Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




BA MẨU CHUYỆN VỀ VĂN HÓA NGA




QUẢ CỦA QUỶ SA–TĂNG”


Hình như món ăn Nga nào cũng làm từ khoai tây hoặc điểm xuyết khoai tây vậy! Mà quả có thế thì phải. Đối với người Nga khoai tây được coi như thứ bánh mì thứ hai. Bữa ăn của người Nga không thể thiếu khoai tây. Trong những năm chiến tranh vệ quốc gian khổ có nhiều nơi người Nga sống qua được chỉ nhờ vào khoai tây. Anh mugich Nga uống rượu vôtka có được vài củ khoai tây luộc để cả vỏ trong tiếng Nga được gọi bằng thành ngữ “khoai tây mặc chế phục” là hoàn toàn hả hê. Ở nông thôn Nga, nhà người dân nào chẳng có một hầm cất khoai tây để ăn quanh năm ngày tháng. Bếp ăn Nga có tới 80 món làm từ khoai tây.

Ngay ở thế kỷ XVIII, báo chí Nga cũng đã từng ca tụng khoai tây, thậm chí ca tụng đến quá mức. Nào là đó là thứ hoa trang trí, đó là thuốc lá nhồi tẩu, nào là khoai tây có thể chữa bệnh, cũng là chất độc diệt trừ côn trùng, là thứ thuốc tẩy sạch các vết bẩn, là phân bón tổng hợp, là thực phẩm làm ra cả bánh mì, bột lọc, dầu ăn, rượu, cà phê, bột nở, cacao…
Vậy mà thực ra khoai tây mới chỉ được đưa đến nước Nga trước đó không bao lâu: Đại đế Pyotr Đệ nhất mới đưa khoai tây từ Hà Lan về Nga vào cuối thế kỷ XVII. Và trước khi chiếm được vị trí xứng đáng trong ẩm thực Nga, khoai tây đã phải trải qua một giai đoạn chống trả quyết liệt của những kẻ bảo thủ ngay trong giới quý tộc Nga.
Lệnh Sa hoàng bắt dân chúng phải trồng khoai tây, ăn khoai tây… Nhưng có kẻ lại loan truyền câu chuyện hoang đường: cụm khoai tây đầu tiên đã mọc lên từ nấm mộ của một mụ dâm đãng, trụy lạc con ngoài giá thú của ông vua Mamersơ nào đó.
Theo sự xúi giục của quỷ sa-tăng mụ đã sống một cuộc đời tội lỗi sa đọa. Vì thế kẻ nào ăn thứ “quả của quỷ sa-tăng”, chết đi sẽ phải xuống địa ngục. Đã có người hoang mang sợ hãi, hủy bỏ cả những ruộng khoai tây bắt đầu lên xanh tốt trên cánh đồng đất đen Nga mầu mỡ… Song nhờ ý chí kiên quyết của vị Sa hoàng sáng suốt tài ba Pyotr vĩ đại, nhờ vào sức sống và phát triển mạnh mẽ của giống cây của mới tuyệt diệu- khoai tây, cũng như thực tế khoai tây đã cứu sống bao nhiêu con người không chỉ qua một vụ thiên tai, địch họa…Khoai tây đã được công nhận là thứ bánh mì thứ hai của người Nga.


MÓN ĂN NGA
ĐÃ CỨU THOÁT CẢ MỘT THÀNH TRÌ


Nga, cuối một bữa ăn người ta thường được mời một thứ tráng miệng. Một thứ nước quanh quánh, mầu hồng, có vị ngọt ngọt-chua chua, được gọi là “ki-xen”. Đó là nước bột quả, thứ bột quả đông lạnh, được nấu từ nước quả rừng hoặc quả vườn, pha thêm tinh bột.

Bên cạnh cái nghĩa đen chỉ món ấy, từ “ki-xen” còn có hai nghĩa khác nữa: nào chỉ thứ đất bùn nhão nhoét, nào chỉ con người không có nghị lực, ẽo ợt… Đọc sách báo Nga ta thường gặp nhiều thành ngữ rất thú vị có cái từ “ki-xen” đi kèm. Chẳng hạn, “nước thứ bảy tráng ki-xen”- chỉ họ hàng xa lắc xa lơ, bắn đại bác không tới. Trong một tiểu thuyết lịch sử Emilian Pugachev nhà văn Siskốp có đoạn tả: Khách khứa đuổi theo nhau… người nọ trắng trợn cho kẻ kia một cú “ki-xen” - ở đây ý nói một cú thúc đầu gối vào sau lưng. Trong truyện dài Step – (Thảo nguyên) nhà văn Tsekhốp lại có câu “Dù sao đi nữa anh đi cũng vô ích, chỉ là húp “ki-xen” cách bảy dặm đường. Trong các chuyện cổ tích Nga, nếu để ý, ta lại thường gặp thành ngữ “những dòng sông sữa giữa các dải bờ “ki-xen” - chỉ cuộc sống sung túc, phóng khoáng. Cả trong tác phẩm văn học sáng tác ta cũng gặp thành ngữ ấy, chẳng hạn trong tiểu thuyết Trên dãy Thiên Sơn của nhà văn Xôkôlôv Mikitôv có câu: Những con người không có mẩu đất, đói khổ bị hấp dẫn bởi niềm mơ ước về những dòng sông sữa và những dải bờ “ki-xen”…
Còn có thể kể ra rất nhiều thành ngữ Nga lý thú khác và đều gắn với từ ki-xen đã xẩy ra trong lịch sử nước Nga.
Nghìn năm về trước, nước Nga còn bé nhỏ bị bao vây tứ phía bởi những bộ lạc thù địch hung dữ, luôn xông đến cướp nhà. Trong số đó có bộ tộc Petsenhighi, ở ngay bên kia sông Volga. Vào thế kỷ thứ VIII-IX, dân Pesenhighi luôn luôn mở các cuộc tấn công cướp phá làng mạc, thị thành của Nga.
Một lần, dân Petsenhighi đã kéo quân đến định đánh chiếm thành Belôgôrốt – một thành phố pháo đài ở miền Nam nước Nga gần kinh thành Kiev. Vì không xông được vào thành, quân Petsenhighi hạ trại dưới chân thành, mở cuộc vây hãm lâu dài. Chúng cứ ở lì đó cho tới khi dân trong thành bắt đầu lâm vào cảnh đói khát.
Bấy giờ quân dân thành phố Bolôgôrốt phải tụ tập lại ở quảng trường thành phố để thảo luận tìm cách thoát khỏi thảm cảnh của mình. Có người nói: mở cổng thành, nhất loạt xông ra quyết sống chết với quân thù một trận. Có người đã đề nghị: Thà cam chịu bó tay đầu hàng! Chỉ có một cụ già lên tiếng: “Cần phải làm món ki-xen mời đại diện bên địch vào thành nếm thử…”
Không phải nhiều người hiểu được thâm ý cụ già. Nhưng trong tình thế tuyệt vọng thà làm một việc gì đó còn hơn không. Theo lệnh cụ già cánh đàn ông bắt tay vào đào hai hố sâu như hai cái giếng ngay trên quảng trường. Sau đó họ thả hai thùng gỗ lớn xuống đáy giếng. Trong khi đó những người vợ của họ đi khắp mọi nơi trong thành thu thập số lúa mạch và cám xay còn lại, cùng hai thùng to tướng mật ong.
Lúa mạch được nghiền với cám xay thành bột, nhào với nước thành một thứ nước bột lõng bõng, đổ xuống một hố giếng. Thùng gỗ thứ hai ở đáy giếng bên được đổ đầy nước hòa mật ong. Khi mọi thứ được chuẩn bị xong, phía quân vây thành được mời cử người vào.
Cụ già bảo với bọn lính Petsenhighi: “Các người tự hành hạ bản thân mình dưới chân thành mà làm gì. Uổng công vô ích thôi! Cứ việc ở đấy hàng chục năm cũng chẳng làm gì nổi bọn ta đâu. Bởi vì chúng ta có nguồn sống ngay từ trong lòng đất. Các người không tin thì đây, tự mắt các người sẽ nhìn thấy”
Nói rồi, dân Belôgôrốt đưa bọn lính Petsenhighi đến bên hai bờ giếng. Họ thả gầu múc hai thứ chất lỏng lên đem nấu thành món có tên là ki-xen. Họ chia nhau ăn và cho bọn lính Petsenhighi cùng nếm thử. Sau đó họ biếu cho chúng một bình lớn đem về cho thủ lĩnh của chúng và bảo kể lại cho thủ lĩnh nghe về những nguồn sống từ lòng đất mà tận mắt chúng đã nhìn thấy…
Bọn vương hầu cầm đầu quân Petsenhighi sau khi nếm món ki-xen liền hạ lệnh lui quân, mở vòng vây. Bởi vì một thành trì kiên cố lại có nguồn sống “trời cho” như thế, thì quả thực có thể trụ vững không biết đến bao giờ…
Cái món ki-xen đã cứu thoát cả một thành trì như vậy đó. Sau sự kiện này, năm 1036, quân Nga đã phản công và đánh cho Petsenhighi đại bại. Thành Belôgôrốt trụ vững và còn tồn tại trên mảnh đất xưa mãi đến tận hôm nay…


XAMÔVA
KIỂU UỐNG TRÀ NGA


Lần đầu tiên tôi được thấy cảnh uống trà Nga và cái ấm xamôva là trên màn ảnh: ở bộ phim về thời thơ ấu của nhà văn Nga Macxim Gorki. Gia đình ông bà chú bé Aliôsa, thương gia ở thành phố Nijơni Nôvôgôrốt trên bờ sông Volga, tối tối quây quần bên bàn trà. Giữa bàn đặt một chiếc bình kim loại sáng loáng hình ống (Sau này tôi còn thấy xamôva có đủ các hình dáng khác nhau: hình bầu dục dưa hấu đặt đứng, hình tròn như trái bóng, hình lục lăng, hình bát giác dưới thắt trên phình…) có vòi mở nước, có ba chân quỳ, hình trụ có đế tròn như cái đĩa con úp ngược hay biến dạng như cái chân vịt hoặc chân gà… Ngồi vào bàn, mỗi người tự mở vòi hứng nước sôi ra cái tách to đặt trên đĩa, rồi nhấc cái ấm bằng sứ để trên đỉnh nắp bình kim loại xuống, rót trà pha vào tách nước sôi. Người người bưng tách của mình lên uống, vừa uống vừa hả hê thổi phù phù, nhấm nháp cục đường, bánh mì vòng.

Cái ấm sứ đựng trà đặc, tiếng Nga gọi là zavarca (nước cốt để pha), còn cái bình kim loại đun nước sôi bằng than nhồi trong ống rỗng giữa lòng bình ta gọi là ấm xamôva (ấm tự đun). Kiểu pha trà như thế khác hẳn kiểu pha trà chúng ta vẫn quen và hình như chỉ có ở Nga.
Ấm xamôva có ở Nga từ bao giờ? Nghe nói xamôva đầu tiên xuất hiện ở Nga là vào cuối thế kỷ XVIII. Đến nay còn giữ được rất ít tư liệu về nó. Chỉ biết rằng vào khoảng thời gian này ở thành phố Tula đã ra đời một xưởng sản xuất như vậy, và đến giữa thế kỷ XIX thì đã có tới 30 xưởng tương tự.
Chiếc ấm xamôva bắt đầu đi cả vào văn thơ Nga: trong tiểu thuyết bằng thơ Epgheni Oneghin của A.Puskin, trong truyện của N.Gôgôl, vv… chẳng hạn mấy câu thơ dưới đây của Puskin:
Trời xẩm tối, trên chiếc bàn quen thuộc
Xamôva đang sôi réo hiền lành
Để hâm nóng chiếc bình trà Trung Quốc
Xamôva được phổ biến rất nhanh ở khắp nước Nga. Các xưởng sản xuất ra xamôva thi nhau mọc lên không chỉ ở Tula, mà cả ở nhiều nơi khác: Matxcơva, Vladimia, Permx, Laroxla, vv... Nhưng về quy mô cũng như tài nghệ trong nghề này khắp nơi đều chịu thua Tula. Trên các sản phẩm hầu như bao giờ cũng có nhãn của xưởng sản xuất và họ tên người chủ xưởng, chứ không phải họ tên của các nghệ nhân. Chỉ họa hoằn lắm trên một đôi chiếc xamôva riêng biệt mới có tên của họ.
Thường xuyên có thể thấy trên các ấm xamôva họ tên nhà Batasev. Họ này nối tiếp nhau cả một triều đại chủ xưởng. Ngoài ra còn có những họ tên nổi tiếng khác: Vanưkin, Fedurkin, Rudacov, Vorontxov, Remov. Họ đều là chủ các xưởng sản xuất xamôva, ở đó để lại các mẫu hàng tuyệt vời. Nhưng sản phẩm của họ Batasev đã nhận được nhiều huy chương ở các cuộc triển lãm hội chợ khác nhau tổ chức ở nước Nga cũng như ở nước ngoài. Họ nhà Batasev còn cung cấp xamôva cho cả hoàng tộc sa hoàng Nga.
Triều đại” Batasev kéo dài suốt từ năm 1825 đến năm 1916. Sau đó cơn sốt xamôva bắt đầu lắng xuống. Tuy nhiên, xamôva vẫn không biến mất, người Nga còn lâu mới thôi uống trà từ ấm xamôva. Việc uống trà với ấm xamôva vẫn là tập quán trong các gia đình Nga. Tuy nhiên cuộc sống trở nên bận rộn, hối hả, thói quen thư thái, không khí ấm áp quanh ấm trà xamôva của mỗi gia đình Nga trở nên thưa lạt…
Giờ đây uống trà với cái ấm xamôva đã trở thành “công nghiệp hóa”. Xamôva không đun bằng than nữa mà được đun bằng phích cắm điện. Chiếc ấm xamôva được sản xuất hàng loạt bằng máy móc, ít dáng vẻ độc đáo. Những chiếc xamôva lạ mắt một chút cũng được sản xuất hàng loạt nhưng chủ yếu dùng làm hàng lưu niệm, làm quà biếu, quà tặng, bầy chơi…

Trích: Chuyện kể về Văn hóa Nga,
viết dựa các tư liệu trên báo chí Nga cũ

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 31.1.2015.

Quay Lên Đầu Trang