Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




ĐƯỜNG TRƯỜNG KÝ SỰ (2)




       QUA ĐẤT QUẢNG BÌNH


Xe đi tiếp vào Nam , nhưng không đi qua đỉnh Đèo Ngang mà chui theo đường hầm. Ra khỏi đường hầm nhìn quang cảnh chỉ thấy vài câu lúp xúp, không có gì đẹp như câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan đã mô tả

Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đá bên sông chợ mấy nhà.

Về câu “chợ mấy nhà” anh em cũng đã cãi nhau,phân tích . Có người nói có lẽ văn bản xưa viết là “Rợ mấy nhà” nhưng sau tam sao thất bản, người sau viết là Chợ, chứ cái hồi Bà đi qua đây địa phương này làm gì có chợ, xchir có người địa phương mà ta thường gọi là Rợ. Riêng ở Nghệ An ông PGS Ninh Viết Giao –một nhà nghiên cứu văn hóa đã viết rõ:
Lom khom dưới núi tiều vài chú.
Lác đác bên sông “rợ” mấy nhà.
(trích Đôi nét về Câu Đối xứ Nghệ)

        Bên kia sông Gianh là đất Quảng Trạch thuộc Quảng Bình. Hai bên đường màu xanh cây lá nhiều hơn màu tường vôi nhà mới, Chợ Quảng Phú là một chợ mới xây trong một quãng đất rộng, có tường xây bảo vệ. Bên cạnh chợ là một dòng sông chảy qua, Canh trên bến dưới thuyền tấp nập.
        Đi qua cầu Sông Gianh, là cây cầu nối hai huyện Quảng Trach với Bố Trạch, khởi công 17/5/1995 và hoàn thành vào tháng 11/1888 Ngày xưa một thời Sông Gianh đã là con sông chia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh.

       Trong thế kỷ XX có bài thơ viết rằng :

Đây sông Gianh, đây biên cương thống khổ
Nơi con Rồng tàn sát giống Lạc Hồng
Nơi máu hồng nhuộm đỏ khắp giòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch

       Ngày nay cầu nối qua sông Giang có 9 nhịp, mặt cầu rộng 8 mét đủ cho 2 làn xe đi qua, Hai bên có đường cho người đi bộ rộng 1,5m. Những người thợ cầu Thăng Long đã áp dụng kỹ thuật móng khoan nhồi có đường kính lớn. Trong thời gian làm cầu, không ai quên được cảnh khi chiếc dầm đầu tiên được đặt trên cầu, có nhiều người dân ở hai bên vệ sông lập hương án cầu nguyện các hồn oan chết ở sông này từ 300 năm về trước quên đi mối hận thù chia cắt, cùng phù hộ cho công việc lắp cầu nối đôi bờ nhanh chóng hoàn thành, .
        Đi qua cầu Sông Gianh là đến vùng Bảo Ninh “chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình” nhìn qua dặng phi lao thấy sóng biển ngoài khơi đang vỗ bọt. Gió Đông Bắc đã về, mưa vẫn rơi từ lúc qua Đèo Ngang vào đây. Đã là buổi chiều, Xe dừng lại cho khách nghỉ tại nghỉ tại Cô sê vô Đồng Hới.
       Tôi nghỉ lại ở Đồng Hới, một đêm ấm êm bên dòng Nhật Lệ mà nhớ lại năm 1982 xe tôi từ trong Nam qua đây. Đường phố nham nhở vết bom, hai bên đường không có ánh đèn nhà dân. Đêm đó, xe tôi mò đường mà đi, nào ai đã biết Đồng Hới ra răng ? Bây giờ Đồng Hới đã là một thành phố, đường sá mở rộng, ánh đèn chiếu suốt đêm soi con đường, soi cầu Nhật Lệ và soi sáng bức tượng Bà Mẹ Suốt. Bà đã về chầu tiên tổ từ lâu nhưng trên bờ sông vẫn còn đó bức tượng Mẹ khoác vải dù, cầm mái chèo, vượt sóng đưa bộ đội qua sông.
        Buổi tối, đôi trẻ đi qua, đôi trẻ ngôi bên tượng mẹ mà tâm sự, nhưng có ai biết Mẹ Suốt đau đáu nỗi thương con “chin lần đẻ sáu lần sa tội tình”
       Hôm sau, từ biệt CỐ SÊ VÔ đi về phía Nam, khách sạn tiễn chúng tôi bằng một bữa búp phê tự chọn tiễn khách. Hiệp mang đến cho tôi một gói xôi lúa với lời mời rất êm : Ăn một chút quà quê em, anh nhé.
        Em mời như vậy ai mà cưỡng được Và tôi cũng lấy lời mời của em làm tứ thơ đề mở đầu cho bài thơ nhỏ :

Ăn một chút quà quê anh nhé
Món xôi ngô dân dã Quảng Bình
Một lời mời Một ánh mắt dịu xinh
Ai cưỡng được tình em trao lúc đó.

          Xe đi qua Quảng Bình quan, đi qua cửa thành năm xưa lại nhớ Nguyễn Hoàng đi qua đây vào trấn thủ Thuận Hóa mở cõi về phía Nam
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
( Thơ của Huỳnh Văn Nghệ)

Từ Hồ Xá trở vào đã xuất hiện bên đường các cổng làng. Những cổng làng ở đây khác với cổng làng ở Hà Tĩnh. Bên Hà Tĩnh cổng làng đề “Làng Văn hóa Kỳ Ninh” nhưng bên Quảng Bình chỉ đề ba chữ “ Làng Vĩnh Mốc” . Nếu bên Hà Tĩnh mái kết cấu là hai mái, thì bên Quảng Bình kết cấu có hoa văn

Đã đến Gio Linh thuộc đất Quảng Trị, vùng đất đói khổ trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, ở đây nhạc sĩ Phạm Duy đã sáng tác bài “Bà mẹ Gio Linh” , người già còn nhớ câu hát :

Mẹ già cuốc đất trồng khoai
Nuôi con đánh giặc đêm ngày
Cho dù áo rách sờn vai
Cơm ăn bát vơi bát đầy.

Bây giờ hơn 60 năm đã qua, Phạm Duy sau thời gian lênh đênh ở nước ngoài đã trở về quê hương, bài hát Bà Mẹ Gio Linh lại vang trên sóng phát thanh.



       QUẢNG TRỊ MÁU VÀ HOA

Đã đến Đông Hà, vùng giải phóng cũ của Chính phủ Cách Mạng lâm thời Miền Nam Việt Mam . Đã ai từng biết Khe Sanh, Dốc Miếu, Hàng rào điện tử Mắc Namara chắc biết đây là vùng chiến sự ác liệt.
Bây giờ Đông Hà là một thị xã buôn bán , dấu vết chiến tranh không còn nữa, hàng ngàn ngôi mộ liệt sĩ đã quy tụ vào Nghĩa Trang, nhưng còn đó là nỗi đau của mẹ, của vợ đi tìm hài cốt người thân qua nhiều nơi mong nhiều năm mà không thấy.
Đi qua cầu Thạch Hãn theo đường 1A vào thị xã, đến phố Hai Bà Trưng rẽ trái qua các phố Quang Trung, phố Trần Hưng Đạo là tới Thành Cổ Quảng Trị
Thành cổ Quảng Trị được vua Gia Long cho xây đắp năm 1802 tại phường Tiền Kiên thành phố Đăng Xương (Triệu Giang-Triệu Phong ngày nay) Đến năm Gia Long thứ 8 (1809) dời dinh lỵ đến xã Thạch Hãn . Nguyên gốc thành đăp bằng đất theo kiều Vauban, mãi đến năm Minh Mạng thứ 18 (1837) mới xây bằng gạch.
Năm 1885 vua Hàm Nghi trên đường ra Cam Lộ cũng ghé lại đây kêu gọi mọi tầng lớp cùng đứng lên chống Pháp,
Vùng đất Quảng Trị năm 1972 được xem là chiến trường khốc liệt nhất, Trong chiến dịch 1972, Quân Giải phóng đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị lúc 18 giờ ngày 1/5/1972. Những ngày sau đó Mỹ Ngụy huy động tối đa quân lực, mở cuộc hành quân Lam Sơn 72 để tái chiếm Quảng Trị,
Lúc này Bộ Tư lệnh chiến dịch Trị Thiên năm 1972 do thiếu tướng Lê Trọng Tấn Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, thiếu tướng Lê Quang Đạo Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị làm Chính ủy, Thượng tướng Văn Tiến Dũng ủy viên Bộ Chính trị Tổng Tham mưu trưởng được cử làm đại diện Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo.
Cuộc chiến đấu giành giật giữa ta và địch kéo dài 81 ngày đêm từ ngày 28/6 đến 16/9/1972 . Ta đã điều vào chiến trường 6 sư đoàn và đều bị tổn thất nặng nề . Các sư đoàn đó là F320, F308, F325, F304 và các đơn vị pháo binh, xe tăng, địa phương quân, du kích phối hợp. Cuộc chiến đấu gay go ác liệt đến mức không còn một viên gạch nào nguyên vẹn Sau năm 1975, để giữ lại một di tích kháng chiến anh hùng ta cho xây lại Cổng Tiền Thành cổ Quảng Trị, mở đường dò mìn, bom còn sót trong thành cổ, xây đài tưởng niệm, nhà bảo tàng để tiếp đón người đến viếng thăm
Nơi đây trong cuộc chiến tranh 1972 đã có rất nhiều chiến sĩ hy sinh khi vượt sông Thạch Hãn Đã có câu nói :
         - Ai đến Đông Hà, có khỏa chân xuống nước sông xin hãy nhẹ nhàng bởi đáy sông còn nhiều xương chiến sĩ Bắc Kỳ chìm dưới đó.
    Về đến Vĩnh Linh trời vẫn mưa nhỏ. Gió Đông Bắc thổi mạnh. Người dân mặc áo mưa, co ro đi trên đường.
         - Từ Hồ Xá trở vào, có nhiều Cổng làng, nhưng dân không đề tên theo công thức “Làng Văn hóa A” mà chỉ đề tên làng Cổng làng có trang trí hoa văn,
Đến thị xã Đông Hà, nơi đây hồi 1982 tôi đi qua còn thấy bạt ngàn mồ các chiến sĩ tử trận
          Nơi đây, năm xưa Lê Quý Đôn viết vào Phủ Biên tạp lục có câu
                                                             sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ đa dâm
          Đây cũng là nơi Nguyễn Hoàng vào đất Ái Tử, khai phá rừng rậm


       VIẾNG LIỆT SĨ NƠI THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ

          Chúng tôi tìm đến Thành Cổ Quảng Trị. Khi đi qua cửa thành ai cũng có một cảm giác lạnh người bơi sự mênh mông vắng lặng. Một khuôn viên lớn xanh rì ngọn cỏ, mà dưới từng ngọn cỏ đó đều có máu xương những người con đất Việt. Đến đây nghe chuyện dân tôi được biết : trong cuộc chiến tranh vừa qua, những sắc lính ngụy cũng được huy động vào chiến cuộc, và binh sĩ quân lực VNCH chết cũng nhiều, nhưng bộ máy hậu cần của Mỹ làm công tác tử sĩ gọn gàng lắm Trước khi ra trận mỗi người lính cộng hòa đều đeo hai cái lắc : ở tay và ở cổ.
         Trên lắc có dập số tên người lính và đơn vị phụ thuộc , do đó vào trận, chẳng may bị thương vong, bộ phận hậu cần thu lại cái lắc mang về , theo đó mà làm tử tuất nên gia đình binh sĩ biết tin nhanh lắm
          Bộ đội ta khi vào trận, chẳng may hy sinh, tên họ viết vào mảnh giấy, nhét trong một cái lọ penicillin chôn cùng liệt sĩ. Lâu ngày nước ngấm thế là mất tên, liệt sĩ trở thành vô danh
         Trước mặt mọi người là một đài tưởng niệm, bên tay phải là Bảo tàng Thành Cổ, ngoài ra không có gì nổi lên mặt thảm cỏ. Đoàn khách từ Hà Nội vào xếp hàng nghe người chiến sĩ Quân Giải Phóng mặc đủ quân phục, mũ tai bèo trịnh trọng nói
           Kính thưa hương hồn các liệt sĩ
           Kính thưa các đồng chí
          Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta, mặt trận tại Thành Cổ Quảng Trị đã đi vào licjk sử dân tộc bằng những trang vàng sáng ngời chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. Suốt 81 ngày đêm trong năn 1972 chiến đấu kiên cường bảo vệ Thành Cổ tại thị xã Quảng Trị, quân và dân ta đã góp thêm thắng lợi trên bàn Hội nghị Paris, tạo đà cho cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
         Trong cuộc chiến đấu 81 ngày đêm khốc liệt ấy hàng ngàn chiến sĩ Quân Giải Phóng trên khắp cả nước và đồng bào Quảng Trị đã chiến đấu, anh dũng hy sinh nằm lại vĩnh viễn trên mảnh đất này. Máu của các anh đã thấm vào lòng đất cho non sông đất nước có Ngày Độc Lập, nhân dân được ấm no hạnh phúc.
         Với lòng biết ơn vô hạn, trong giờ phút trang nghiêm và xúc động này, xin kính mời Đoàn Khách dành phút tưởng niêm thiêng liêng , kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ các anh hung liệt sĩ đã chiến đấu hy sinh vì Tổ Quốc
Phút mặc niệm bắt đàu
          Không có nhạc Hồn Tử Sĩ như các nơi, mà ở đây dưới trời mưa lâm thâm giữa bãi cỏ xanh rờn , người chiến sĩ Quân Giải Phóng đánh lên ba tiếng cồng chiêu hồn.
Từng tiếng cồng vang lên, âm trầm bay là là trên các ngọn cỏ như một người đang đi tìm nhau mà gọi nhau về. Cỏ xanh nhờ mưa mà xanh hay nhờ xương máu liệt sĩ mà xanh ? Nào ai biết được. Chỉ biết rằng nhiều năm qua, từ khi dứt tiếng súng, không ai dám đặt chân lên cỏ vì e sợ dẫm phải xác đồng đội đang nằm dưới đất

Ba tiếng cồng vang , gọi hồn ai
Có gọi được Các Anh về cõi thế.
Nhạc hiệu nổi, Sao lòng đau xót thế.
Ai đón hồn thăm lại chốn quê xưa.

Tám mốt ngày, hơn tám chục lần đưa
Các chiến sĩ vào trong Thành Cổ.
Nhiều xác trai ngâm trong sóng vỗ
Nhiều con người thành liệt sĩ vô danh.

Ai đến bờ sông nhìn sóng nhẹ vỗ bờ
Xin khỏa nhẹ bởi đáy còn di cốt
Lính chúng tôi vốn là người trí thức
Bởi giữ thành nên xếp bút ra đi

Bao lời ca không nói đủ về anh
Những chiến sĩ đã hòa thân trong cỏ.
Đến Thành Cổ xin bước đi nhè nhẹ
Kẻo đau lòng người Mẹ chốn quê hương.

        Sau nghi thức mặc niệm, PGS-TS Đỗ Thị Hảo bước lên trân trọng nhận nén hương rồi cùng cả đoàn khách bước lên Đài Tưởng niêm các Liệt sĩ Thanh Cổ Quảng Trị . Phía biển Đông lại ì ầm sớm chớp. Giữa mùa Đông mà vẫn còn giông gió.. Gió chướng hay là hồn của đồng đội ta còn đó.?
Nơi tưởng niệm hàng ngàn chiến sĩ Quân Giải Phóng và đồng bào Quảng Trị đã ngã xuống trong chiến dịch 81 ngày đêm khốc liệt đánh địch trong mùa hè lịch sử 1972.đã xây trên bãi cỏ xanh Thành Cổ. nơi xảy ra trận đánh ác liệt
Sau khi ta chiếm được Quảng Trị thì từ ngày 28/6 địch tổ chúc tái chiếm, trong suốt 81 ngày đêm. Bằng sức mạnh của bom đạn , địch đã ném xuống khu vực Thành Cổ 328.000 tấn bom do vậy mà hài cốt hàng ngàn liệt sĩ của ta ở đây đã không còn nguyên vẹn
Chính vì vậy, ngay tại Trung tâm của Di tích Thành Cổ Quảng Trị người ta đã dựng lên một đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ.
Đài tưởng niệm này là một ngôi mộ tập thể . Đây là nơi tưởng niệm duy nhất cho các anh hùng liệt sĩ và đồng bào đã ngã xuống trong 81 ngầy đêm ấy.
Các Kiến trúc sư của Bộ Xây dựng phối hợp cùng Sở Văn hóa Thông tin Quảng trị thiết kế Đài theo quan niệm triết lý Phương Đông về sự vận hành của vũ trụ, cũng như các mối quan hệ Âm – Dương, mang một ý nghĩa sâu sắc là nhằm siêu thoát linh hồn cho những người đã khuát.
Kính thưa các vị khách ;
Ngay dưới chân của Đài tưởng niệm này đắp theo hình bát quái , tức là tám quẻ : Càn, Khôn, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn , Đoài.
Con đường dẫn lên tầng hương đăng gọi là Lương nghi Âm Dương gồm hai nửa : nửa đen là Âm, nửa đỏ là Dương, xung quanh có 4 lối lên tương trưng cho Tứ tượng (4 mùa, 4 phương)
Đây cũng là mái đình Việt Nam cách điệu, ngay giữa mái đình này có hình thái cực, theo quan niệm của triết lý Đông phương thì Thái Cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái vận hành làm cho vũ trụ phát triển . Đó cũng là ý nghĩa bất diệt của Đài Tưởng niệm
Ý nghĩa thứ hai là người ta quan niệm trong cuộc sống này âm dương luôn có mối quan hệ math thiết với nhau . Giũa Trời và Đất, Ngày và Đêm, giữa Nam và Nữ , giữa Người Sống và Người Chết, đó là những hình thái của Âm Dương, và Âm Dương không hoàn toàn độc lập . Bao giờ Âm cũng ở trong Dương, và Dương cũng có trong Âm . Âm Dương luôn hòa quyện với nhau và đó là ý nghĩa thiết kế của Tầng Lưỡng Nghi âm dương này, nhằm siêu thoát linh hồn cho các chiến sĩ.
Ngay tại nửa phần Âm các KTS đã cho làm một cây đèn thu linh cao 8,10m tượng trưng cho 81 ngày đêm chiến đấu. Đèn này có màu Đỏ, tượng trưng trong Dương có Âm, Phần Âm này ăn thông xuống lòng đài nơi có trưng bày hành trang của người lính gồm 1 ba lô, 1 cây súng AK , 1 đôi dép cao su và chiếc mũ tai bèo. Những vật đó tượng trưng cho linh hồn người lính. Đồng thời nơi đây cũng là tâm điểm trên trục giao nhau đi về tứ phương. Cho nên nơi đây cũng được coi là nơi hội tụ linh hồn các chiến sĩ về xum họp.
Diểm nối mạch giữa âm và dương người ta đặt một lư hương lớn để mọi người đến nơi đây thắp nén hương cầu nguyện, mong rằng linh hồn của các anh từ cõi âm này sẽ siêu thoát theo cây đèn về cõi vĩnh hằng để thanh thản nơi chin suối.
Xung quanh Đài tưởng niệm còn gắn 81 tờ lịch bằng lá đồng thể hiện 81 ngày đêm chiến đấu của quân và dân ta từ 18-6-1972 đến 16-9 năm 1972.
Rời khỏi Đài Tưởng Niệm, chúng tôi đến thăm Nhà Bảo tàng Thành cổ Quảng trị. Nơi đây có một bức tường thành được phóng to theo ảnh cua Đoàn Công Tính , Dưới chân thành là một đài lễ nhỏ hình ngũ giác (theo hình sao trên lá quốc kỳ) trong lồng kính có một ngọn lửa hồng (bằng điện) cháy suốt ngày đêm
Thăm Thành Cổ, tôi mang theo một tấm ảnh chụp Lửa thiêng ở Đài Liệt sĩ Phường Bưởi năm 2000, trên Bia Liệt sĩ có ghi tên Nguyễn Văn Thạc người sinh viên đại học năm xưa . Thạc sinh ở làng Đông xã, Phường Bưởi, là em anh Thục (mà tôi với Thục thì cùng tuổi, cùng học với nhau thuở nhỏ). Một anh bạn tôi là Hoàng Văn Bắc cho biết : Thạc là sinh viên theo học Đại học Toán, nhung anh đã tòng quân đi chiến đấu. Anh để lại quyển Nhật ký “Sống Mãi tuổi Hai Mươi” trước khi hy sinh ở Thạch Hãn Quảng Trị.
Thăm Bảo tàng Thành Cổ xong, đoàn chúng tôi ra về, Trước khi chia tay, tôi biếu lại Văn phòng Thành Cổ Quảng Trị bài thơ vừa viết tại Thành Cổ và Bức ảnh Lửa thiêng mà tôi đã chụp năm 2000.. Hôm ấy là 19 tháng 1 năm 2007
Nhưng thật không ngờ, hồi 8h28 ngày 24-2- 2007 có điện thoại đường dài từ Quảng Trị gọi đến nhà tôi. Đầu dây bên kia là giọng một người lạ :
       - A lô Anh Ninh hả, Tôi là Nguyễn Xuân Phúc Ủy viên Trung Ương Đảng, đi công tác cùng đồng chí Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng . Chúng tôi có đến viếng Thành cổ Quảng Trị, được xem bức ảnh “Lửa Thiêng” của anh thấy linh thiêng và cảm động lắm
       Anh Trọng và tôi gửi tới anh lời cảm ơn và lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất,
       Cả nhà bất ngờ và cảm động. khi công việc nhỏ nhoi của tôi đã được TƯ biết đến và khen ngợi.
       Từ đó, bức ảnh Lửa Thiêng của tôi được phóng to và treo trang trọng tại các nơi.

... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 31.01.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn