Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




CHIẾC ÁO MẦU HỒNG





- Ếp! ếp!

   Bà cả Bình đang lững thững đi, giật mình quay lại. Bác phu xe đã đi quá bà dăm bẩy buớc, còn chửi đổng một câu:
   - Đi nghênh ngang như mẹ người ta ở đường, đồ mù!
   Giá mọi lần, bà cả Bình đã tức sôi, và dù người phu xe có đi quá tầm không nghe thấy nữa, bà cũng mắng theo một câu cho hả lòng tự-ái. Nhưng lần này; không. Chẳng những bà không tức, bà lại còn hình như không nghe thấy tiếng chửi của anh xe nữa. Một hình-ảnh vụt qua vừa làm sao động mớ ký-ức bi-ai mà bà đã cố vùi sâu xuống bao từng năm tháng. Cô thiếu-nữ với chiếc áo mầu hồng với chiếc hòm da đen và vẻ mặt rầu rầu vừa gọi thức dạy ở trong thần-trí bà một mẩu đời đau đớn. Cô thiếu-nữ bà vừa thoáng nhìn thấy trong khoảnh khắc sao có một khổ mặt giống con bà thế! Nếu cô không gầy một chút thì bà đã cho là chính con bà rồi.
   Ba năm trước đây, một buổi chiều xuân tưng bừng, cô Hợi đã bỏ nhà ra đi, đi theo tiếng gọi của ái-tình, để lại cho bà một mối hận mênh mông với bao nhiêu lời mỉa mai cay độc của xóm giềng! Cái gia-đình đang yên vui đầm ấm từ đó phủ một mầu tang, và từ đó, nụ cười rụng trên môi bà cả Bình. Đang buôn bán phát đạt, bà dẹp hết, bà dẹp bởi vì bà không chịu nổi những khinh khi bà đọc thấy trên mặt mọi người. Những câu hỏi móc máy, những tiếng bóng gió mát mẻ của kẻ thù bà cũng như những lời an ủi chí tình của bạn bè, đều có cái đức sé ruột sé gan bà, bởi vì chúng nhắc nhở một xấu xa trong gia-đình bà. Ở ai, bà cũng như thấy vang lên một lời chế riễu: Con gái theo giai, con gái theo giai! Vì bị đau đớm và nhục nhã, tình mẹ quay từ yêu sang thù, lòng mẹ khép kín lại, khép kín trước sự kêu thương của đứa con.
   Đã bao lần cô Hợi viết thư về kêu van lạy lục để cầu xin bà tha thứ, bà đều trả lời bằng nguyền rủa, nguyền rủa đứa con tội lỗi đã dầy séo lên danh dự của gia-đình và làm cho bà không dám nhìn thẳng mặt ai. Luôn luôn bà nói với họ hàng:
   - Tôi có chết thì nó mới về cái nhà này được! Tôi mà gặp nó, tôi gọt gáy bôi vôi!
   Bà thề không bao giờ tha thứ cho con. Đã ba năm nay, bao nhiêu người nói hộ cho cô Hợi, bà đều trả lời bằng một câu son sắt:
   - Tôi không băm nó ra trăm mảnh là phúc cho nó rồi!
   Nhưng không hiểu sao, không hiểu tư-tưởng và tình-cảm trong người bà luân-chuyển ra sao, cái hình bóng một thiếu-nữ mặc áo mầu hồng vụt qua trước mắt bà trong một buổi chiều ba mươi tết bỗng làm cho bà phải bâng khuâng nhớ tới con. Bà cảm mơ hồ thấy rằng cái lời thề son sắt nhủn dần trong tấm lòng son sắt của bà.
   Phải chăng cô thiếu-nữ vừa qua đã là tượng-hình của những cái đau khổ ngấm-ngầm của kiếp người nó gợi lên ở hồn bà một thương sót, thương sót đối với cả mọi người mà trong cái mọi người ấy đứa con bà cũng dự một phần vào đấy.
   Trong một buổi chiều mùa đông rét cóng cá, một người con gái đẹp hòm siểng lếch-thếch lại chỉ, mặc phong phanh một chiếc áo mầu hồng mỏng dính đi qua trong cái dộn dịp tưng-bừng của những người sắm tết, trong cái hăm hở của những kẻ có tiền đang tíu tít sắm sửa để đón xuân, ôi! còn gì mỉa mai cho bằng!
   Chiếc áo mầu hồng bay vào tâm hồn bà như một phép mầu, rồi nó liền khơi cái nguồn yêu thương trong một thời-gian mà tội lỗi của đứa con đã làm cho bế tắc.
   Trong đầu bà vụt hiện lên bao nhiêu câu hỏi, dựng lên bao nhiêu ức-thuyết. Sao ở cái chiều rét mướt này người kia lại lại chỉ mặc phong phanh có một chiếc áo mầu hồng? Sao trông cô ta võ vàng và buồn thỉu buồn thiu như thế? Ở cái giờ sắp sửa chia năm tháng, ai còn xê-dịch nữa? Người này đi đâu, về đâu trong cái lúc năm cùng tháng tận này?
   Bà nghĩ ngay rằng người thiếu-nữ kia đang gặp bước điêu linh. Có lẽ nàng vừa chia tay với một người trai trẻ nào sau khi đã bán dần mọi đồ tế-nhuyễn? Hay là, hay là… người trai trẻ đã lâu lắm không về mà chủ nhà thì bách-thúc. Bà phác-họa trong trí bao nhiêu ngang trái để gán cho người thiếu-nữ bà vừa thoáng thấy.
   Lòng bà thắt lại; cảnh đọa đầy của thiếu-nữ khiến bà liên-tưởng đến con bà. Sắc mặt võ vàng nhập vào mầu hồng nhạt của áo, ăn với mầu hòm da đen hẳn phải là mầu “ly-cách” nó gợi lên ở trong trí bà một cái gì tang-thương. Bà không ngờ gì nữa. Bà nhíu mày lại, đi chậm hơn, chậm cái bước chân lảo đảo cũng như lòng…
   Cả thiên-hạ rộn-ràng trước cửa chợ Đồng-Xuân. Người ta sô đẩy, người ta chen chúc trước một trời hoa. Tiếng người mua, tiếng người bán huyên-náo vô cùng. Xa trông, đám đông này dâng lên đủ mầu sắc. Mầu quần áo, mầu hoa, mầu cây đập vào mắt như một bức tranh đậm nét.
   Bà cả Bình đi mua hoa, cốt ý chờ đến chiều ba mươi mới đi là để mong được rẻ, nhưng bấy giờ cả hoa, cả sự đắt rẻ, bà cũng không còn “hồn vía” nào nghĩ đến nữa. Tuy thế cái thói quen, cái thói quen ghê-gớm nó trói buộc những kiếp người cũng đưa bà đến trước một bàn thủy-tiên. Rồi thì cái bản-ngã thứ hai ấy lại buộc bà phải ngắm nghía trong khi thần-trí bà đang chạy đến những chân trời thê-thảm tận đâu đâu… Cả bàn thủy-tiên chỉ có một đài là trông được, trông được gọi là thôi. Rễ tuy nuột, nhưng hoa không tề-thoát lắm; dò cái cao, cái thấp và nhất là lá lại chẳng có hình võ-kiếm giao nhau.
   Bà chăm chú nhìn nhánh thủy-tiên, rồi thở nhẹ. Trong hơi hở, có một cái gì như oán tiếc và cũng có một cái gì như âm ấm nó lôi bà về những ký-ức xưa. Phải rồi, trong nhành thủy-tiên xanh dờn, bà vừa thấy bàn tay trắng nuột của đứa con, đứa con vì biết bà thích chơi hoa thủy-tiên, yêu hoa thủy-tiên mà cố công học cho kỳ được cách gọt tỉa.
   Bà nhớ lại những buổi sáng mùa đông rét cắt ruột, con bà dậy từ mờ mờ sáng chẳng quản giá lạnh, chẳng quản nhọc nhằn, thục tay vào bầu nước buốt, châu chia những dò thủy-tiên để đem dâng bà. Bà nhớ lại có nhiều đêm đang ngủ, con bà vùng giậy đem thủy-tiên phơi sương vì sợ để ở trong nhà ấm, hoa chóng trổ, nở sớm ngày. Bà nhớ lại những buổi tối ba mươi, con bà ngồi khắc-khoải nhìn ngắm và mong muốn cho những dò hoa nở đúng ngày mùng một.   Bà không bao giờ quên được cái giọng nũng nịu của con bà:
   - Điềm lành rồi, hoa nở đúng mùng một! mợ thưởng cho con đi, năm nay thì mợ buôn bán phải phát tài.
   Những kỷ-niệm ấm áp ấy làm cho bà cả Bình nhủn lòng, nhủn lòng vì cái hình bóng tiều tụy một thiếu-nữ mặc phong phanh chiếc áo mầu hồng đã chạy qua đấy với tất cả những viễn tưởng hãi-hùng của ngày mai nó có thể đến với con gái bà.
   Nhủn lòng, vì nó mới đem lại cho thân-trí bà một so sánh làm héo ruột những bà mẹ, dù sao vẫn chỉ là những “người mẹ”, sẵn chứa bên trong một mối thương không bờ bến đối với cái “thịt sương” của thịt sương mình.
   Thân-hình điêu-linh, nét mặt võ-vàng của cô thiếu-nữ biết đâu đã chẳng là cái thân-hình điêu-linh, nét mặt võ-vàng của con bà? Đứa bé lạc đàn, đứa con lạc mẹ đã đến nỗi nào rồi chưa?
   Rất có thể lắm! Vì đã bơ vơ trong bể trầm-luân thì con thuyền nào chẳng là con thuyền mỏng mệnh! Càng mỏng mệnh lắm khi con thuyền ấy lại là con thuyền ghép bởi mười chín cái xuân tươi trẻ và thơ-ngây.
   Tấm lòng người mẹ một phen bị oán-hờn đè ngã, vùng trở giậy, mạnh mẽ hơn xưa. Những câu hỏi hãi-hùng mọc tua tủa trong đầu bà cả Bình: giờ này, nó ở đâu, với ai? Tết này, nó có tiền ăn tết không? Giời rét cắt da này, nó có đủ áo mặc không? Hay là nó lại chỉ cũng phong phanh một chiếc áo mầu hồng mỏng mẻo như ai? Nó sướng hay nó khổ? Nó no hay nó đói? Nó khỏe hay nó ốm? Nó còn má hồng,mắt sáng không? Hay là, hay là mầu “chết” của đoạn-trường, mầu xám sịt của tang thương, màu võ vàng của bệnh tật đã nhuốm cả mặt mày và lòng ruột nó rồi!
   Và tết này, gian buồng nó ở có được một đóa thủy-tiên không? Trời ơi! Nếu không thì hoa lòng nó hẳn là phải tan-tác, hồn nó hẳn là phải rụng rời! Bao nhiêu ức-đoán về cô Hợi như muôn lưỡi kim dật xé lòng bà.
   Muốn được an ủi, an ủi ngay bà vùng đi “tìm” tình cảnh con trong những bức thư. Bà mua vội mấy đài thủy-tiên, rồi đi xe thẳng về nhà đem thư ra đọc, đọc với tất cả một tấm lòng người mẹ.
   Thôi, không còn ngờ gì nữa! Chữ trên giấy nét không xóng, lời không tĩnh. Bức thư nào cũng biểu-lộ một tinh thần bối rối, và tất cả tố-cáo một hoàn-cảnh nếu chưa hẳn ba-đào thì cũng sắp phải điêu-linh. Giấy lại là giấy tồi, phong bì có khi là những tờ giấy gập lại, mà con bà thì xưa nay ưa dùng những thứ hảo hạng mầu vàng lạt. Cái mầu, cái mầu ở đây là cái mầu trắng lạnh-lẽo và nhạt phèo cũa nhửng tờ giấy học trò khổ. Nhìn kỹ các bức thư bà thấy có nhiều chỗ hoen! Thôi, đúng rồi ngấn nước mắt! Con bà đã nhiếu lần khóc. Có lẽ nó khóc vì nhớ thương mẹ, nhớ thương các em, có lẽ nó cũng khóc vì… thiếu-thốn, khổ sở, nhưng chắc chắn là đang khóc vì đau đớn.
   Thôi thế là trong cái buổi chiều ba mươi tết nó dần đi đến sự xum họp ríu rít của buổi giao-thừa, bà thấy không thể giận con được nữa. Như thế là nó cũng đã bị đầy-ải nhiều lắm rồi! Bà thấy cần phải dằng lại đứa con mà tội lỗi đã quẳng nó ra một nơi xa lạ và đầy nó ở đấy cho đến héo hắt. Nếu bà không cứu, con bà sẽ chết, chết ở một ngả đường hay một buồng nhà thương sau khi đã phải chịu tất cả những cảnh đọa-đầy trên trái đất.
   Chao ôi, những đứa con không mẹ, không có cái lòng thương của mẹ thì đứa nào là chẳng có thể bị số-mệnh tàn-khốc đầy-ải. Không có cái lòng thương của mẹ, che chở và đùm bọc, có con gái nào mà chẳng có thể bị tình-thế du đến con đường gió thốc cất lầm.
   Một chân-lý tưng bừng vùng đến với bà cả Bình cùng với tiếng pháo lác-đác của phố-phường: Từ mẹ đến con, từ gần gụi đến xa lìa, chỉ ngăn cách… có đôi giòng nước mà bao giờ, bao giờ lòng yêu cũng có thể là dịp cầu bắc ngang cho kẻ bắc, người đoài. Cầu càng chóng bắc thì kẻ bắc, người đoài càng chóng gập nhau.
   Thì vẫn bảo lòng mẹ là lòng giời. Lòng giời ở cả mọi nơi, ruộng dâu cũng như biển cả, gác tía cũng như bùn lầy. Bà, bà là mẹ mà bà không tha thứ cho con được, thì ở trên đời này, còn ai tha thứ cho con bà nữa: đứa con, đứa con tội lỗi trước mắt bà lúc ấy chỉ còn là đứa con đáng thương.
   Bà thấy bà không còn e ngại sợ hãi gì lời mỉa mai của thiên-hạ nữa, cái thiên-hạ nông lòng và độc miệng chỉ biết trừng-trị một tội ác xỉ vả một sa-ngã mà không biết an ủi một hối quá, nâng đỡ một lỗi lầm. Bà, bà là mẹ đẻ con rứt ruột ra mà bà không nâng đỡ an ủi con bà thì còn chờ ai nâng đỡ, an ủi nữa. Giời sinh ra nhưng vết thương của những đứa con là để cho những bàn tay hàn dịt của những người mẹ.
   Đứa con là chúng sinh, mẹ là đức phật cứu khổ cứu nạn. Lòng mẹ là lòng giời! Lòng mẹ là phép mầu! Phải rồi. Có cái suối nước mắt nào không phải ngừng chẩy khi bàn tay của mẹ đụng vào. Có mối đau thương nào mà không phải tiêu tan trước cái hơi thở nóng hổi của mẹ.
   Trước cảnh dộn dịp tưng-bừng của một chuỗi ngày sắp chết, bà cả Bình thấy sống, sống một nguồn thương không bờ không bến, trong một buổi chiều tà đầy tang-tóc, bà thấy sáng, sáng một ngời yêu muôn trượng.
   Bây giờ, từ bây giờ thì con gái bà không còn phải sợ gì nữa, nó có thể ngạo nghễ với chẳng may, bởi bà đã bọc nó trong bao từng giáp sát của yêu đương. Bà phải bắc, phải bắc ngay một dịp cầu để cho đứa con lạc-loài kia trở về với bà, trở về với yêu đương của gia-đình. Từ nay thì tha hồ, mưa cứ xa đi, nước cứ cuốn đi, gió cứ rít đi, sét cứ giáng đi, cầu kia đã được xây trên những nền tảng vô cùng bền vững của lòng mẹ.

ĐỖ THIÊN THƯ st.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 06.02.2015.