Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



MẮT MÈO



Ngôi chùa trên đồi Long Khám, phía hòn ngọc Đống Ngẫy, làng mạc phía trước tam quan ẩn hiện những ngôi nhà vàng nhẹ trong nắng sớm. Hàng cây dài ven đường dẫn lối, sẫm màu vàng như bức tranh thêu. Anh Thư thở dài nhìn xuống, dưới kia cuộc sống phức tạp con người sinh diệt, luân hồi trong thứ có có, không không. Cúi đầu nhìn những bước chân trên con đường dốc trăm bậc. Bộ quấn áo rộng màu đen, chiếc khăn quàng vải nâu sồng tuy không hợp với nước da, nhưng vẫn tôn trên vẻ mặt sáng sủa nét ưu tư.

Những người về dự tiệc chay cuối tuần đang ồn ào, cơn gió đầu thu lành lạnh ngang qua, thổi nhẹ làn tóc bên trái như muốn che sang khuôn mặt. Những chiếc lá rụng trên đường bậc như gợi nhắc những gì vẫn vướng đọng trong lòng.
Giấc mơ linh thiêng đêm qua như duyên phận, định mệnh đưa cô đến đây. Nhìn sang ngôi miếu bên cạnh bái đường thờ riêng cho một cung phi, giai nhân tuyệt sắc Đặng thị Huệ, hương trầm thơm ngát. Anh Thư nhớ lại người đàn bà ấy mỉm cười gật đầu rồi quay lưng bước đi về phía một ngôi chùa. Hôm nay cô tìm về nơi cửa thiền.


Người thượng tọa già ngạc nhiên, nhìn đôi bàn tay nhỏ nhắn có những ngón tay tròn run run, khuôn mặt đầm đìa nước mắt của người con gái trước mặt:
- Thưa thượng tọa, con xin thày chỉ dạy, con muốn quy y nơi cửa phật, nhưng hoàn cảnh con không cho phép, con nên làm thế nảo?
- Tên con là gì?
- Dạ Anh Thư ạ.
Anh Thư biết mình nói những gì mong đợi một năm rồi.
- Gia cảnh con thế nào?
- Thưa thày, con không còn ai thân thích, bây giờ con không biết đi đâu, về đâu. con chỉ mong mọi trăn trở sẽ chấm dứt. Con xin thày rộng lòng thương con.
- Nam mô a di đà phật. Con phải biết vượt qua mà sống. khi lòng con còn mặc cảm thì sẽ luôn hồ nghi. Cõi người là cõi mông lung. Đừng chỉ là tùy hứng. Khi chưa hết ân hận trong lòng, thì thần phật không phải là nơi che chở. Chỗ trú thân của con không phải nơi nào chưa có dấu chân người, để có lối cho hồn an lạc.
- Lòng con thì đã chết từ lâu rồi, con không màng gì nữa.
- Phật ở tại tâm, không nhất thiết phải đi tu hành, con có thể tu tại gia.
Thượng tọa trầm ngâm:
- Con không cần phải đến tu ở chùa, tu ở nhà cũng thế. Ta khuyên con nhớ rằng, khi đã về với cửa phật là không được bước chân lại chốn cũ, xa khỏi cổng đời tam quan. Tuần sau trở lại đây một mình, ta làm lễ cho con, ta sẽ đặt tên pháp cho con là Hoa Liên, con nhớ không?
- Dạ con nhớ, con xin đa tạ thày.


Người thượng tọa già ngồi xếp chân bằng tròn, hỏi han chuyện một bà nguyện tâm. Bà thượng tọa nhìn sang lão bán hàng nước, khuôn mặt nhiều nếp nhăn trên má, người ở thị trấn hay đến lễ chùa những ngày cuối tuần. Bà lão bộc bạch sự ngạc nhiên :
- Thưa thày, khi sớm con gặp cô gái vừa vào thăm thày. Trông cô ấy nhang nhác giống cô Anh Thư ở gần nhà con, nhưng con không tiện chào hỏi.
- Cái tên trước Anh Thư là cái tên đẹp trong đời thường của người mong có chữ nghĩa. Ta định đặt tên cô ấy là Hoa Liên - Bà tượng tọa ngắt lời - Ta khuyên cô ấy nên tu tại gia. Bố mẹ cô ấy thế nào?
Bà lão bán hàng nước ngẫm nghĩ:
- Con ở Từ Sơn, nhà cô ấy đối diện với quán bán hàng nước của con. Con biết chuyện về cô ấy do con rể con ở huyện Tiên Du nói, nhưng con chỉ biết mặt, ít gặp người. Cũng có ít chuyện của mấy bà đi buôn chợ hay vào quán nước của con kể lại.
- Con biết gì về gia cảnh của cô ấy, kể ta nghe.
- Bố cô ấy là ông Bồng còn vợ ông thì con không thấy. Ông trước đây có một gia đình ở quê, cách chỗ con ở khoảng bốn chục cây số. Từ nhỏ, cô ấy sống trong nghèo khó. Nghe nói, ông ta là một đệ tử hạng nhất của lưu linh, theo lối bất chấp mọi thứ. Không chỉ say sưa rượu chè, mà cả say sưa bài bạc, đến nỗi không tài sản, không công việc, nợ nần thì chồng chất. Bà vợ không biết sống bằng gì, đã phải bỏ trốn đi, để lại một cô con gái mười tuổi và căn nhà rỗng tuếch, chỉ vài ba bộ quần áo tồi tàn. Tuy có sự thay đổi ít nhiều sau cơn sốc ấy, ông hy vọng việc bỏ đi của người vợ chỉ là nhất thời. Ông vẫn quên béng trong ngôi nhà còn có Thư, mỗi khi ông ta ngật ngưỡng, say sưa để quên cái nợ đầm đìa - Bà lão ngừng lại nhìn bà thượng tọa, thăm dò.
- Trưa nay có lễ ăn chay cuối tuần, con đừng qua lại bắt gặp cô ấy nữa, ta muốn từ từ rồi xem. Tuần sau ta làm lễ đặt tên cho cô ấy để tu tại gia.
- Vâng - Bà lão kể tiếp - Cô ấy đang ở tuổi mới lớn, mặc dù trong nghèo đói, nhưng lại rất xinh. Cho đến một lần, trong một trường hợp ông vắng nhà, con bé chỉ có một mình, một bọn côn đồ đã thừa dịp bịt miệng, lôi con bé lên cái giường ọp ẹp, để rồi gẫy giường nát chiếu, dập nát be bét mọi thứ trong ngoài. Lúc ông Bồng về, nó ngồi thu người lại trong góc tối, gọi mãi không ra. Ông chỉ thực sự tỉnh rượu khi thấy con bé không còn một thứ gì trên người. Nó lả hẳn đi trên tay ông và kéo dài cơn mê sảng suốt một tuần lễ trong bệnh viện. Càng ngày nó càng lặng lẽ, nó quẩn quanh trong căn nhà rỗng tuếch, tránh những câu nói khiếm nhã của những kẻ thêm thắt, buôn chuyện.
Ông Bồng quyết định bỏ quê, đưa con lên phố, ở nhờ nhà đứa cháu dâu là cô Lan chồng chết tai nạn. Ngôi nhà khi đó sập xệ ngay đối diện quán nước của con nên con biết. Ông trốn chạy cái lý sự nghiệt ngã của người làng, của mấy bà buôn vịt ở chợ, mà suy cho cùng là cũng tại ông.
Những năm tháng ấy, hình như có sự hối hận trong ông ấy. Từ một người có tính nết của kẻ khôn mà giảo, chỉ rượu chè cờ bạc lười biếng ít ai chịu được, ông làm đủ nghề phụ hồ thợ xây, đào ao, đào giếng, đào mộ rồi chạy xe ôm, Nắng cũng như mưa không có gì ông không nhận làm, ông không về muộn nữa, câu chuyện tưởng có phần nguôi ngoai.
- Nam mô a di đà phật. xin người thương chúng sinh, cô gái này xinh đẹp, phận sang nhưng duyên mỏng.
- Những chuyện gia đình con không biết cụ thể, sau này ơn trời phật thương, cô ấy vẫn lấy được chồng, lại còn có lộc là con ông to giàu có, nhưng chưa con cái gì. Sự đời khắc nghiệt cho ông bố, lại kéo con gái vào tội lỗi, người ta đồn cô ấy đâu lại bị vướng vòng lao lý. Lạy trời phật, nếu cô ấy tĩnh tâm thờ phật chắc là đã qua những khổ nạn, ngang trái.
- Cô ấy đáng thương, cô ấy không mẹ. Người đó chắc phải nhiều uẩn khúc lắm. Người như cô ấy chắc không thiếu nơi nương tựa cứu giúp. Chuyện này chỉ nên để thày và con biết đừng làm rối lòng người ta.
Nhìn khuôn mặt bà thượng tọa trầm ngâm. Bà lão bán hàng nước e ngại những chuyện kể có thể cả sự thêm thắt của người đời về người bố của cô gái, khi sự đời không buông tha ông.


- Cảnh thiếu thốn, nhưng lại thừa cái phải che đậy, thừa những cái xúi dục của  dục vọng. Kẻ không vợ, người mất chồng. Ở chung lâu ngày trong một căn nhà, khi đó còn nhỏ hẹp tồi tàn. Những đòi hỏi có lúc làm ông đến nghẹt thở, bắt ông tìm đến. Những cảnh diễn ra như thật trước mắt cô, tưởng được che đậy bằng bóng đêm. Lúc thì ở góc tối vội vàng, lúc ở trên giường hớ hênh. Nhắc đến một thứ bẩn thỉu đã qua, hăm hở đói lòng tê dại lẫn lộn, từ họ nhắc nhớ một thứ sợ hãi, nhưng lại là thứ căn bệnh truyền nhiễm lây sang cô. 
Thư lớn lên, ánh mắt ngày càng sắc sảo, chỉ chỗ đuôi mắt, để ý mới thấy một phần lòng trắng cứ xanh dần. Người cô cũng nở ra phổng phao hơn, đôi chỗ hơn hẳn kẻ nhà nghèo cùng trang lứa. Cô suốt ngày không ra khỏi nhà. Ông Bồng tưởng được an ủi, lại hy vọng. Ông cho con gái cố học hết lớp mười hai bổ túc. Ông nghĩ có cái chữ sẽ được che chở, may ra Thư có thể lấy chồng.
Trong một dịp chở người, lại là rất may cho ông, ông Bồng gặp một người bị ngất bên đường. Một thanh niên tên là Hưng bị tai nạn xe máy, gãy lìa một bên xương đùi chân trái, chỗ xương đùi nhọn sắc xiên hẳn ra ngoài. Ông đã kịp đưa Hưng đang mất nhiều máu, vào bệnh viện mà không một ai giúp đỡ. Hàng ngày ông rẽ đến thăm anh ta một lát. Phần hy vọng người thân của Hưng sẽ tìm đến trả tiền chuyến xe của ông, phần thấy Hưng có vẻ một thanh niên con nhà khá giả, biết đâu có một dịp may, thêm những cắc cớ sau này.


Thế  rồi một hôm, ông Bồng bỗng từ bỏ ý định đòi tiền công chuyến xe ôm, vội mang cô Thư về Hà  nội, thuê hẳn căn nhà của một gia đình định dành cho con trai lấy vợ, không thành. Một căn nhà khá khang trang trong khu đô thị mới, tiện nghi còn khiêm tốn, nhưng cũng buộc ông thuê với giá ngất ngưởng. Số tiền dành dụm, tiền bán nhà ở quê vì thế vơi nhanh. Ông vẫn quyết định dành hết cho canh bạc cuối cùng, bởi ông phát hiện ra Hưng chính là con ông Thịnh giám đốc sở Tài chính tỉnh.
Ông lựa trong số làm thuê ngoại tỉnh, đứng lố nhố ở ngã tư phố đang nghển cồ chờ việc làm, đóng vai người quen biết. Ông chọn những đứa mặt mũi kha khá, trong mấy thằng đánh giầy lớn để làm bạn bè với Thư. Ông thuê cả áo véc, chải chuốt cho vài người đứng tuổi được lựa làm người nhà. Ông dặn tất cả họ phải tươm tất, sạch sẽ, đi đứng nhẹ nhàng, ăn nói tỏ ra có văn hoá. Đổi lại họ không phải làm gì khác là được chén một bữa ra trò, tại một nhà hàng khá sang trọng.
Nghe bà lão nói, bà thượng tọa lắc đầu.
- Bữa tiệc đàng hoàng, Có hai người lớn tưổi, ông trước, ca ngợi công đức ông với dòng họ quê hương. Một ông sau, ra sức thán phục người tài đức là ông, hết lòng với công việc của một cán bộ nghiên cứu động vật, sống gắn bó với rừng tận trong Cúc Phương. Còn cô con gái, phải nói Anh Thư rất duyên dáng trong bộ váy áo trắng rất thời trang, hợp với người, được thuê hẳn hiệu chuyên phục vụ cưới trang điểm. Anh Thư được ông cố luyện bằng vốn ăn nói có văn hoá kiểu làng quê, ít ỏi kinh nghiệm, đôi chỗ ngờ nghệch. Nhưng Anh Thư cũng diễn đạt tới mức là người con đủ nết đủ tài, đang chuẩn bị du học tận bên Úc, chỉ còn chờ giấy gọi.
Cha con, vợ chồng ông Thịnh đi trên một chiếc xe ô tô màu bạc bốn chỗ, đến dự đám tiệc mừng cho Anh Thư. Hưng chưa đi lại được một mình, phải ngồi trên xe lăn có tựa, nhưng vẫn  đòi đi bằng được. Hưng và Anh Thư ngồi bên nhau, họ cứ nhìn nhau, cứ nói chuyện với nhau, làm lòng ông Bồng rộn rạo lên. Bộ com lê mới của ông có cái tà áo hơi rộng, xoà ra, xộc xệch. Chiếc cà vạt màu đỏ thắt méo mó, có lúc nhúng cả vào những món ăn trên bàn.
Ông Thịnh tỏ ra mừng không kém. Ông biết ơn ông Bồng giúp đỡ con ông, nếu không có ông kịp thời thuê xe ôm đưa Hưng vào bệnh viện, chắc Hưng chẳng thể còn ngồi đây. Ông Thịnh cảm động trước tấm lòng đức độ và công chăm sóc của ông Bồng đối với con ông ở trong bệnh viện, như chăm người con ruột của mình. Ông cầu chúc cho Anh Thư có được một kết quả học tâp tốt ở nước ngoài. Ông Thịnh tràn trề hy vọng Anh Thư sẽ sớm thành đạt làm Anh Thư có vẻ như ngượng ngùng. Ông còn tặng Anh Thư một lẵng hoa, trong có một phong bì, đủ bù đắp mọi chi phí vừa rồi của bố con ông Bồng. Một lãnh đạo có cỡ của tỉnh vào loại nói câu nào chắc câu ấy, ít khi khen ai, tự nhiên bốc lên nhận ông Bồng làm anh em. Mà lạ hơn khi chú ý, thấy hai người có những nét giống nhau về ngoại hình thật, đặc biệt ở khuôn mặt. Chỉ có điều, nếu muốn để giống ông Thịnh, ông Bồng phải chịu khó ăn uống để béo lên gấp đôi mới được.  
Bà thượng tọa biết những người sống bất chấp, họ dễ dàng tìm lý do để thoát nạn hậu quả.
- Đám cưới anh ta diễn ra khá nhanh, hoành tráng - Bà lão kể tiếp - Bởi hai bên vừa đẹp người đẹp nết, vừa môn đăng hậu đối và còn để kịp Anh Thư đi học ở nước ngoài, mặc dù chủ rể còn đi chưa vững. Người bố Hưng kỹ tính, nhưng khi duyên số của con đặt ông vào hy vọng mới ở đứa con trai vốn phá gia chi tử, có thể thay đổi tính nết khi lập gia đình. Ông ưng thuận chỉ sau vài lần đến chơi nhà ông Bồng, trong khu đô thị mới.
- Trong trường hợp  này, ông Bồng là người cao tay, người đời dễ đánh giá sai về ông ta.
Bà thượng tọa đọc lên bài thơ của thiền sư Đạo Hạnh như niệm kinh phật:

Có thì có tự mảy may, 
Không thì, cả thế gian này cũng không 
Kìa xem bóng nguyệt lồng sông, 
Ai hay không có, có không là gì?


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 24.01.2015.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA VŨ HỮU TRÁC TRONG VIỆT VĂN MỚI

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn