Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




ĐƯỜNG TRƯỜNG KÝ SỰ




Đã lâu rồi, tôi chưa đi quá địa bàn Thanh Hóa, năm nay (2007) tôi đã đi qua thị trấn Còng. qua cây cầu cùng tên lại nhớ một bài vè dân gian có câu

Cách mạng đến Còng, thì quay trở lại
Người ta nói như vậy bởi đến nay Thanh Hóa còn nhiều việc chưa làm. Chỉ nguyên một việc tu sửa Lam Kinh, Nhà nước đã tiêu tốn 17 tỷ, thay đổi mấy lần lãnh đạo công trình nhưng càng thay thì càng hỏng, bởi người mới lên lại ra sức phá bước đi người đi trước, ai cũng cho rằng ta mới giỏi hơn nó
Tới đây, tôi hiểu thêm Thanh Hóa, Đã có một câu vè chê trách rằng :
Lập quốc gia riêng
Là miền Nông Cống
Bài ca truyền thống
Dô tá ! Dô tà
Huy hiệu quốc gia
Là nhành rau má.
Nhưng về đây mới thấy dân Thanh Hóa rất quý rau má. Tại Restaurant Dạ lan một cửa hàng to ở thành phố Thanh Hóa với đội ngũ tiếp viên, bảo vệ có trang phục riêng, có nét mặt riêng, và nội thất đẹp. Thế mà khi có đoàn khách đến họ vội bày trên bàn ăn món đầu tiên là rau má.tươi, sau đó mới đến các thức khác. Tôi nhìn thấy nhiều người khách lấy rau má chấm muối, chấm tương ớt để ăn dặm trước khi vào bữa rượu. Phải chăng đó là một biện pháp chống say ? hay là một cách giải nhiệt sau khi đi đường dài đến đây.
Bên kia cầu Còng là địa phận Quỳnh Lưu của Nghệ An ,
Đã mấy lần đến với Hoằng Hóa, Vĩnh Lộc nên lần này xe đi qua Thanh Hóa, không dừng lại thăm thú huyện nào. Qua đất Tĩnh Gia, qua cầu Còng là sang đất Quỳnh Lưu của Nghệ An

QUA ĐẤT NGHỆ AN

Quỳnh Lưu là điểm đầu tiên của Nghệ An mà chúng tôi đi qua . Nơi đây trong thời điểm cách mạng tất cả vì XHCN đã xuất hiện câu chuyện một ông lãnh đạo cấp tiến nêu khẩu hiệu “mo cơm, quả cà và trái tim cộng sản ” cấp tập đưa quê hương đổi mới. Ông ta cho phá các làng cũ để lấy đất làm ruộng, tập thể hóa các mồ mả, đến nỗi trong dân có câu vè “ Mạ trên sân, Dân trên rú, Đụ trên vòng(võng ngủ)” Quỳnh Lưu một huyện tươi đẹp bỗng nhiên trở thành huyện trắng đến nỗi tổ chức phế bỏ ông, đưa dân về làng xưa, trồng lại cây tre , cây nhãn, Bây giờ đi qua Quỳnh Lưu thấy sầm uất, nhưng đầu huyện giáp với Tĩnh Gia lại mọc lên một công trường đá. Có nhiều quả núi đang bị bóc tách từng mảng lớn. Bên đường 1A có các cỡ máy thi nhau xay đá . Trời chưa phá nhưng người đã phá, nhiều phong cảnh thiên nhiên dần biến mất.
Gần đến Vinh, lại nhớ thời vua Minh Mạng lập trấn Nghệ An năm 1831. Thành phố Vinh có tên xưa là Vĩnh Dinh , người Pháp đổi là Thành phố Vinh.
Xe đi qua Nghệ An, nhìn thấy sinh hoạt dân có nhiều phân cách, đó là các nét khác biệt về nhà ở, trang trí đám cưới và cổng làng. Cứ nhìn những ngôi nhà bên đường sẽ biết Nghệ An xây nhiều nhà cao tầng hơn Thanh Hóa, ngay như tại Tĩnh Gia các nhà dân đều một tầng, đổ mái bằng, tầng trên có hiên đổ bê tông làm mái giả, thì ở Nghệ An đã có nhiều nhà xây hai, ba tầng hiểu cách “đa quốc gia” . Về trang trí đám cưới cũng có điểm khác nhau. Tại Thanh Hóa thì làm nhà bạt, có phông màu xanh, đỏ, vàng lòe loẹt nhưng ở Nghệ An các nhà bạt có phông màn bên cánh gà tạo dáng như cửa sổ. Đi qua Quảng Xương còn trông thấy bóng dáng cổng làng cổ, nhưng vào Nghệ An thì hiếm gập lắm. Thảng hoặc nếu trông thấy chỉ là một dáng cổng đơn giản ghép mấy thanh tre, thanh sắt, không có hoa văn. Tôi cứ băn khoăn mãi vì nỗi Nghệ An là đất khoa bảng, câu đối treo khắp nơi, lẽ nào lại không có cổng làng . Có người bảo tôi ; do hậu quả chiến tranh đã phá hết, ngày nay trong tiêu chí xây dựng Làng Văn hóa của Nghệ An không có yêu cầu xây lại cổng làng, không có yêu cầu viết câu đối tại cổng làng.
Đi qua Vinh, qua Bến Thủy là đã sang Nghi Xuân của Hà Tinh
Cầu Bến Thủy bắc qua sông Lam có tổng chiều dài 620 met, 7 nhịp bê tông dự ứng lực và 5 nhịp dầm thép bu lông có cường độ cao, mặt cầu rộng 10 mét, Quá trình xây dựng cầu Bến Thủy đã bao lần vượt qua những thử thách lớn : trận lũ lịch sử 1988 dã bẻ gẫy hàng trăm cột bê tong cốt thép, tiếp theo là cơn bão số 7 với sức gió 12 ập đến tàn phá tất cả nhưng gì đã có bên bờ Nam sông Lam . Nguy hiểm như vậy những người thợ cầu của Công ty Cầu 7 vẫn vượt qua để thông cầu đúng dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh
Lúc này đang là tiết tiểu hàn mua đông , xe đi qua sông La mà không biết nước trong hay là đục, chỉ nghe văng nẳng trong tâm thức bài ca thời kháng chiến :Ai biết nước sông Lam là trong hay là đục, thì cũng biết cuộc đời răng là đục là vinh

Theo sách địa chí “Lễ hội Nghệ an” Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An xuất bản năm 2005 thì ta đến Nghệ An là đến với một vùng văn hóa đặc sắc có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử.
Hàng năm ở Nghệ An có nhiều lễ hội, đó là lễ hội Đền Cuông, lễ hội đền Cờn, lễ hội đền Quả, lễ hội đền Vua Mai, lễ hội rước Hến, lễ hội hang Bua v v.
Nếu có thời gian đến với lễ hội đó, chúng ta như được đắm mình trong âm hưởng của những làn điệu dân ca, hát ví dậm, hát phường vải, ở miền xuôi hay các điệu nhuôn, điệu xuối, lăm khắp của các dân tộc ít người.
Tiếc rằng xe đi qua Nghệ An không có quãng dừng , nên chỉ có vài nhận xét sơ sơ mong bạn đọc cảm thông.
Đền thờ Quốc Công Nguyễn Xí thuộc xã Nghi Hợp huyện Nghi Lộc có quy mô khá lớn :
-cột hoa biểu gồm tứ trụ và bảng hổ.
-Hạ điện
-trung điện
-Thượng điện
       Lễ hội đền Nguyễn Xí tổ chức hàng năm từ ngày 30 tháng Giêng đến 2 tháng Hai là một lễ hội gắn liền với di tích, văn hóa làng và và văn hóa dòng họ kết hợp với nhau
Thần tích cho biết di tích được xây dưới thời Lê vào năm Đinh Hợi niên hiệu Quang Thuận thứ 8 (1467) để thờ Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí cùng cha đẻ là Thái bảo Đinh Quận công Nguyễn Hội và anh trai là Thái phó Nghiêm Quận công Nguyễn Biện


HÀ TĨNH QUÊ TA

Đi qua Diễn Châu, qua Vinh, qua cầu sông Gianh để rồi đi về phía bên kia sông là thị trấn Xuân An của Hà Tĩnh. Hình như tỉnh này đang cố tự khoe mình nên đi qua phố nào, thị trấn nào cũng đều trông thấy những công trình đồ sộ. Chẳng hiểu người ta xây vì quan hay vì dân mà to thế.
Thiên Cầm là vùng biển thuộc Hà Tĩnh. Gọi là thiên cầm có nghĩa là đàn trời, nhưng cũng có nghĩa là Trời bắt giũ vì ở đây cha con Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt .
       Tôi đã nghỉ tại buồng 208 Khách sạn Thiên cầm ngày 6-01-2007. Nơi đây Nguyễn Tấn Dũng khi đi kinh lý cũng nghỉ tại buồng số 212 (23/12/2006)
Bữa cơm tại Thiên Ý có mấy điều khác biệt :
- khách sạn to nhưng ít khách. Cơm nấu nát, không ngon như ở Thanh Hóa
Ba cô phục vụ đứng đợi lời chê trách, nhưng không ai nói gì.
Khu du lịch Thiên Cầm này ở Cẩm Xuyên,
Điện thoại 039. 962.345 - 039. 862415 - 039. 862. 410

      Vào Hà Tĩnh nghe kể một chuyện vui : Hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh kinh tế khó khăn. Thấy các tỉnh khác hợp lại làm ăn đều khấm khá nên đã nhất trí hợp hai tỉnh làm tỉnh mới. Tỉnh mới lấy tên là BÌNH TĨNH, có tỉnh lỵ đặt ở Đèo Nghếch (vì đã có Đèo Ngang thì phải có Đèo Nghếch chứ !)

Ngày 7/1/2007

QUA VÙNG KỲ ANH

        Đi qua vùng Kỳ Ninh, xe rẽ sang Kỳ Hải để tìm đường đến Đền thờ Bích Châu, Vùng này, dân mắc điện vô lối, dây là là trên đầu rất là e sợ. Mãi mới tìm ra lối đi đến đền thờ của Bà, Đây là nơi có lăng mộ của bà, có đền thờ và có cả một ngôi chùa. Người dân đến lễ đền vắng hơn đến chùa đọc kinh lễ Phật.
14 giờ. Xe đi qua hầm Đèo Ngang, không có gì để mà xem vì xe đi hun hút trong hầm. Bên kia Đèo Ngang đã là đất Quảng Bình. Hai bên đường, màu xanh cây nhiều hơn màu nhà mới.
Như thế là đã đi qua vùng Hà Tĩnh, tôi lặng ngắm phong cảnh. Ở đây cũng có cổng làng, nhưng kiến trúc đơn sơ chỉ giống như cổng ngõ thông thường.
    15 giò đến vùng Phong Nhà Kẻ Bàng . Đón khách là một bọn trẻ con, mỗi đứa cầm trên tay một tập ảnh du lịch Phong Nha Kẻ Bàng nài nỉ :
     - Bác ơi . Bác mua cho con tập ảnh, giúp con lấy tiền để tiền mua giấy bút đi học.
    Nghe mà thảm thiết, nhưng đó cũng là một “chiêu” mà moi tiền ông khách nào dễ dàng thương trẻ. Lúc này trời mưa to, mà đi thuyền 5giờ dưới mưa lạnh là điều mạo hiểm, nên chúng tôi bỏ qua Phong Nha, quay xe về chùa Yên Lạc thuộc xã Cẩm Nhượng huyện Cẩm Xuyên. Ngôi chùa này dã được Bộ Văn Hóa Thông tin cấp bằng Di tích Lịch sử do Bộ trưởng Bộ VH-TT Tràn Hoàn ký ngày 26/10/1994
     Chúng tôi đi qua nhà Thiêu Hương lên nhà Đại Bái nhìn cảnh tượng thấy đây là một nơi câu đối, tượng Phật, ngai ỷ bày rất lộn xộn. Cụ thủ từ cho biết hồi “chiến tranh và hoàn cảnh xã hội” nhiều di tích trong xã bị phá hủy, bà con mang đồ thờ vào chùa gửi nhờ, chính vì lẽ đó mà chùa Yên Lạc giống như một “bảo tàng nhỏ”, Nhiều pho tượng còn nguyên nét sơn của Mỹ thuật thế kỷ XVII, XVIII không bị bàn tay phàm tục của thế kỷ XX xâm phạm
Trong chùa có treo một cái khánh đồng rộng hơn 1met đúc năm Cảnh Thịnh thứ 7, trên mặt khánh khắc toàn văn bản “Kê Minh Thập Sách” của bà Phù Dung Quý Phi, vợ yêu của vua Trần Duệ Tông. Đây là một văn bản mà bà Bích Châu đã mạnh dạn dâng lên vua Duệ Tông, răn bảo nhà vua cách trị nước. Câu chuyện này đã được bà Đoàn thị Điểm viết thành truyện Hải Khẩu Linh Từ trong Truyền Kỳ tân phả
Kê Minh Thập sách khắc trên Khánh tại chùa Yên Lạc đã được bác Hoàng Lê phiên dịch lại như sau
1 / Bền gốc nước trị kẻ bạo tàn
2/ Giữ đúng quy định, xóa bỏ phiền nhiễu thì Triều cương ổn định
3/ Trị kẻ lạm quyền tránh họa ngầm cho đất nước.
4/ Đuổi bọn tham nhũng cho dân đủ sống.
5/ Chấn chỉnh học hành lễ nghĩa cho sang tỏ đất trời
6/ Mong nghe lời nói thẳng, mở rộng cửa ngôn luận như mở rộng cửa thành
7/ Chọn quân nhằm vào người dũng lực, không nhìn vào vóc dạc to lớn
8/ Chọn tướng nhằm vào người tài thao lược không nhằm vào thế gia
9/ Vũ khí cần sắc bén, không cần trang trí sặc sỡ.
10/ Tập trận thì cần chỉnh tề chặt chẽ, chứ không giở trog múa may cho đẹp mắt
Tại chùa Yên Lạc chúng tôi chỉ biết có bản Kê Minh Thập Sách giản lược thế thôi, nên đành tìm đường sang đền Bích Câu – nơi đó chính là Hải Khẩu Linh Từ mà bà Đoàn thị Điểm đã viết .
Xe đi qua cầu Rác qua cầu Kỳ Ninh rồi rẽ vào làng, đi qua làng ra con đường nhỏ ven biển có một bên là cây cối rậm rạp, một bên là mặt biển mênh mông, ta gập đền thờ bà Bích Châu ở đó.. Đây là nơi tương truyền có lăng mộ của Bà,
Qua cửa ra vào, đã trông thấy một tháp hai tầng, người dân đến lễ đền, xin quẻ ở đó. Vào trong sân mới thật đúng là đền Bích Châu với ba nếp nhà nối nhau hình chữ Tam. Tại nhà đầu tiên, các cụ đang cùng nhau đọc một bài kinh, khách dừng lại tại đây, không được vào phía sau Thượng điện (nóc thứ ba) Theo dân gian nói cho biết đó là nơi có ngôi mộ của bà. Nghiêm cấm người xâm phạm.
Theo chuyện kể của dân gian bà là con một vị quan, mẹ họ Phạm vốn quê vùng Bảo Lộc Hải Hậu. Bà mẹ đến năm 40 tuổi mới sinh được Bích Châu.  Cô lớn lên đẹp người, đẹp nết được cha cho học làu thông Kinh Sử, nên được tuyển vào cung, làm cung phi của vua Trần Duệ Tông, (1373 – 1377)
Nhân một đêm trăng sáng Trần Duệ Tông ngắm trăng ra một vế đối
-Thiên thu hoa các quải ngân đăng, nguyệt trung đan quế.
  Cung phi Bích Châu xin đối lại là :
         -Xuân sắc hoa đài khai bảo kính, thủy đế phù dung.
(tạm dịch đôi câu đối là :
         Trời thu gác tía treo đèn bạc, quể đỏ trong trăng
       Xuân sắc trang đai mở gương báu, phù dung đáy nước)
  Thấy cô đối đáp như vậy, vua Duệ Tông khen hay, tặng bà vòng đeo tai bằng vòng nạm ngọc, đặt hiệu bà Phù Dung
Bấy giờ là cuối đời Trần, chính sự nhiều điều hỏng nát, vua Duệ Tông là người ương bướng , làm việc tự theo ý mình, không chịu nghe lời can gián .Để răn vua, Bích Châu đã viết Kê Minh Thập Sách (sách đọc lúc gà gáy) theo gương người xưa dâng vua. Bà là một quý phi được vua yêu, trọng vì tài sắc nhưng không chịu ngồi yên hưởng thụ mà đã tìm cách răn bảo nhà vua đi theo đường chính Vì thế vua lại càng thêm yêu mến Bích Châu.
Khi quân Chiêm Thành gây chiến, nhà vua thân đi cầm quân nhưng bị sa vào trận giăc, tử nạn. Bà Bích Châu cũng tử nạn theo nhà vua trong trận đó. Quân sĩ đưa linh cữu hai người về Thăng Long, nhưng đến Hải Khẩu gập sóng to gió lớn thuyền không đi được, nên táng Bích Châu tại cửa biển Kỳ Hoa, lập đền tại đấy thờ bà.
Đây là nơi nổi tiếng linh thiêng, dân gian tôn bà là Thánh Mẫu nơi Cửa Biển.
Vua Lê Thánh Tôn khi đi qua đây, đã tặng bà danh hiệu “Chế Thắng đại vương Thượng đẳng thần”
Do những hoàn cảnh xã hội , nên đến năm 2007, Lễ Hội đền Hải Khẩu mới được tổ chúc lại nhân kỷ niệm 630 năm ngày mất của Bà.

... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 24.01.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn