc sản của Huế, Vừa ăn vừa nghe nhạc Trịnh Công Sơn, không khí êm đềm đến mức bạn lỡ nói to cũng e ngại
Ỏ Huế có Hồ Thiên An đẹp và lãng mạn như hồ Than Thở ở Đà Lạt . Dân Huế kể cho tôi nghe huyền thoại Trai Gái yêu nhau, đến bên hồ tình tự và uống nước hồ thề nguyền thì tình yêu bền chặt mãi
Trời vẫn mưa, cái mưa mùa Đông ở Huế dai dẳng lắm, thấm buốt lắm. Đi qua phố nhỏ của Huế, ngửi thấy mùi cá bống kho khô mà thèm, Cá bống Huế do các mệ tự chọn lựa, ướp gia vị rồi kho tiêu. Thứ cá đó, ăn với chén cơm nóng thì ngon lắm. Nhưng hãy chờ dịp vậy. vì nay là dịp đi thăm các lăng tẩm ở Huế
Điểm đến đầu tiên bên đường là Lăng vua Khải Định. Ông vua này trị vì từ 1916- 1925 trong giai đoạn chủ quyền của đất nước đã mất hoàn toàn vào tay người Pháp, nền văn hóa Phương Tây đang xâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam
Công cuộc xây lăng kéo dài từ 1925 đến 1931 với nhiều yếu tố về kỹ thuật, mỹ thuật, vật liệu xây dựng đã được sử dụng tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa hai dòng kiến trúc Á – Âu, giữa truyền thống và hiện đại. Giá trị thẩm mỹ cao nhất của Lăng là nghệ thuật trang trí nội thất của cung Thiên Định, Chức năng truyền thống của hai ngôi nhà thuộc địa phận này và các lăng tẩm khác là để thờ Văn thần (bên trái) và Võ tướng (bên phải) gọi là Tả Hữu tùng sự. Tại đây, từ khi xây dựng xong chưa từng được dùng vào mục đích ấy, mà chỉ có tính tượng trưng.
Bước đến bệ lăng, có 4 con rồng nằm quay đầu xuống, chia bệ lăng thành ba khoang Giữa và Tả, Hữu. Bệ lăng có 28 bậc đi tới sân lăng, Tại sân lăng ngoài hai hàng tượng văn thần, võ tướng và các lính hầu còn có tượng voi, ngựa đều là nhưng pho tượng đặc sắc của Huế.
Hai bên nhà bia có hai cột trụ biểu, trong nhà bia có tấm bia khắc bài văn của Hoàng đế Bảo Đại viết, ca ngợi vua cha .
Lại đi qua 23 bậc nữa thì tới sân trên. Tại đây có hai bệ đi lên, bệ nào cũng có đôi rồng nằm sát mép thềm. Sân trên rộng, có bình phong che sau lưng tấm bia đặt phía dưới, có lư hương lớn dùng làm nơi hóa vàng mã.
Từ sân trên lên cung Thiên Định phải qua 13 bậc mới tới sân thứ ba, rồi từ sân ấy, leo 13 bậc nưa tới sân thứ tư . Nơi đó là cung Thiên Định
Cung Thiên Định là nơi quan trọng nhất, gồm 3 phòng Tả, Hữu và Trực phòng ở hai bên dành cho các viên quan phụng trực Giữa là Lăng mộ vua và điện thờ. Cung Thiên Định là nơi kết tinh nghệ thuật kiến trúc và trang trí của Lăng vua Khải Định , nhất là phần nội thất.
Tại đây có điện Khải Thánh nơi đặt thi hài nhà vua và Khám thờ, Nền tường vách các phòng này được trang trí bằng cách đắp nổi phù điêu gốm, sứ, thủy tinh với đường nét mềm mại. Đây là một tuyệt tác còn lại của Việt Nam
Tại đây, giữa cái vĩ đại to lớn của công trình, nhìn vua Khải Định ngồi cô đơn trên ngai vàng , tôi chợt lóe lên suy nghĩ : Công trình xây lăng kéo dài 6 năm sau ngày nhà vua băng hà, vậy đây là chủ ý của vua Khải Định hay của vua con Bảo Đại, vị vua theo Tây học đã làm trái ý đồ của vua cha ? Thôi thì việc cũ đã qua, hai ông vua ấy đã để lại cho hậu thế một món quà, cũng hơn là không để lại một cái gì !.
Rời lăng Khải Định, đến Khiêm lăng,(hay còn gọi là Khiêm cung) Ở đây các công trình như một Hoàng cung thu nhỏ, thiên nhiên và kiến trúc hòa quyện vào nhau, tạo nên sự cân xứng hài hòa. Sau khi vua Tự Đức băng hà, khu vực này là nơi thờ phụng
Ngay dưới Khiêm lăng có nhà Xung Khiêm tạ, một nơi phong cảnh hữu tình, Hai bên là hồ nước, những hoa súng nở muộn còn bập bềnh trên mặt nước, cây đại cổ thụ ngả bên hồ đã rụng gần hết lá.. Khiêm tạ đứng bơ vơ với cửa lim, mái ngói, hàng lan can sơn đỏ bao quanh hàng hiên hướng ra hồ, Xung quanh Khiêm tạ là nơi vua Tự Đức hóng mát, ngắm cảnh và làm thơ. Nơi đây không biết Ngài đã có tứ thơ nào nghĩ về đất nước, dân tộc và hoàng tộc. bởi lẽ trước Khiêm lăng phong cảnh tù túng lắm : Hồ Tĩnh tâm không rộng, giữa hồ có một đảo nhỏ, cây cối xanh rì, nước hồ bao quanh đảo, không biết từ đâu đến, từ đây đi về đâu
Khiêm tạ có những quả đồi đắp khéo trồng toàn cây thông, con ngòi nhỏ từ hồ Tĩnh Tâm len lỏi chảy qua đồi, Hai bên bờ hồ có kè đá, tường hoa và con đường đá lát. Thông trên đồi đã già, vi vút reo trong gió. Từ Khiêm Tạ đi lên 17 bậc thì tới Khiêm Môn cũng gập cảnh sân chầu có voi, ngựa và tượng đá các quan văn, võ. , trụ biểu, nhà bia và Hòa Khiêm điện
Vua Tự Đức là người hay chữ nên không phô trương lăng mộ như lăng vua Khải Định. Cảnh trí chỗ nào cũng có chữ Khiêm làm đầu, cho nên cảnh trí ở Khiêm lăng gợi cảm văn học hơn là sùng kính
Mua Huế vẫn dai dẳng, tội đội mua đứng trước Khiêm Lăng ngắm về Khiêm Tạ . Nơi u tịch này đang bị thói thường cầy xới để kiếm đồng tiền bát gạo. Tuy các hàng quán bên ngoài chưa lấn vào trong khu vực bảo vệ, nhưng với sụ phát triển của thị trường, ai dám đoan chắc rằng Khiêm lăng còn yên tĩnh mãi mãi.
Nghĩ cho cùng, đây cũng là nơi người chết muốn được mồ yên mả đẹp. Ai có đến thăm viếng cũng nên chờ dịp kỵ húy để thắp một nén hương trước khi chỉ trỏ, xem ngắm và chê trách công trình của người xưa để lại
Những nơi lăng tẩm ngày ngày bị đánh động bởi nhiều người tục lụy. Chính kiến dù khác nhau nhưng kẻ chết rồi xin tôn trọng, đừng nên mượn cơ du lịch mà xâm phạm nơi thiêng liêng của họ
Chương trình thăm viếng các lăng tẩm dừng tại đây, chúng tôi quay về nội thành

THĂM PHỦ TÙNG TẠI CỐ ĐÔ HUẾ

           Chúng tôi đến thôn Vỹ Dạ, nơi đây trong thơ Hàn Mặc Tử đã viết

Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

          Ngày nay thôn Vỹ Dạ đã dần dần đô thị hóa, hàng cau cũ mất dần, nhưng bên dòng An Cựu còn đó một bến Phủ mà người Huế giữ gìn. Đó là bến trước cửa nhà danh sĩ Tùng Thiện Vương
          Chúng tôi đến thăm Phủ Tùng, nơi mà sinh thời Tùng Thiện Vương đã lập Mạc Vân thi xã. Ai bước vào đây đều có một cảm nhận
rất dễ chịu bởi bên con đường nhỏ vào phủ là hàng cau dân dã, thường ngày hứng nắng gội mưa ân cần đón khách.
Huế là đất Kinh thành nên các tài tử thi nhân nhiều lắm . Thế mà tổ chức Mạc Vân thi xã lại là một tao đàn danh tiếng, các bậc danh tài như Tuy Lý Vương Miên Trinh, Phan Thanh Giản, Hà Tôn Quyền , Cao Bá Quát và Nguyễn Văn Siêu từng đến đây ngâm thơ vịnh nguyệt
Một danh sĩ Trung Quốc là Nhâm Sùng Khánh đã đến thăm Mạc Vân thi xã, ông khâm phục viết tặng đôi câu đối :
                                                                      So tài không kém Tào Thục đời Ngụy
                                                                   Yêu khách còn hơn Mạnh Thường đời Tề.

Hoạt động của thi xã là tổ chức xướng họa thơ văn, hoặc là thi sáng tác thơ văn theo chủ đề, đôi lúc tại đây có sinh hoạt ca Huế.
Tôi đi dưới hàng cau trong Phủ Tùng. Nước mưa rỏ giọt theo tàu lá uốn cong, Cửa Phủ mở rộng hướng ra sông An Cựu, con sông có đặc điểm “nắng đục mưa trong” chợt nghĩ câu thơ

Khách từ Hà Nội vào thăm Phủ
Bước dưới hàng cau, đón tứ thơ
Ngày mưa xứ Huế sao dai dẳng
Huế ơi “giữ khách đến bao giờ” ?(1)

                                                      (1) ý câu thơ cổ : Vũ vô kiềm toả năng lưu khách

Chủ nhân Mạc Vân Thi Xã chính là Tùng Thiện vương Miên Thẩm, Ông là hoàng tử thứ 10, con trai hoàng đế Minh Mạng nhà Nguyễn
Ông sinh ngày 24/10/Kỷ Mão (1819) , mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (1870), hưởng dương 52 tuổi.
Ông tự là Trọng Minh, Trọng Uyên. Hiệu là Thương Sơn , biệt hiệu là Bạch Hào Tử, nổi tiếng thơ hay từ năm 12 tuổi, sự nghiệp văn chương của ông rất đồ sộ ; ông để lại 14 bộ văn thơ, Riêng bộ Thương Sơn thi tập gồm 54 quyển với 2200 câu thơ
Tùng Thiên vương biết hòa mình vào dân tộc, vào những giá trị nhân văn sâu thẳm nên tiếng thơ của ông vượt qua thời gian đến với nhiều thế hệ mai sau
Thơ ông được các học giả như Ưng Chỉnh, Bửu Chính , Trần Thanh Mại, Ngô Văn Phú nghiên cứu và giới thiệu.
Biết chúng tôi là đoàn du khảo thuộc Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội, người cháu trong gia đình đã mở cửa Phủ đón khách. Phủ Tùng là một ngôi nhà có kiến trúc Huế, khiêm tốn với 3 gian nhỏ, gian giữa đặt ban thờ cha mẹ là vua Minh Mạng và bà vợ vua.
Mẹ của Tùng Thiện vương là con quan Tư Không Nguyễn Khắc Thiệu. Năm 15 tuổi bà được tiến cung làm vợ vua Minh Mạng , được phong là Thượng Tấn . Bà là người đoan chính, thông minh, lầu thông kinh sử, ưa thích thiên nhiên, không ưa xa xỉ. Bà đã có công giáo dưỡng các con trở thành những người nổi tiếng.
Bà mất ngày 17 tháng Tám năm Tân Hợi
. Người con chí hiếu Tùng Thiện vương đã khóc mẹ bằng câu thơ :

Nước trong một chén vui còn mẹ
Nay thiết sinh tư có ích gì.

Thấp hơn bàn thờ của cha mẹ là chân dung Tùng Thiện vương. Nghe danh ông qua câu phê của vua Tự Đức

Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán
Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đương.

nhưng đến nay mới được chiêm ngưỡng chân dung . Tùng Thiện cương Miên Thẩm là một ông già râu bạc, mắt sáng, dáng hiền từ nho nhã trong bộ triều phục.
Người ta nói sự nghiệp văn học của Tùng Thiện vương bột phát còn do sự giáo dục của mẹ, một bà từ mẫu đoan trang , có tư chất văn chương. Bà đã giáo dưỡng, hun đúc tài năng thơ ca cho con.
Tại Phủ Tùng có chân dung vua Minh Mạng. Lâu nay, qua sự tuyên truyền, chúng ta thường lầm các hoàng đế phải mặc xa xỉ, có mũ bình thiên, có long bào nhưng thực tế vua Minh Mạng trong di ảnh có trang phục bình dị như các vương thần. Ông mặc đúng quốc phục Việt Nam không mặc theo mẫu quần áo của ai để được đội mũ bình thiên mặc long bào xa lạ , đặt tượng đứng giữa trời.
Trong Phủ Tùng có bài thơ của Tùng Thiện vương lời lẽ cảm hoài như sau

Nửa đời học đạo vẫn mông lung
Trút dép đường đi mới rõ thông
Thiên Mụ, Túy Vân trăng với sóng
Bóng rừng, Hương nước nhớ ta không .

Huế nay đã là Di sản Văn hóa của Thế giới. Những ai đến Huế có biết chăng ngoài hoàng thành lăng tẩm, câu hò, tiếng hát trên sông Hương còn có Phủ Tùng ẩn mình trong thôn Vỹ Dạ , nơi đã sinh thành và chứng kiến hoạt động của một tổ chức thi văn nổi tiếng, một giọng thơ không thua kém thời Thịnh Đường.
Từ xa hơn 600km chúng tôi về đây để được gập thi nhân một thời vang tiếng, khi chia tay với Phủ Tùng, ai cũng lưu luyến và có lời lưu bút.
Như vậy đâu phải là “bóng rừng, hương nước” mà người đọc sách ai cũng nhớ Ngài

MƯA HUẾ

Trời mưa xứ Huế, anh buồn quá
Áo tím không đi dạo phố phường
Bởi em ngại ướt hay sợ má
Sao chỉ “Dạ” hoài, thật dễ thương

Em dẫn tôi vào thăm Hoàng cung
Căm căm giá rét, lạnh gai lưng
Chín gian nội điện sơn đỏ thắm
Một chiếc ngai vàng lắm kẻ mong.

Đêm nghe mưa Huế sầu vương nhớ
Chỉ gợi cho ta một nỗi buồn
Nhớ em nhiều lắm, mà chưa đến
Ta lỗi hẹn rồi, em có thương ?

Đứng ở Khiêm lăng viết mấy lời
Gửi người xứ Huế , hỡi người ơi
Ngày mai về Bắc, tôi gửi lại :
Một bức tình thư để trách Trời

Ngày 9/01/2007

NGHE EM ĐÀN TRÊN SÔNG HƯƠNG

Trên sông lờ lững thuyền trôi
Tiếng đàn em dạo, cho người đắm say
Anh là khách lạ đến đây
Lắng nghe em hát, ngắm tay em đàn
Trên sông một khúc hò khoan
Đàn ai tích tịch tình tang thay lời
Cho anh đắm đuối em ơi
Phải Kim Long đó hay người đâu ta
Có đi Hòn Chén lễ vua
Rơi rơi tiếng ngọc làm ngơ ngẩn hoài
Thuyền trôi lơ đãng bơi bơi
Hoa đăng ai thả sáng ngời trên sông.
Ngày mai từ biệt Hương giang
Bên tai vọng mãi tiếng đàn của em
                                                                           Nghe đàn hát trên sông Hương
                                                                                  (9/01/2007)

                                                                   NGHE CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG

                                                                                 Sao cứ dạo đàn mãi hả em ?
Sao chưa nói một lời anh rõ
Như An Cựu nắng mưa đều lạ
Em là Kim Long hay dáng Ngự Bình

Tiếng đàn em ròn rã xen nhau
Khúc lưu thủy, kim tiền vội vã
Nam Bắc hòa đồng không xa lạ
Qua tiếng đàn xứ Huế làm duyên

Nón quê em tay nắm tay trao
Cất tiêng hát mà như em múa
Nón xứ Huế bập bềnh trắng lóa
Khoan hỡi khoan hò, nón vẫy theo nhau

Theo em về Hòn Chén lễ vua
Điệu chầu văn rộn ràng cửa Thánh
Đàn ai tích tình tang bỗng vắng
Tiếng ai như vàng ngọc rơi rơi

Thuyền trên sông, lơ đãng trôi xuôi
Thả hoa đăng bập bềnh ngọn sóng
Tôi thả xuống niềm tin hy vọng
Thả xuống sông lời chúc an lành

Ngày mai tôi từ biệt Kinh thành
Từ biệt nhưng sơn lăng cố cựu
Người xưa đã lui về dĩ vãng
Tôi về vui cuộc sống truân chuyên

Trong thời gian ở Huế, tôi đi thăm lăng mộ các vua Khải Định, Tự Đức, Thăm Phủ Tùng Thiện vương Miên Thẩm. Tại Phủ Tùng, tôi được thấy chân dung Miên Thẩm, chân dung thái tử Minh Mạng. Tại Huế, tôi cùng ông Nguyễn Huy Hồng đến thăm tác giả Tôn thất Bình .
Tôi đến với Tôn Thất Bình vì anh đã viết “ Huế - Lễ hội dân gian” để có cơ hội tìm hiểu sự khác biệt giũa VHDG Thăng Long và VHDG Huế. Nhưng rất tiếc là ngày 9/01/2007 khi đến nhà thì anh đã bị suy yếu về thần kinh. Chị Huế (Vợ anh) kể rằng anh bị Não, và bây giờ trí nhớ kém lắm, hỏi chi cũng không biết, tội lắm anh ơi” Anh chỉ nói một câu “ Ở Huế, người dân có xu hướng làm mọi việc đều cách biệt với Đàng Ngoài. Đây có lẽ bởi ảnh hưởng tư tưởng của Nhà Chúa và Triều Nguyễn sau này” Đành tìm trong sách để mà hiểu anh.
Đến Phủ Tùng cũng vậy . Người xưa đã vắng, Biết nói cùng ai

Bến Phủ bóng cây lồng sóng nước
Phủ Tùng im lặng dưới hàng cây
Ai hay nơi đó trăm năm trước
Mạc Vân thi xã có nơi đây

Dẫn chúng tôi đi thăm Huế là một cô gái xinh, rất Huế, khiến cho anh em trong Đoàn đều có cảm tình, cho nên đến ngày chia tay, ai cũng bang khuâng
Bây giờ là lúc chia phôi
Bay giờ là lúc chuyện tôi với nàng
Đã lâm vào chuyện văn chương
Tình thơ là chuyện vấn vương hẹn hò.
Mình tôi lại bước xuống đò.
Để nàng đứng mãi trên bờ nhìn theo

Ngày xa Huế 9/1/2007

... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 08.02.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn