Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Bà Triệu tranh dân gian

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (14)



Bắc Thuộc Lần 2

Bà Triệu Khởi Nghĩa Chấn Động Nước Việt






Năm 248. Thời Đông Ngô cai trị Giao Châu , nổ ra cuộc khởi nghĩa lớn nhất của người Việt. Khởi nghĩa Bà Triệu. Triệu Thị Trinh cùng anh trai Triệu Quốc Đạt chiêu binh chống Tôn Quyền khiến "toàn thể Giao Châu chấn động". Tôn Quyền sai Lục Dận mang 8000 quân sang đánh.

    Tiếng nói Bà Triệu hùng thiêng Thần khí Sông Núi Nước Nam
    Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kìnhbiển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!
    Tiếng nói bật ra từ đôi môi hồng của trinh nữ núi Nưa- Triệu Thị Trinh, nổ tung nỗi hờn căm, chất chồng trong lòng người dân Việt thời Bắc thuộc lần II. Khát vọng dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ Tàu của Đất & Người Việt, dội vang sông núi, biển trời.
K hông chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!
    Trinh nữ Triệu Thị Trinh gầm lên một tiếng! Chuyển động Đất Trời Người! Câu nói ấy, vài chữ thôi, là Khí Thần trứng Mẹ Âu Cơ tuôn trào, rung núi, dồn sông, tố cáo và phản kháng truyền đời- tội ác giặc Tàu diệt chủng nòi giống Tiên Rồng bằng cách cưỡng bức trinh nữ nước Nam làm tỳ thiếp cho chúng.
    Thống trị Tàu thời Bắc thuộc lần II, đã ghi dấu tội ác Trời không dung, Đất không tha ấy!
Tiếng cồng chuyển động Đất & Người Việt
    Tiếng cồng của trinh nữ Triệu Thị Trinh réo sôi, động thẳm sâu, cấy gieo tế bào người đàn bà Việt- lệnh chỉ di truyền Không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!
    Người mẹ Việt, truyền đời hát ru con
Muốn coi lên núi mà coi,
Có Bà Triệu tướng, cưỡi voi đánh cồng
    Tiếng cồng Bà Triệu rung chuyển Đất và Người Giao Châu. Từ đó, các cuộc đánh Tàu, của người Việt liên tục nổ ra suốt 300 năm, dẫn đến sự kiện Lý Bí lập nước Vạn Xuân. Bắc thuộc lần II chấm dứt.
    Năm 299. Thú binh ở quận Cửu Chân do Triệu Chỉ cầm đầu nổi dậy giết thái thú nhà Tấn và vây quận thành. Không lâu sau, bị dẹp.
    Năm 317. Đốc quân Lương Thạc người Việt, giết thứ sử Cố Thọ, lập Đào Tuy (con Đào Hoàng) thay. Nhà Tấn cử Vương Cơ sang làm thứ sử, bị Lương Thạc ngăn và giết kiều dân người Hoa ở Giao Châu. Nhà Tấn lại cử Vương Lượng sang làm thứ sử. Lương Thạc chống cự, mang quân vây hãm thủ thành Long Biên và giết Lượng.
    Năm 323. Tấn Nguyên Đế phải cử tướng Đào Khản sang Giao Châu, giết Lương Thạc.
    Năm 468. Lý Trường Nhân tướng lĩnh bản địa nổi dậy giết thuộc hạ người Tàu của thứ sử Lưu Mục mới chết. Lý Trường Nhân tự lập làm thứ sử. Nhà Lưu Tống cử Lưu Bột sang. Trường Nhân chống lại. Nhà Tống phải công nhận Trường Nhân làm thứ sử.
    Vài năm sau. Trường Nhân chết. Em họ là Lý Thúc Hiến, nguyên thái thú quận Vũ Bình lên thay. Nhà Tống lại sai Thẩm Hoán sang làm thứ sử. Thúc Hiến không nghe. Thẩm Hoán chết ở quận Uất Lâm. Nhà Tống lại phải công nhận Thúc Hiến.
    Năm 479. Tiêu Đạo Thành diệt Lưu Tống lập nhà Nam Tề.
    Năm 485. Nam Tề Vũ Đế Tiêu Trách sai Lưu Khải điều binh ba quận sang đánh. Lý Thúc Hiến không chống nổi, sang đầu hàng nhà Tề.
    Năm 541. Lý Bí khởi binh, đuổi nhà Lương. Thứ sử Tiêu Tư bỏ chạy về Tàu. Năm 542 và 543, nhà Lương cử binh sang dẹp đều bị đánh bại. Năm 544, Lý Bí thành lập nước Vạn Xuân tự xưng đế.
    Với sự kiện thành lập nước Vạn Xuân, người Việt giành lại quyền tự chủ.
    Bắc thuộc lần II chấm dứt.
Bà Triệu- Hùng khí Sông, Núi, Biển nước Nam
    Bà Triệu còn được gọi là Triệu Ẩu, Triệu Trinh Nương, Triệu Thị Trinh, Triệu Quốc Trinh (225 - 248 ), là một trong những anh hùng dân tộc Việt.
    Sử gia Ngô Sĩ Liên viết:
Triệu Ẩu (tức Bà Triệu) là người con gái ở quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh phá thành ấp, các bộ đều theo như bóng theo hình, dễ hơn trở bàn tay. Tuy chưa chiếm giữ được đất Lĩnh Biểu như việc cũ của Trưng Vương, nhưng cũng là bậc hùng tài trong nữ giới.
   Sử nhà Nguyễn chép:
Con gái nước ta có nhiều người hùng dũng lạ thường. Bà Triệu Ẩu thật xứng đáng là người sánh vai được với Hai Bà Trưng.”
Bà Triệu sinh năm Bính Ngọ (226 ) tại miền núi Quan Yên), quận Cửu Chân (nay thuộc làng Quan Yên, xã Định Tiến, huyện Yên Định- Thanh Hóa).
    Thuở nhỏ cha mẹ đều mất sớm, cô bé Triệu ở với anh trai Triệu Quốc Đạt (hào trưởng Quan Yên).
    Tuổi 20. Triệu Thị Trinh mạnh mẽ khác thường, giỏi võ nghệ, có chí lớn. Gặp phải chị dâu (vợ ông Đạt) ác nghiệt, nàng giết đi, vào ở trong núi Nưa (nay thuộc các xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn, Mậu Lâm huyện Như Thanh, Trung Thành huyện Nông Cống- Thanh Hoá), chiêu mộ hàng ngàn tráng sĩ.
    Năm Mậu Thìn (248 ) thấy quan lại nhà Đông Ngô tàn ác, dân đói khổ, điêu linh. Triệu Thị Trinh bàn với anh, tập hợp quân dân, chống lại. Lúc đầu, anh nàng hơi sợ, nhưng sau chịu nghe em.
    Từ hai căn cứ núi vùng Nưa và Yên Định, hai anh em Triệu Thị Trinh dẫn quân đánh chiếm quận lỵ Tư Phố ở hữu ngạn sông Mã. Đây là căn cứ quân sự lớn của quan quân nhà Đông Ngô trên đất Cửu Chân, đứng đầu là Tiết Kính Hàn. Thừa thắng, lực lượng nghĩa quân chuyển hướng xuống hoạt động ở vùng đồng bằng sông Mã.
    Bỗng Triệu Quốc Đạt lâm bệnh chết. Các nghĩa binh thấy Triệu Thị Trinh dũng mãnh, can đảm, tôn làm chủ tướng. Khi ra trận, nàng mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi, được vinh danh Nhụy Kiều tướng quân.
    Được tin cuộc khởi nghĩa Bà Triệu lan nhanh, Tôn Quyền vua Ngô, phái tướng Lục Dận sang làm thứ sử Giao Châu, An Nam hiệu uý, đem 8.000 quân đàn áp. Lục Dận dùng tiền mua lãnh đạo địa phương, làm suy yếu và chia rẽ lực lượng nghĩa quân Bà Triệu.
    Những trận đánh ác liệt đã diễn ra tại căn cứ Bồ Điền . Song do chênh lệch về lực lượng và không có sự hỗ trợ của các phong trào đấu tranh khác nên căn cứ Bồ Điền bị bao vây cô lập, chỉ đứng vững được vài tháng.
    Theo Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, Bà Triệu chống đỡ với quân Đông Ngô được năm sáu tháng thì thua. Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) vào năm Mậu Thìn ( 248), lúc mới 23 tuổi. Có giai thoại nói rằng tướng giặc lợi dụng việc phận nữ nhi đã truất bỏ y phục trên người khiến Bà Triệu từ đó xấu hổ mà dẫn đến tự tử.
    Nước Việt lại bị nhà Đông Ngô đô hộ đến năm 265 .
    Vua Lý Nam Đế (tức Lý Bí) khen Bà Triệu là người trung dũng, sai lập miếu thờ.
    Hiện nay, nơi núi Tùng (xã Triệu Lộc), còn di tích lăng mộ của bà. Cách nơi bà mất không xa, trên núi Gai ngay sát quốc lộ 1A (đoạn đi qua thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc, cách thành phố Thanh Hóa 18 km về phía Bắc) là đền thờ Bà Triệu tỏa Hùng khí Sông Núi Biển Nước Nam. Tiếng cồng Bà Triệu đến nay vẫn ngày đêm ầm vang Đất Trời Biển Việt Nam.
Hình tượng Bà Triệu- Tạc Sông Núi Nước Nam
    Hiếm có một vị nữ anh hùng nước Việt, được dân Việt tạc hình tượng vào sông núi, như Bà Triệu.
    Từ văn hóa, văn học nghệ thuật dân gian, đến cung đình đều cảm nhận được hùng khí non nước Việt từ thân mình Bà Triệu.
Dân gọi tên Bà Triệu là vua biển Lệ Hải Bà Vương…
    Dựa vào những truyền thuyết sử nước ta như Ngoại sử ký của Đỗ Thiện, Báo Cực truyện và thần phả, thần tích, Lệ Hải Bà vương ký… Vua Lê Thánh Tông (thế kỷ XV) đã vẽ nên chân dung Bà Triệu, lộng lẫy, kỳ vĩ núi sông:

Cao một trượng, cả mười vừng
Bỏ tóc ngang lưng, vú chấm sừng
Họp chúng rừng xanh oai náo nức
Cưỡi đầu voi trắng, tiếng vang lừng...
                                    (Thơ vịnh Bà Triệu)
    Thiên Nam ngữ lục sử ca (thế kỷ XVII) tả Bà Triệu:
Cao trong tám thước, rộng ngoài mười gang
Dung nghi diện mạo đoan trang
Đi đường chớp giật, động đường sấm vang!
...Sức quảy nổi vạc nghìn cân...”
    Các sách sử ca: Sử ký quốc ngữ, Đại Nam quốc sử diễn ca... đã hòa tấm thân Bà Triệu vào Sông Núi Nước Nam. Các cuốn thần phả về Bà Triệu, thần tích Bà Triệu đều mô tả Bà Triệu như một phụ nữ khổng lồ, sức mạnh sánh với thiên nhiên hùng vĩ nước Việt
    Sách Việt điện u linh tập đính hiệu bình của Chư Cát Thị (thế kỷ XVII) viết: “Bà họ Triệu, tên huý là Trinh... mặt hoa, tóc mây, môi đào, mũi hổ, trán rồng, đầu báo, hàm én, tay dài quá đầu gối, tiếng như chuông lớn, mình cao chín thước, vòng lưng rộng mười ôm, chân đi một ngày 500 dặm, sức có thể khua gió, bạt cây, tay đánh chân đá như thần, lại có sức đẹp làm động lòng người...”
                 ( Lệ Hải Bà vương ký - Đinh Gia Khánh dịch)
    Thần phả Triệu Ẩu truyện, lưu ở đền thờ Bà Triệu (núi Tùng, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc- Thanh Hoá): “Triệu Ẩu dáng người xinh đẹp mà khoẻ mạnh, khác thường, đầu beo, hàm én, mũi hùm, má rồng, mình cao 9 thước, lưng rộng 10 vi, vú dài 3 thước, tay dài quá gối, ngày đi bộ 200 dặm, giỏi võ nghệ...”
                          (Tự Đức năm thứ 10 - Nhữ Bá Sĩ soạn)
    Tất cả ghi chép, sáng tác, biên soạn trên từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX đều dựa theo tài liệu cổ và truyền thuyết dân gian để vẽ lại dung nhan Bà Triệu, mang tầm vóc khổng lồ của người phụ nữ Việt gắn chặt với Trời Đất Biển Rừng, Đồng lúa... Việt Nam.
    Hình ảnh vú dài ba thước là một tầm vóc kỳ vĩ mang sức sống vĩ đại của người Mẹ Việt. Hình tượng bầu vú dài ấy là nguồn sống vô tận nuôi dưỡng giống nòi Việt, thành sức mạnh vô địch, vượt lên tất cả, trường tồn cùng Sông Núi Nước Nam.
                                                    Một đầu voi chống chọi với quân thù, sau Trưng nữ rạng danh bà Lệ Hải;
                                                    Ba thước vú tử sinh cùng đất nước, cho Ngô hoàng biết mặt gái Giao Châu.
                                                            (Chí sĩ Dương Bá Trạc- đầu thế kỷ XX)
    Vùng Bồ Điền huyện Triệu Lộc- Thanh Hóa hiện còn nhiều di tích và truyền thuyết về Bà Triệu và cuộc khởi nghĩa của B à.
    Thu phục voi trắng một ngà. Vùng núi Quân Yên lúc bấy giờ có một con voi trắng một ngà rất hung dữ hay đến phá hoại mùa màng, mọi người đều kinh sợ. Để trừ hại cho dân, Bà Triệu cùng chúng bạn đi vây bắt voi, lùa voi xuống đầm lầy (vùng sông Cầu Chầy ngày xưa hãy còn lầy lội) rồi dũng cảm nhảy lên đầu voi và đã khuất phục được nó. Con voi trắng sau này được Bà dùng để cưỡi mỗi khi ra trận.
    Đá biết nói. Những ngày đầu khởi nghĩa, Bà Triệu đã ngầm cho đục núi Quân Yên, bí mật cho người ngồi trong hốc đá, đọc bài đồng dao, như lời Thần mách bảo:

                                                           Có bà Triệu tướng/Vâng lệnh trời ta/ Trị voi một ngà/
                                                  Dựng cờ mở nước/ Lệnh truyền sau trước/ Theo gót Bà Vương.
Bà Triệu & Ánh Sáng những người Khổng lồ
    Bà Triệu, sinh tại miền núi Nưa, quê hương của những người khổng lồ. Ông Quảy Núi. Ông Cày Sông. Ông Nưa mở mang đồng ruộng. Ông Tu Nưa trồng cây thuốc tiên, cho cả núi Nưa thành vườn cây thuốc tiên cứu dân...
    Thần Khí của những con người Khổng lồ, dâng hiến vì dân Việt thuở khai Thiên, lập Địa ấy đã sinh ra Bà Triệu với biểu tượng Vú dài, kết nối dòng điện trường Hạt Sáng của tầng Ánh Sáng các vị Thánh Thần Khổng lồ, ngự vùng Núi Nưa.
    T ên Triệu Ẩu, xuất hiện lần đầu trong Nam Việt chí, Giao Châu ký (thế kỷ 4, 5) rồi đến Thái bình hoàn vũ ( thế kỷ 10) dưới mục Quân Ninh (tức Quân Yên cũ).
Trước đây, Hồng Đức quốc âm thi tập, Đại Việt sử ký toàn thư, Thanh Hoá kỉ thắng, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục... đều gọi bà là Triệu Ẩu. Sau, sử gia Trần Trọng Kim khi cho tái bản Việt Nam sử lược đã không giải thích mà chỉ ghi chú rằng: Bà Triệu, các kỳ xuất bản trước để là Triệu Ẩu
    Sách Giao Chỉ chí chép:

Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần .
    Sách Những trang sử vẻ vang... giải thích: Phụ nữ khổng lồ, vú dài… là huyền thoại về bà Mẹ- Đất (terre-Mère, Déesse-Mère). Sau hình tượng đó được khoát cho bất kỳ một phụ nữ hiệt kiệt nào (tr. 129).
    Các tác giả sách Lịch sử Việt Nam (tập I) đều cho rằng huyền thoại về một người phụ nữ có "vú dài ba thước" vốn rất phổ biến ở phương Nam, từ Hợp Phố đến Cửu Chân. Như truyện "Tẩy thị phu nhân", "Tiểu quốc phu nhân" đều nói họ là những phụ nữ cao to và có vú dài đôi ba thước. Bà Triệu là một phụ nữ kiệt xuất, nên dân gian đã tặng Bà cặp vú dài.
    Chúng tôi nghiên cứu Tòa Cửu Long với chín con Rồng, tượng trưng cho các dòng họ Bách Việt, có Mẫu Hương Vân Cái đứng giữa, tại các ngôi chùa làng thuần Việt còn sót lại hiện nay, nhận thấy hình tượng Mẫu Hương Vân Cái- Đỗ Quý Thị được tạc hình một bà sư, đầu trọc, mặc váy, phần ngực trần nổi hai bầu vú sữa căng tròn đầy.
    Đó là hình tượng Mẹ Việt- Mẫu Phật của chúng ta, đã tu đắc đạo (Mật tông) cách đây khoảng 5000 năm, trước khi Đạo Phật Thích Ca Mâu Ni du nhập vào đất Việt.
    Cặp vú dài của Bà Triệu có gốc nguồn Tinh hoa Văn hóa Bách Việt, qua bầu vú của tượng Mẫu Phật Hương Vân Cái Bồ Tát- Đỗ Quý Thị ngự nơi những ngôi chùa làng Việt cổ.
Núi Nưa & Văn hóa Đông Sơn
    Theo sách Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu ( Ty văn hoá Thanh Hoá- 1972)
    Năm 1962. Khảo cổ học nước ta ghi nhận một phát hiện quan trọng.
    Đó là địa điểm khảo cổ học núi Sỏi. Trên đồi thôn Định Kim tục gọi làng Sỏi (nay thuộc xã Tân Phúc, huyện Nông Cống) phát lộ một di tích cư trú cổ rất lớn. Gọi là núi theo ngôn ngữ dân gian. Đúng ra núi Sỏi hiện tại chỉ cao 19m so với mặt biển, rộng 250m, dài tới 1.000m. Cách  đây 2.000 năm trước, có lẽ núi Sỏi cao hơn, dài rộng hơn.
    Núi Sỏi cách núi Nưa khoảng 1km đường chim bay, về phía tây. Di chỉ này là tầng văn hoá khảo cổ  thời đại đồng thau muộn, phủ kín khắp bề mặt gò đồi, từ đỉnh xuống chân và lan xung quanh, diện tích nghiên cứu bước đầu là 910. 000m2.
    Vào những thế kỷ đầu CN, núi Sỏi thuộc nơi cư trú đất huyện Cư Phong của quận Cửu Chân đời thuộc Hán và huyện Di Phong của quận Cửu Chân đời thuộc Ngô... Quanh vùng này cho đến nay, chưa tìm thấy một di chỉ khảo cổ nào tương tự địa điểm núi Sỏi về mặt tính chất văn hoá và niên đại.
    Bộ di vật khảo cổ bước đầu tìm thấy ở núi Sỏi có khí dáo, lao, mũi tên, đoản kiếm, dao găm... một ít dụng cụ lao động, nhạc khí trống đồng... Các di vật này chủ yếu bằng đồng thau mang đặc trưng văn hoá Đông Sơn giai đoạn cuối, trong khoảng thời gian vài ba thế kỷ sau CN. Đó là thời bắt đầu chuyển tiếp sang Sơ kỳ thời đại đồ sắt, thể hiện ở lớp trên cùng cửa tầng văn hoá khảo cổ.
    Cũng năm 1962, công nhân mỏ Crômít Cổ Định, ở chân núi Nưa cách núi Sỏi khoảng 2- 3km đường chim bay, đào được một thanh đoản kiếm bằng đồng thau, cán kiếm là tượng tròn, đúc một phụ nữ với đầy đủ trang phục quý tộc: khăn áo, yếm, váy, đệm váy, thắt lưng... Sau đó ít lâu người ta lại tìm thấy hai thanh đoản kiếm khác có hình dáng tương tự, nhưng các chi tiết không đẹp bằng, cũng trên địa bàn núi Nưa về phía bắc.
    Thanh đoản kiếm núi Nưa (Cổ Định) dài 0,5m mặt phẳng, cán kiếm đúc tượng người phụ nữ, tóc búi ngược lên đỉnh đầu có khăn bao tóc trùm kín như cái mũ không vành, tai đeo vòng rất lớn chấm xuống tận bờ vai, hai chuỗi vòng tay xếp kín từ cổ tay lên đến tận khuỷu tay, lưng buộc dải khăn rộng buông dài trước bụng, hai tay chống nạnh đứng nghiêm chỉnh, gấu váy xoè ra ôm lấy chân kiếm làm tai kiếm...
    Vẻ độc đáo, đặc sắc nhất của thanh kiếm lệnh núi Nưa là tượng người Phụ nữ toàn thân với cách ăn mặc là lượt, đủ bộ lệ chưa thấy ở bất cứ di chỉ nào khác thuộc nền văn hóa đồng thau Đông Sơn, như: Đào Thịnh (Yên Bái), Bảo Vệ (Hà Tây), Tràng Kênh (Hải Phòng)... và cả ở Đông Sơn (Thanh Hoá). Niên đại những thế kỷ trước CN hay đầu CN, tất cả đều chỉ thấy lối trang phục bình dân: cởi trần, mặc váy ngắn. Thanh kiếm lệnh đầu tiên tìm được ở Cổ Định là hiện vật đẹp nhất (chưa tìm thấy tiêu bản thứ hai) mang phong cách Đông Sơn- núi Sỏi.
    Người Việt Cửu Chân (Thanh Hoá) thời Hùng Vương - An Dương Vương tìm thấy núi Sỏi, một nơi cư trú lý tưởng không kém làng chạ Đông Sơn bên bờ sông Mã, nhưng vị trí, địa hình, nhiều điểm khác Đông Sơn - Hàm Rồng.
    So với các điểm cư trú thời đại đồng thau ven sông Mã, không nơi nào thuận lợi hơn cho nghề trồng lúa nước phát triển mạnh như dân núi Sỏi cổ đại.
    Bấy giờ, người núi Sỏi còn được thừa hưởng nguồn lợi Trời cho là Ngàn Nưa vô số đồi núi đỉnh cao, ngọn thấp dăng bày tầng tầng, lớp lớp, chỗ nào cũng trĩu cành hoa quả, ngồn ngộn rau xanh, những ngòi hòn, hồ nước la liệt, nguồn lợi vô tận ốc suối, nhái khe, cá chép đẫy gang, cá mè quạt mo, đầy đàn chim bay, thú nhảy... Đại Ngàn Nưa còn là vùng núi rừng vô cùng hiểm trở, một nơi thuận lợi để anh hùng hào kiệt tụ nghĩa.
    Nhà họ Triệu nhiều đời là hào trưởng miền núi Nưa đất rộng, người đông, nhiều của ngon, vật lạ... đã nuôi dưỡng trinh nữ tuổi 20 cầm quân chống đô hộ Tàu.
    Đúng như sấm trời: “Na sơn nhất phiến, nhất hô thiên hạ biến” ! (Núi Nưa một dải, một tiếng hô, cả thiên hạ đều nổi dậy).
     Ngày nay, dưới bóng Ngàn Nưa hùng vĩ, dân quây quần, xóm làng đông đúc.
    Chí anh hùng, khí phách Triệu Trinh Nương như nước trong nguồn, chảy không bao giờ cạn. Tiếng cồng Bà Triệu, hôm nay đang ngân vang trầm tĩnh, uy linh, giúp cháu con.
    Người Nấu Sử Sôi Kinh bên Hồ Gươm cùng Dân Việt thắp sáng Chí Anh Hùng theo tiếng cồng Bà Triệu:

“Ta kẹt giữa bốn bề giông bão
Nắng lửa, mưa rừng, giăng lưới vây
Chí anh hùng, ngực dâng đầy huyết lệ
Hát lên em! Khí phách Triệu Trinh Nương
Mấy ngàn năm, nước mất- Dân lấy lại
Chí anh hùng, Dân có Thần dẫn lối
Một ngày mai Thánh tài xuất hiện
Yên bình Dân Việt giữ Biển Đông”.

(… Còn tiếp ...)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 25.01.2015.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC TRONG VIỆT VĂN MỚI

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn