Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        4.



 Con đê dài ngoằn ngoèo không có cây to. Sườn phía bãi, những đồng ngô, ruộng dâu lên xanh. Phía trong đê, lúa còn xanh hơn. Cỏ cũng xanh, sương ướt đầm đìa. Trâu bò thả kiếm ăn dọc con đê ấy. Dải đường mòn uốn lượn dày hố trâu đằm, chia mặt đê ra làm hai. Những đứa trẻ thả diều. Cánh diều giấy mỏng manh, rập rờn trong gió nắng. Bà Nhuần đang dọn vườn. Những tàu chuối già, rau lang gốc, bà dồn cả vào chuồng lợn. Lợn chọn ăn, dẫm nát lá lẩu thành một thứ bùn phân lõng bõng chờ dịp gánh ra đồng. Bà Nhị hớt hải từ cổng vào: 

     - Chị ơi! Họ kéo từng đoàn kia kìa. Lên mạn ngược xẻ đá làm đường. Nhà em giục sang bàn với chị, cho bọn trẻ nó đi.    
     - Mạn ngược là nơi rừng thiêng nước độc ấy ư?
     - Người ta đi, mình đi. Sợ gì? Họ khôn họ ăn cơm. Mình dại mình húp cháo. Ở nhà mà nhịn ư?
     - Nhà thím thế nào?
     - Thế nào là thế nào? Em đang sốt ruột, tìm chúng nó. Lớn lộc ngộc rồi. Bám mãi vào mấy dảnh lúa, mống dâu, quanh đời đói khát chứ báu gì? Em xem đứa nào thích đi, cho đi tất.
     Làng Tri Phong bé bằng lỗ mũi này đã xảy ra ối chuyện. Người ta đồn thổi ở Thanh Hoá đang làm cầu. Hải Dương làm đường. Yên Bái phá núi. Cẩm Phả, Đông Triều đào than.
     - Gớm! Nhiều việc thế làm gì cũng không sợ đói. Làng này, ngày nông nhàn ra ra vào vào, lượn lượn lờ lờ, chỉ tốn cơm. Tằm tơ nuôi cho có công có việc. Ăn thua gì. Mười phần hỏng tám. Mặt người ngắn như mặt tằm rụt. Thằng Cheo, thằng Choắt đâu?
      Dáng lon ton thấp thoáng, một đứa trẻ chạy vào:
     - Thím gọi cháu ạ?
     - Mày có muốn làm xa không? Anh mày, thằng Cheo đâu?
    - Cháu không biết.
    - Tìm nó, bảo nó về ngay.
    Quay sang phía chị dâu, bà Nhị dịu giọng: - Chị ơi! Cho chúng nó đi cho sướng thân chị ạ. Mình già chẳng nói làm gì. Chúng nó trẻ. Chúng nó phải đi tìm cuộc sống mới. Đi rồi nó lại về cơ mà.
    - Phải lo vợ con cho chúng có nơi có chốn đã chứ. Có gia đình chúng nó mới khôn được.
    - Không cần đâu. Lớn là khôn tuốt. Chị bàn bạc với cháu xem nhé! Em về đây.
    Chả cần biết ý chị, bà Nhị te tái chạy về. Nhà bà ngay dong đất bên cạnh.
    Bà Nhuần đứng nhìn theo, xao động lòng dạ. Ông ấy mất sớm để lại cho bà thằng Cheo mới lên mười, thằng Choắt lên sáu. Chúng bé như cái dãi khoai ấy. Đến nay đã bốn năm năm. Bà phải bỏ ngoài tai bao lời chu đáo, cặn kẽ hay băm bổ, sỗ sàng hoặc ỡm ờ nhăng nhít của lũ đàn ông sồn sồn trong làng, nuôi niềm hy vọng con cái lớn khôn, cửa nhà tươm tất. Ba mẹ con lặng lẽ dưới mái rạ một gian hai chái. Bà hiền lành nhẹ nhàng không như Nhị, em dâu bà. Đến đâu cũng ầm ào, ăn nói băm bổ, làm lụng xốc vác, lấn át cả chồng.
     Thằng Cheo đã về. Bà gọi nó vào nhà, kể lể lời đồn đại đông tây như thế. Thằng Cheo lạnh lùng: - Điều này con nghĩ lâu rồi. Chờ em con lớn tí chút, quán xuyến được nhà cửa là con đi. Việc của con mẹ không phải lo. Đời mẹ khổ quá rồi. Mang tiếng đất trồng màu mà làm không đủ ăn. Cay cực lắm. Đời chúng con phải khác. Con bàn với thằng Hán, thằng Cam rồi. Thằng Cam con chú Nhị ấy. Chúng nó nói phải hỏi cho chắc chắn. Đã ra đi, khi trở về, ngẩng cao đầu chứ bụng đói dạ rét, lẩn lút chờ tối mới lẻn về. Khổ cả người đi lẫn kẻ ở.
     Cheo đứng lên. Trước khi ra ngõ. Nó còn thủng thẳng:
     - Mẹ không phải lo. Việc chúng con mặc chúng con.
     Làm người, ai chẳng phải lo, nhất là những người mẹ biết chắc con mình còn thơ dại. Ở huyện Vũ Tiên này, ai không hiểu cây lúa gắn bó với con người thế nào. Kể cả dân phố. Nhà thờ, nhà đền, nhà chùa đan xen nhưng người dân quê lấy nghề nhờ ruộng làm gốc, sống thân thiện, dĩ hoà vi quí với nhau.
    Đêm ấy, chó sủa ran ran. Những bước chân thình thịch trên đê không đèn đuốc. Ai cũng phấp phỏng chờ xem chuyện gì xảy ra. Đến sáng các bà túm tụm hỏi han. Toàn những tin đồn hão.
 
    Tưởng mọi chuyện thuận buồm xuôi gió nhưng phải hơn năm sau, Động mới ra khỏi làng. Ông Độp còn ra oai, gây khó khăn mãi. Ông răn dạy chúng. Đừng tưởng mọi việc dễ dàng như vào ăn cỗ sẵn. Không ai cho không ai cái gì. Trả giá tất. Đừng tưởng bở. Thấy người ta ăn khoai vác mai đi đào. Ở đâu cũng phải làm sủi bong bóng mũi mới có miếng ăn. Nghe thì tin sao được. Mật đấy mà nếm. Ông cứ giảng giải sau biết không ngăn được Động, ông mua cả nhà lẫn đất. Anh em bìu ríu đi đâu sung sướng thì đi. Ông trả cho hai đồng rưỡi. Trừ tiền nợ, tiền lãi, còn lại chín mươi xu. Vì thương hai đứa, ông cho thêm cộng lại là chín hào hai xu. Cầm lấy mà đi đường. Hai anh em phải thương nhau. Em đói cũng như anh đói. Bước chân đi cấm kỳ trở lại. Nhà đất chẳng còn. Về làng cấy rẽ cày thuê, ở nhờ ở đậu, nhếch nhác dơ dáy, làm xấu lây đến họ hàng là không được.
     Hai đứa nhờ thuyền của người làng sang đất Hưng Yên từ tờ mờ sáng. Anh em Động cuốc bộ dọc đê sông Hồng rồi theo đường to, quá trưa tới phố Nối. Nằm vạ vật dưới gốc đa to ven đường, nghe người ta kháo nhau. Cầu Phú Lương, cầu Lai Vu đang bắc. Chỉ hơn năm nữa xong nhưng họ không nhận thêm người làm. Phía Bắc Giang, khởi nghĩa của cụ Hoàng đang lớn mạnh. Quân Pháp đưa lính lên, đưa kẻ bị thương về, đầu quấn khăn trắng toát. Động bảo em: - Ta đi Phòng. Xa nơi đâm chém nhau vẫn hơn, em ạ.
      Lếch thếch mãi đến chiều muộn hôm sau, hai đứa mới tới Hải Dương - nơi quen gọi là xứ Đông, tỉnh Đông. Ngủ gần cầu Phú Lương bộn bừa gạch cát. Nửa đêm mấy lần thức giấc. Tiếng chân chạy huỳnh huỵch. Tiếng la hét om sòm của người đuổi người trộm cắp.
      Mờ sáng, Động dậy giục em. Thằng Đậy mắt nhắm mắt mở. Khổ thân nó. Còn ngỡ ngàng cắt bổi trên Non, nó ú ớ mãi mới nhớ chuyện xảy ra. Lầm lũi bước theo anh, ăn vội vã mỗi đứa hai chiếc bắp ngô chiêm luộc, tìm về Hải Phòng.
      Qua mấy chặng dốc đèo, sông suối, lúc nhập đoàn, lúc tách lẻ, chúng đến Phú Thái. Thằng Giống vừa mới làm quen, đi cùng nhau khoảng ba cây số, bảo Động: - Về Đông Triều đi lối này, ngược Kinh Môn. Chậm lắm trưa mai tới. Còn theo nó, chờ thuyền ra Hòn Gai, Cửa Ông. Lối này tao quen rồi. Đi bộ từ Hòn Gai về Cẩm Phả, hoặc tới Cửa Ông. Theo thuyền vào sông Ông Dương hoăc đi bộ vào Cẩm Phả. Hơn ba giờ là tới. Tao vẫn đi như thế.
      - Đi lối nào hơn. Chỗ nào người ta đang thuê?
      Thằng Giống nhìn sang anh em Động Đậy: - Đâu chẳng cần người làm được việc. Đông Triều nghe nói gần quân khởi nghĩa. Hãi lắm. Đang ngủ, họ chĩa súng vào tai. “ Bòm” một cái. Chết không kịp ngáp.
     - Họ giết mình làm gì?
     Họ tưởng mình làm thuê là theo Pháp chứ có ai khoác lên cổ dấu hiệu tôi chẳng theo ai đâu? Cùng tao về Cửa Ông là hơn. Từ Cửa Ông ra Ông Dương hay lại theo tao về Cẩm Phả.
    - Theo mày đi đâu hơn?
    Vào Ông Dương thì nhàn. Nghe nói sông khá sâu. Ông Dương là người đi bè. Gỗ tre chặt xếp lại, chờ người chở thuyền, đóng bè về Quảng Yên bán. Hôm ấy mưa. Mưa xối xả ào ào từ thượng nguồn. Nước cuồn cuộn. Cá vật đẻ. Mày đã thấy cá vật đẻ bao gìờ chưa. Ghê gớm lắm. Nó mừng nước hay say đẻ, quẫy đạp thùng thùng dọc sông. Trong một lần văng mình lên cao, rớt xuống, quật vào bè. Nó bị choáng. Ông Dương đi xem bè, vớ của. Con cá tựa vào bè, miệng há ra như miệng chậu. Ông vung dao chém xả vào đầu nó. Con dao quắm của người thợ rừng nặng đến ba cân, dài gần một mét, bổ xuống. Chỉ một cái quẫy, nước bắn trắng xoá. Con cá mang cả con dao rời xa bè, không còn sức bơi. Máu hồng từng mảng nước. Ông gọi bạn sơn tràng ra, giằng kéo khiêng lên bè. Cả bọn hơn chục người dìu lôi con măng kìm lên. Chuyền nhau mổ cá, lọc ướp, ăn toái loái một ngày mới hết bộ lòng xương. Thịt lọc ra, ướp muối để giành. Ước chừng con măng kìm nặng tới năm chục cân.
    Từ đó, khúc sông ấy mang tên Ông Dương và vùng đất cũng mang tên ấy, sau đọc chệch thành Uông Dương, Mông Dương. Ở đó, người ta đào than, đào lò. Tao chưa vào nhưng nghe nói uất lắm. Phu lò tao thấy rồi. Mặt mũi chân tay đen kịt một màu than. Theo tao ra Hòn Gai. Từ Hòn Gai vào Hạ Lâm. Hạ Lâm cũng chuẩn bị đào lò hay qua Hạ Thổ làm than tầng. Tốt nhất cùng tao qua Hạ Thổ, Khe Hùm, Đèo Bụt, Quang Hanh về Cẩm Phả. Chỗ ấy tao quen tiếng bén hơi rồi. Chúng mày đi lớ ngớ thế này có chết đói. Không chết đói cũng chết chém.
    Hai anh em Động nghe Giống cùng đi bộ về Hải Phòng. Từ Hải Phòng ra Hòn Gai bằng thuyền. Cuốc bộ từ Hòn Gai về Cẩm Phả. Tính ra, quãng đường từ nhà đến mỏ, anh em Đông đi mất hai mươi bồn ngày.
 
     Đêm qua, Cheo thức khuya. Sau khi an ủi mẹ, dặn dò thằng Choắt xong, nó nằm mãi. Hi vọng ở những ngày chưa tới dồn lên, choán đầy đầu óc nó. Trong mơ nó còn mong được no nê bữa cơm nóng, ngùn ngụt khói, chan canh rau đay nổi từng mảng gạch cua.
     - Cheo ơi! Dậy chưa?
      Nghe tiếng người gọi, nó vùng ngay dậy. Mẹ nó lui cui trong bếp cho lợn ăn. Nó chào mẹ. Bà gọi lại dúi vào tay nó: - Này! Cầm lấy mấy củ. Anh em ăn đường. Nhớ bảo ban nhau.
    Cầm gói sắn luộc nóng bỏng buộc trong tấm khăn vuông của mẹ, nó chạy theo chúng bạn.
     Một bọn bảy tám người, líu ríu bước trên đê. Chân trời đằng đông rạng một vệt sáng sau bờ tre xanh. Cỏ ướt dưới chân họ. Đi đầu là ông Bội. Một người có tiếng cả quyết, ăn to nói lớn trong làng. Hai ông tuổi ít hơn, quãng gần bốn mươi. Bốn năm đứa choai choai, cỡ con cháu ba người đi trước. Ông Bội bước xăm xăm. Hai ông phía sau thỉnh thoảng ghé nhau to nhỏ chuyện gì rồi hối hả bước gằn hoặc cười thành tiếng. Tốp trẻ nheo nhéo lộn xộn, lúc ầm ĩ, lúc lặng ắng. Gío thoang thoảng tạt từ sông lên. Mấy cây bàng ven đê Nghĩa Tường đã nhìn rõ lá. Trời hoe hoe sáng.
     Ra khỏi làng, đi một đoạn xa mới gặp người đi ngược lại. Những tiếng chào hỏi, chúc tụng rộn ràng. Trời bắt đầu rọi nắng. Những thửa ruộng lúa xanh om. Những dải cỏ vươn dài theo đê đầm đìa sương. Nắng làm hơi sương bốc lên mờ nhoè phía xa.
     Đến dốc Ngò, cả bọn rẽ ngang.
     - Cứ theo đây lên sẽ tới Thuận Vi, Bách Thuận - Ông Bội giảng giải - đi lối này đỡ gần chục cây số.
     Lúa xanh rập rờn theo chân họ tới tận Thái Bình. Cây xanh đã bắt đầu lấn lúa. Nhà nhà bắt đầu liền nhau. Đang nắng, trời chợt xám đen, mây giăng mù mịt rồi mưa đổ rào rào.
     Cả bọn túm tụm dưới gốc cây ven đường, nằm ngồi ngả ngốn. Chờ dứt mưa, ông Bội tìm vào nhà quen. Lúc sau, ông ra, nét mặt khác hẳn:
     - Đi chiều qua rồi. Không còn thuyền đâu. Gìơ còn hai cách. Đi bộ ra Phòng. Tính dội dã tám mươi cây số. Tuy nhiều sông ngòi nhưng rộng lắm cũng chỉ bằng nửa sông Hồng đoạn chảy qua làng mình thôi. Sức trẻ như chúng bay sợ gì - ông hất hàm về phía mấy đứa - Đi mệt đâu nghỉ đấy. Tối đâu là nhà, ngã đâu là giường, trong vòng bốn ngày tới Phòng. Cách nữa quay về Nam Định, ra bến đò Quan, đi tàu thuỷ. Cách này nhàn hơn nhưng tốn kém.
     - Thế lại quay về lối cũ?
     - Không! Từ đây sang sông Hồng, phía Tân Đệ. Về Nam Định ra bến đò Quan.
     - Bác tính thế nào cho tiện thì tính. Chúng cháu có biết đường đi lối lại đâu?
     - Chúng mày mệt chưa?
     - Gần đứt hơi rồi. Lại đói nữa.
     Ông Bội vẫy ông Chành ông Ngạnh lại. Vạch ngang dọc xuống đất, ông chỉ chỉ trỏ trỏ. Bàn tính tỉ mỉ, các ông quyết định đi lối Nam Định.
     Đội hình không còn hăng hái sấn sổ như trước. Ai nấy lầm lì hẳn. Hai bên đường lúa phơi phới xanh, hứa hẹn một mùa bội thu. Nhà ở đây sát đường chứ không phải qua dong dọc dong ngang như ở làng. Thưa thoáng vài ngôi nhà xây, mái rạ, mái ngói tàu, ngói Pháp, ngói ta. Đôi chỗ gặp quán nước. Đường vắng, ít người qua lại. Vài chiếc xe ngựa lọc cọc trên con đường rải đá.
     Cơm nắm cho vào túi, gặp mưa bốc mùi. Vừa đi vừa bẻ từng miếng, nhai trệu trạo, nuốt chửng. Cũng chẳng nhiều nhặn lâu la gì. Mỗi người mấy miếng là hết. Ai mang gì người nấy ăn. Ăn xong, nước sẵn bên đường. Khoả nhẹ tay cho tan váng, vốc uống.
     - Nước nhiều vô kể. Uống như rồng cũng không hết - Ông Chành pha trò.
     Qúa chiều mới gặp đê. Sông rộng như ở làng. Ông Ngạnh làu bàu:
     - Hơn chục cây số. Đi lòng vòng. Mệt muốn chết. Hết cả ngày giời.
     Ông Bội giục mọi người sang sông. Chiếc đò mệt mỏi, kêu ken két. Nắng chiều xiên thẳng, đổ lửa, vắt kiệt mồ hôi trên mặt tốp lực điền.
     - Rảo cái chân lên. Càng chậm càng mệt.
     Sang bến đò Quan đã hơn sáu giờ. Hơi nóng hầm hập. Mấy người vợt nước sông xoa mặt, phủi quần áo. Cheo chưa đi xa bao giờ, ngồi phệt xuống, nắn nắn bắp chân, bẻ bẻ ngón tay. Cẳng chân đã sưng, đau mỏi và nóng.
     - Mọi người chờ tôi. - Ông Bội nói xong, đi luôn.  
      Gọi là bến đò nhưng tấp nập nhộn nhạo chứ không vắng vẻ, tiêu điều như bến đò làng. Ở quê, bên kia đò, Cổ Lễ sầm uất, người như hội. Chợ búa mua bán suốt ngày. Bên này chỉ lúa. Lúa xanh, lúa vàng, lúa cắm chân hương, lúa vừa cấy hoặc mạ và mả. Nghĩa địa làng án ngữ ngay cuối sông con. Qua sông, đến nhà Cheo chưa đầy trăm mét. Làng vắng, đồng vắng chứ đâu ồn ã như bến đò này.
     Ông Bội trở ra.  Ăn cơm hai trinh một người. Ai không ăn, nhịn. Tập trung lại mà ăn, đừng tản mát. Cả bọn dồn lại. Ai đi xa không dự trữ tí chút. Người dăm ba xu. Kẻ một vài hào. Cheo lần vào đáy túi, moi ra hai trinh, đưa cho ông:
-Tiền của cháu!
     - Đưa tao làm gì? Tao có bán cơm đâu. Ăn đâu trả đấy. Tao nói là nói giá cả như thế.
     Những tiếng rao “cơm đây” len lách vào tận ngõ phố.
     Ăn xong, ông Bội đi. Cả tốp dọn chỗ, nằm được một lúc lâu. Ông Bội về, nét mặt tươi hơn hớn:
     - Có chỗ rồi. Đến đấy làm. Làm thuê, đóng gạch cho người ta. Bảy ngày nữa mới có tàu. Anh nào có chỗ làm thuê, làm mướn ở đâu thì làm, lấy cái ăn đường. Ai muốn đóng gạch đi theo tôi.
     Tiếng ầm ầm như nước cuồn cuộn sôi, bùng ra:
     - Chết rồi! Mình bị lừa rồi!
     - Đi một ngày đẫy. Chân sưng như chân voi. Gìơ lại phải đóng gạch. Hơi sức đâu?
     - Bỏ mẹ! Nằm chờ tuần nữa, làm được gì? Lấy gì ăn?
     - Các lão ấy lừa chúng ta rồi!
     - Ai lừa? Câm mẹ nó mồm đi. Làm gì thì làm. Bảy hôm nữa tàu mới chạy. Tập trung lại mà đi. Không đi thì về - ông Bội trấn áp - Anh nào làm gạch đi theo tôi. Anh nào không làm, bảy ngày nữa đến, ra tàu.
     Ông Bội xăm xăm đi trước. Sau ông là Cheo. Lát sau, thêm hai người nữa: ông Chành và ông Ngạnh.
     Bốn người ở lại toàn thanh niên choai choai. Chúng bắt đầu rủa xả, chửi bới ầm ĩ: - Đã ngu còn rủ rê. Lúc đéo nào cũng đi … đi! Chết mẹ con người ta. Bố dí cặc vào. Có đứa nào về không? Qua đò, ngủ một giấc. Từ đây về Cổ Lễ hơn hai chục cây. Qua đò là đất mình rồi. Đi làm đéo gì. Chịu khổ sở thế đã quá đủ. Về thôi!
     Cả bọn còn lần chần. Ba chủ đò gọi: - Mấy cậu có đi thì xuống. Đò sang ngay đây.
     Bốn đứa ồn ào chạy.
     Sáng hôm sau, chúng cuốc bộ về Cổ Lễ. Ăn trưa rồi sang đò về Tri Phong. Gặp ai hỏi, chúng đều kể tội ông Bội lừa chúng, bắt đi bộ suốt đêm ngày. Các bà, các bác có biết cái vành rổ bung không? Từ đầu này đến đầu kia, đi chậm nửa ngày là tới. Đằng này, ông ấy dẫn đi vòng. Tròn một ngày quanh tỉnh Thái Bình rồi về Nam Định. Ngủ ngồi bến đò Quan, đóng gạch thuê. Chúng cháu phải trốn. Không thấy than gio gì đâu.
     Mấy bà người làng an ủi: - Thôi! Thế còn may. Các cháu ạ. Về làng làm ăn. Khổ một tí, cố mà chịu, được gần cha mẹ anh em.
     Ông Bội và ba người còn lại, xắn đất, cắt gạch thuê cho chủ lò. Chủ lò muốn làm nhanh để tránh mưa. Làm cấp tập được bốn hôm hết việc. Ông Chành, ông Ngạnh nói với ông Bội: - Mai về qua nhà. Hai ngày sau, chúng tôi lên. Chờ nhau bến đò. Từ đây về nhà chỉ nửa buổi.
     Ông Bội nói với Cheo: - Bốn thằng kia không biết thế nào. Hai ông này nói vậy chắc không trở lại.
     Họ không trở lại thật nhưng có công minh oan cho ông Bội. Ngoài cổng làng, các ông đã nghe tin Bội lừa bọn trẻ, kéo nhau vòng vo suốt mấy ngày rồi về đóng gạch thuê trên bến đò Quan. Ông Chành, Ông Ngạnh về, dội nước lạnh vào mớ tin đồn bỏng rẫy ấy.
     Chiếc tàu gỗ rẽ sóng. Hai bên hai cái guồng cao và chân vịt phía sau đẩy sóng sôi những dái bọt trắng. Cây cối hai bờ sông lần lượt khuất dần. Bây giờ, trên trời dưới nước. Con tàu đi, vượt hoặc để các tàu khác vượt rồi tàu thuyền cũng vắng. Từng đàn hải âu chao cánh,  trắng chấp chới trước sau.
      Hai hôm sau, tàu tới Phòng, đỗ bến Tam Bạc. Lần đầu tiên thấy biển, Cheo đã ngỡ ngàng. Lần đầu thấy nhà cao người đông, nó càng ngạc nhiên hơn. Họ đông thế, lấy gì mà ăn uống. Hôm sau, tàu ra Hòn Gai, đi Cửa Ông. Cửa Ông là bến tàu, quanh năm nước xanh ngăn ngắt. Đây là cảng lớn tụ tập tàu bè từ xưa. Thuở đó, kiểm soát và đánh thuế tàu thuyền ngọai quổc qua lại trên con đường vào cảng Vân Đồn, nước ta đặt các trạm hải quan dọc bờ biển. Trên bến Cửa Ông có một vị quan trông coi gọi là suất ty tuần. Cửa biển có suất ty tuần gọi là cửa Suất. Tiếng địa phương phiên âm thành Cửa Suốt. Đời Trần, con thứ ba của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Khi nhà Trần không chống nổi thế giặc mạnh phải lui về Vạn Kiêp, Trần Quốc Tảng mang gia nô binh lính của mình từ trang ấp ở An Sinh Đông Triều phối hợp với quân các lộ Hải Đông, Vân Trà, Bà Điểm xin làm tiên phong chống giặc. Sau  ngày chống Nguyên thắng lợi, ông được vua Trần ban khen, phong làm tiết độ sứ, cấp đất cho lập trang ấp ở Tĩnh Bang. Ông mất và được chôn cất ở Cửa Suốt. Nhân dân kính trọng gọi Cửa Suốt là Cửa Ông.
     Cheo cũng lần đầu được thấy núi nhiều như vậy. Cao chót vót, liền tù tì, dải núi này chưa dứt đã tiếp dải núi khác. Trên chất chồng đá ấy, cây cối vẫn mọc, xanh từng tệp từng mảng. Nó càng thấy nhỏ bé cô đơn  giữa cửa nhà, trời nước, đồi núi bao la. Những con cò xám cò đen cứ bay trước tàu từng đoạn rồi đậu nghênh nghênh chân núi đá. Thấp thoáng những làng chài thuyền mủng tụ tập rồi bờ bãi lại vắng lặng như vẫn tồn tại từ thuở khai thên lập địa.
     Tàu cập bến. Hành khách theo nhau bước lên. Cũng không nhiều, ngót nghét hai chục người. Họ tản nhanh vào các ngõ. Nắng còn gay gắt. Ông Bội nhắc:
    - Đường còn dài, hơn chục cây số nữa cố gắng mà đi. Không đi được thì nghỉ. Chả ai tính trước được. Đường này vắng. Có hổ dữ. Nhìn đất mà bước trông trời mà đi.
     Ông nói vậy chứ ven đường cũng có nhà ẩn dưới vườn cây rậm rạp. Những hàng rào đan mắt cáo đơn kép, ranh giới sở hữu của từng nhà. Đàn trâu dăm bảy con đi dăng hàng, trước cổ treo mõ, khua lắc cắc dưới bước chân đi. Trên những dải rừng xanh ngằn ngặt đã thấy những khoảng đất khác màu, đỏ quạch hoặc đen xám. Dấu vết của những băng tầng mới khai thác.
     Tối một lúc lâu, họ mới tìm vào được lán phu. Cheo bị sốt sau khi đến chỗ nghỉ.
     Mấy hôm sau, cơn sốt đã lui. Ông Bội dẫn Cheo vào tầng. Trông coi tầng này là cai Toàn. Mọi người gọi là Toàn cấu. Hắn vào tầng, đến đâu, đứng đâu thấy đàn bà con gái tiện tay là cấu. Lúc đầu có người chửi, hắn hềnh hệch: - Tao thích thế! Chuyện gì mãi rồi cũng quen. Có người tránh xa. Có người đi qua, chạy. Có đứa thủng thẳng mặc hắn cấu. Mất gì đâu. Cốt làm được việc. Có bà mắng: - Đồ nỡm ạ!
     Toàn xem quang xi ( phân kí)của Cheo, giục vào gánh. Hắn loanh quanh một lúc, đốc thúc quát tháo rồi lần ra mé tầng. Gánh nước uống vừa được đưa lên. Đám phu tụ lại, tranh  gáo múc, thổi, uống.
     Những dòng than trôi chảy trên vai người ra đến máng. Máng bằng tôn dày, bắc nghiêng xuống tầng dưới. Than đổ rào rào. Bên dưới có người xúc thành đống, xúc trực tiếp vào lồ, xúc loại ra tuỳ theo điều kiện. Lừa, ngựa sẵn sàng chưa? Sà lan có hay không?
      Ông Bội tìm, bắt cặp với chú Lờ, chú Lững. Người xả than xuống. Than đang nhiều. Chú xúc, chú gánh cùng Cheo. Bốn người một dây. Họ gánh đi như chạy. Bụi quấn vào bắp chân, rải thành bột mỏng dưới bước người đi. Những bước chân bào đá thành bột, bào mòn góc cạnh dù sắc đến mấy. Tại đây, Cheo mới thấy lời chúc nhau chân cứng đá mềm có ý nghĩa thế nào.
     Không ai bảo ai, họ làm từ tinh mơ đến nhọ mặt người. Ông bà, cha mẹ, vợ con… ở quê hương đang ngày đêm mong chờ giọt mồ hôi của họ biến thành những đồng kẽm trang trải nợ nần, đóng thuế nạp sưu, phu phen tạp dịch, lệ làng và giỗ chạp.
     Phía cánh tây tầng có tốp đào lò. Than đã ra, toàn cám nhưng đen mướt. Những người có kinh nghiệm đều biết, hết lượt than cám này sẽ đến vỉa của loại than kíp lê rắn chắc. Ông Chi mừng ra mặt vì đã vớ được vỉa mơ ước. Ông đôn đốc người chuyển gỗ, chặt gỗ xếp cửa lò. Nhìn than ra như xối, đen nhánh, ông thoáng đãng hẳn, vui vẻ cười cợt. Tuy chưa găp than cục nhưng than cám thế kia là trời bắt đầu phù cho ông rồi.
     Chi năm nay mới ngoài bốn mươi, chủ thầu cửa này. Chỉ bằng kinh nghiệm và gặp may, ông đã mở đúng vỉa. Than nhiều đến mức đầy kẻ tỵ hiềm, tìm cách phá. Chi dùng tay chân thân tín làm cầm chừng, kêu khó khăn, gặp đá kẹp để ngáng trở kẻ thóc mách, kẻ xấu bụng. Than ra như thác đổ đến mức lo chi ( lo gì) trong lò Chi ( lò của ông Chi). Nhiều năm sau này, Pháp ghi chữ lo chi trên bản đồ khai thác rồi thành Lộ Chí như mọi người vẫn gọi mà chả hiểu nguyên cớ gì, lí do giải thích thế nào. Có người còn bịa ra, cho đó là nơi những ý nghĩ suy đoán sáng suốt của con người lộ ra ( Lộ Trí) *
     Những người bần cùng nghèo xác xơ ở những miền quê. những kẻ tay trắng, những người hết nơi nhờ cậy lũ lượt kéo nhau ra mỏ. Những người vì trăm ngàn lí do muốn tránh tiếng, những kẻ tội tù hết hạn hay vượt ngục, những kẻ cầu bất cầu bơ, tận đáy xã hội vẫn còn chút ít hi vọng vào tương lai cũng kéo nhau ra mỏ. Bên cạnh đó, nhiều kẻ khó khăn không đến lượt, thích phiêu lưu đến miền đất mới, nông nổi hoặc sâu sắc, đã giàu còn muốn giàu thêm…cũng lên đường. Vùng than bấy giờ là lời mời gọi, hứa hẹn cuộc sống sang giàu. Đến nỗi có kẻ tưởng là mỏ vàng, đến vơ được, không phải đổ mồ hôi.
     Những dòng người tưởng như vô tận lũ lượt ra mỏ. Nhiều người gục ngã trong lúc than vẫn là niềm mong ước sục sôi trong đầu. Nhiều kẻ vỡ mộng. Nhiều người ăn may. Dễ dãi một tí có khi thoát được tai nạn khủng khiếp của bọn du côn, dao búa nhưng hung hãn, bất chấp có khi sạch bách, mất cả chì lẫn chài. Căn cơ thì khá nhưng khó giàu. Liều lĩnh thường ăn to nhưng nhiều khi chết mất ngáp.
   - Mọi cái trông vào trời cả thôi - Ông Bội thường tâm tình với Cheo, người duy nhất còn lại theo ông ra mỏ - Mình miệng sên dạ sứa, không thể trông cậy vào ai. Phải lo xa, phải cẩn thận. Than nhiều, không gánh xuể, cần biết tại sao nhiều. Than không ra được, đâu là nguyên nhân chính. Phải giỏi cháu ạ. Hiểu nghề cho kỹ bao giờ cũng hơn. Ai nấy gồng gồng gánh gánh nhưng gánh thế nào cho nhẹ, cho dẻo cũng phải học. Ông thấy cháu là người có chí. Chịu khó cố gắng làm. Trời có mắt đấy, không phụ người đâu.
  
     (*) Thực ra, Lộ Chí hay Lộ Trí cũng đều xuất phát từ đường lò khai than của cai Chi mà ra. Chí hay Trí đều do thổ ngữ vùng này. Họ phần đông người Hoa, người miền đông bắc một đời ăn sóng nói gió. Tiếng họ trầm nặng rất khó phân biệt ch hay tr. Ta còn gặp nhiều tên cũ được ghi ang áng theo thổ âm địa phương suốt đến cuối thế kỉ 20.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 23.01.2015.