Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





TRÍCH NHẬT KÝ






                                                CHỌN NGHỀ   

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân.

            Thơ Kiều Nguyễn Du



Tôi  sinh ra và lớn lên ở thị xã Hải Dương và học 10 năm phổ thông trong hòa bình.  Từ năm 1954 tới 1956, cuộc sống hết sức bình yên vui vẻ, những năm này sống bằng hàng viện trợ.  Rồi tiếp theo là những năm xáo trộn xã hội: con tố cha, vợ kể tội chồng, kẻ có công là kẻ  vu oan giá họa người khác.  Ông bà bố mẹ phải co cụm, không dám thật lòng với con cái.  Hạt nhân xã hội là gia đình bị phá vỡ.  Nghi ngại bao trùm gia đình xã hội.  Khi học cấp 2 (lớp 5, 6, 7), tôi chỉ mong làm giáo viên cấp một (lớp 1,2,3,4), vì lương 36 đ/tháng mà nuôi được vợ con. 30 năm sau, năm 1975 tôi là giảng viên đại học ngoại ngữ Thanh Xuân Hà Nội, lương chỉ đủ nuôi mình. Nhà tập thể không có, phải đi ở nhờ bà con họ hàng. Sách mang về  không có chỗ để.  Chỉ loanh quanh lo cơm áo gạo tiền hết năm hết tháng.   Khi mới về nước chỉ có tờ Giấy  thu hồi hộ chiếu. Muốn có gạo, thì phải làm đơn và trình tờ   Giấy  thu hồi hộ chiếu.  Tôi thấy, trong các nghề thì có hai nghề. Cắt tóc thì cứ đè đầu thiên hạ mà cắt.  Dạy học thỉ thiên hạ thích hay không thích, nhưng gọi bằng thầy.  Mình có học, có bằng cấp thì dạy học là hợp lý. Xin được về dạy tiếng Đức ở Trường Đại học ngoại ngữ Thanh Xuân Hà Nội, thì học lớp quân sự 3 tháng. Học xong được cấp Giấy chứng nhận sĩ quan dự bị.  Một hôm vào cửa hàng Kem bốn mùa  bên bờ Hồ hoàn kiếm, thấy nhiều xe đạp để trước cửa, mình cũng khóa xe, để trước cửa. Ăn kem xong ra chỉ còn xe đạp mình và Công an đứng cạnh xe. Bị hỏi giấy tờ mình lục các túi và nói: “Không có! ” Bị hỏi “Tại sao lại không có?”  Lục các túi lại thì thấy tờ Giấy chứng nhận sĩ quan dự bị.  Công an đọc rồi bảo:” Anh có thể đi được”  


DẠY   HỌC


Tôi được phân công dạy lớp Đ 3. Tôi có thói quen giảng bài xong là gọi sinh viên lên bảng thực hành, vì qua đó tôi thấy ngay sinh viên  hiểu bàì giảng đến đâu để lần giảng tiếp chỉn chu hơn.  Tôi gọi một nữ sinh lên bảng. Thấy nữ sinh chần chừ, tôi nói:”Ở lớp tôi là sĩ quan, sinh viên là lính. Sĩ quan hô xung phong mà lính không làm thì bắn bỏ.  Chị có quyền lựa chọn, lên bảng hay ra khỏi lớp.”

Ngày hôm sau, trưởng khoa gặp tôi và nói: “Anh không biết đó là lớp con cán bộ cao cấp à.”  Tôi trả lời: “Tôi không biết, cứ nghĩ, họ đến đây để học, chứ con nhà thường dân thì làm sao vào ngồi ở đây.”

Tuần sau tôi được chuyển sang dạy lớp Đ 7. Lớp này toàn bộ đội. Giảng  ngữ pháp tôi chép lên bảng mô hình hóa câu :  Chủ ngữ -vị ngữ tân ngữ gián tiếp tân ngự trực tiếp, cách 3 rồi mới đến cách 4.  Buổi giảng sau, tôi vào, cả lớp đứng dậy vỗ tay, hết giờ tôi ra,  cả lớp đứng dậy vỗ tay.  Tuần sau, tôi bị phê bình làm ồn.

Đại học ngoại ngữ Thanh Xuân cách Hà Nội 8 km.  Để đến đúng giờ học thì 6 giờ phải đi xe đạp tới trường. Ngày mùa đông đã rét lại mưa thì mới thấm thía thương người nông dân ngoài ruộng. Có ngày, sáng dạy học, chiều họp, tối trực đêm. Trưa ra quán ăn hai quả chuối tiêu, hai cái kẹo lạc, hai chén trà nóng.  Hồi đó, chỉ có Cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh mới được phép bán cơm .  Thời gian bị xé nát vào những chuyện trên, nên việc đọc sách bị chểnh mảng.


LAO ĐỘNG HÈ

3 tháng hè, các giảng viên phải đi đào sông Tô Lịch 1 tháng.  Tôi không đi nên vào đấu năm học mới bị các đồng nghiệp phê bình cả buổi sáng.  Tôi nhận khuyết điểm và nói:”Các đồng chí phê bình tôi là phê bình giai cấp công nhân – phê bình giai cấp lãnh đạo.” Trưởng khoa liền nói cuộc họp kết thúc.

Tuần sau tôi được mời gặp bí thư đảng ủy trường tại nhà riêng.  Bí thư nói: “Tôi cũng đi, sao cậu không đi. Tôi nói:” Một tháng sao so được với ba năm quai búa. Các đồng nghiệp của em mới đi lao động có một tháng. Em quai búa ba năm đâu có kể công.” Bí thư nói: “Việc như thế là xong. Cậu tuyệt đối đừng kể chuyện tối nay nhé.”


Bắc Kinh ngày 13 tháng 11 năm 1968


Sáng nay trời đẹp. Ánh nắng mùa thu chiếu trên đường phố, nhà cửa. Sau khi rửa mặt xong chúng tôi sang phòng chú Thương (nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương) nghe nói về chương trình đi chơi ngày hôm nay. Đến 8 giờ thì chúng tôi vào phòng ăn để ăn bữa sáng. Ăn xong, chúng tôi ra bến xe số 5 (bến xe phía tay phải – gần nhà nhất). Tới Thiên An moan chúng tôi xuống xe và đi bộ ngang qua quảng trường. Rồi chúng tôiđi ngang qua quảng trường, đi tiếp tới Cửa hàng bách hóa quốc tế (Bách hóa đại lầu cao 4 tầng) Chúng tôi được phát mỗi người 6 nhân dân tệ. Hầu hết ai cũng mua đôi dép lê, đôi bí tất và cái khóaTôi mua một cái bút máy “Kin Sin” loại ngòi vàng 4 nhân dân tệ, 1 cái cặp giấy 1,6 nhân dân tệ và một cái khóa 0,61 nhân dân tệ. Thế là không những hết mà còn phải vay 0,21 nhân dân tệ.


Quảng trường Thiên An mon chụp trong ảnh sao nó rộng thế, nhưng thực mắt nhìn thấy không đến nỗi phải ngạc nhiên, trầm trồ khi nhìn thấy nó. Nó dài khoảng 500 thước. Phía bean trái là tòa nhà quốc hội- một gian nhà lớn có thể 2 cặp đội bóng đá cùng ra sân một lúc (4 đội, mỗi sân 2 đội). Bên tay phải là Bảo tàng Cách mạng. Đối diện với khán đài (ở Thiên An môn) là Đài kỷ niệm. Trên quảng trường cũng như gần Khán đài từng tốp người đi qua lại. Có một vài toán , tốp đứng chụp ảnh kỷ niệm. Có một tốp giải phóng quân tay cầm trước tác của Mao Trạch Đông chụp ảnh. Ô tô lao vun vút chạy qua Quảng trường(mỗi bean có 3 đường cho xe ô tô chạy cùng chiều).


Đoàn chúng tôi đi bộ khoảng 2 - 2,5 km, có mấy người đi giầy chưa quen nên đau chân, đi khập khiễng, lò cò. Ở đây ô tô, xe đạp còn tránh người. Người đi bộ còn đi lại lăng xăng, lung tung trong long đường mà không theo qui định chung của giao thông.


Chúng tôi ra vào tới 4 cửa hàng tổng hợp. Rồi khoảng 12 giờ 15’ chúng tôi chạy ra bean ô tô để về nhà.


Bữa trưa nay thực sự là đói. Cơm trưa xong đã 1 giờ hơn. Chúng tôi đi ngủ.


Bắc Kinh, thứ năm ngày 14 tháng 11 năm 1968


Tôi có cảm giác đây cũng như nhà mình vậy. Cũng ánh sáng của mặt trời cuối thu, cũng bầu trời trong vắt hoặc trong xanh. Nhưng thời gian ở đây sao nó trôi đi nhanh vậy. Sáng ngủ dậy được một lát là đã đi ăn sáng. Rồi chưa kịp làm cái gì đã cơm trưa – và sau giấc ngủ trưa chả mấy chốc lại tối (8g -12g -18g).


Sau bữa ăn lót dạ sáng, chúng tôi : Cấp, Hồng, Dũng, San (những người ở cùng phòng số 12A ) đi chơi phố.


Nhà ở đây còn nhiều nhà cũ. Những dãy nhà một tầng thấp lè tè xây dựng theo lối kiến trúc cổ. Bên cạnh những đường phố rộng thì có những đường phố chật hẹp và không có vỉa hè.


Khắp Bắc Kinh ta thấy ở đâu cũng có rau cải trắng cuộn- từng ô tô- từng đống to trước nhà- trên các lan can-cửa sổ- trên các nóc nhà thấp lè tè.


Ở ngay khu ga Bắc Kinh người ta đang tiến hành xây dựng đường tầu điện ngầm. Ở đây ta không thấy đường sắt dùng cho tàu điện nữa, mà thay vào đó bằng Autobus. Ở đây xe buýt chạy nhanh, nhiều. Chỉ 2 – 5 phút là đã có một chuyến ô tô. Ta thấy ô tô, mô tô phần nhiều loại thông dụng là do Trung Quốc chế tạo. Nhưng bên cạnh đó ta thấy còn những cái xe xích lô(người đạp phía trước) với những ông già. Nhưng sao họ kéo khỏe vậy. Ước chừng tới ba bốn ta hàng. Ở các ngã tư lớn thì có đèn xanh đèn đỏ. Tuy có neon đỏ nhưng sao xe đạp vẫn cứ đi qua được?


Hai bên đường cây cối đã rung hầu như hết lá hoặc lá đã héo. Chỉ còn thấy loại chắp bách diệp, thông là xanh tốt.


Bắc Kinh, thứ sáu, ngày 15 tháng 11 năm 1968


Trời có sương mù nhưng không dày đặc lắm. Vẫn có thể nhìn thấy hình dáng người khác ở cách xa trên 100 mét.


Sau bữa ăn lot dạ sáng, chú Thương (nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương) dẫn chúng tôi đi “Hữu nghị thương điếm”. Sauk hi chúng tôi tới đó thì chú đi một mình tới “Bách hoá đại lầu”. Đoàn chúng tôi mua mỗi người vài thứ lặt vặt: Hộp dao cạo, cái cặp giấy, cắt móng tay, bút chì bi, bút máy v.v… Rồi 12 người đi bộ ra bean xe ô tô về nhà. Ô tô số 5 đưa chúng tôi về và đỗ ở ngay cửa khách sạn Bắc Vỹ (có lẽ họ biết chúng tôi trọ ở đây).


Trên đường về , xe chúng tôi gặp một đoàn giải phóng quân và nhân dân gõ trống, đánh chiêng rước ảnh Mao chủ tịch, xe phải dừng đỗ lại nhiều lần.


Trong bữa cơm trưa, tình cờ tôi gặp lại Độ- một học sinh cũ của Trường cấp 3 Hồng Quang Hải Dương (anh Độ là Điều học chung cấp 2 với tôi). Độ đi cùng với một đoàn quân sự sang Ba Cu Liên Xô thực tập bắn tên lửa.


Mình ngồi nói chuyện với nó cả buổi chiều. Chuyện cũ của thời học sinh, chuyện đời …


Tối tiễn nó lên ô tô buýt ra ga. Đến thì vội vã, ra đi lại cũng vội


Thứ bảy, 16.11.1968


RỜI BẮC KINH ĐI MẠC TƯ KHOA


18 giờ 20 đoàn tàu Liên Xô – toa ăn Trung Quốc- đưa chúng tôi đi Mạc Tư Khoa, chúng tôi rời Bắc Kinh.


Lên tầu được một lúc thì tới toa ăn để ăn bữa cơm chiều. Chúng tôi được ăn theo lối của người phương Bắc Trung Quốc: Mỗi người một bát canh riêng và bát cơm. Nói chung ăn kém so với ở Khách sạn Bắc Vỹ ở Bắc Kinh. Phòng chúng tôi thức tương đối khuya.


Chủ nhật, ngày 17.11.1968


TRÊN ĐƯỜNG ĐI MÃN CHÂU LÝ


Qua một đêm ngủ ngon. Sáng ra vừa mới mở mắt nhìn qua cửa kính tôi đã nhìn thấy tuyết. Tuyết nằm trên đường đi – hai bên đường sắt – và ở khắp mọi nơi.


Khi còn nhỏ, cứ tết đến , ngoài tranh Đông Hồ, tôi còn thấy tranh Trung Quốc có những cô gái với làn da trắng hồng, má ửng đỏ như má táo chín cây. Những cô gái phương Bắc Trung Quốc đúng như trong tranh vẽ mà tôi từng ngắm xem. Ngỡ ngàng , ngạc nhiên nên tôi mải ngắm nhiều hơn là nghĩ tới món ăn bày trên bàn toa ăn, lòng bán tín bán nghi, sao người trong tranh và người ngoài đời giốpng nhau vậy. Họ ăn mặct heo lối của người Trung Quốc nhưng gọn gàng, sáng sủa chứ không phải màu lam xanh mà mọi người ở Bắc Kinh mặc. Gần tới ga Tứ Bình đoàn tàu chạy chậm lại và đỗ ở đây ít phút. Chúng tôi mặc vội quần áo, rồi bước xuống sân ga. Tuyết- từng đống tuyết người ta quét trên sân ga.


Lần đầu tiên tiếp xúc với tuyết. Chúng tôi lấy giầy miết, rồi đá tuyết. Một cảm giác sung sướng và nhẹ nhõm lan truyền trong người khi miết tuyết và đá tuyết- ước mơ bấy lâu đã thành sự thật- mà 13 người chúng tôi thì 12 người là học sinh phổ thông, lần đầu tiên ra khỏi biên giới Việt Nam, lần đầu tiên ra nước ngoài – chỉ những ai ở tuổi thanh niên, ở khung cảnh đất nước đang có chiến tranh, thanh niên ra mặt trận, hàng năm chỉ có rất ít người được ra nước ngoài học, thì mới có cảm giác ấy.


Rồi đoàn tàu lại chạy và dừng đỗ ở ga Trường Sơn. Chúng tôi ùa xuống sân ga. Dọc hai bên đường tàu, nhà ga, chúng tôi thấy tuyết rơi đọng trên mái nhà, có những chỗ nó lại rơi thành những hình thù khác nhau như nước nến chảy từ trên trời xuống, gặp lạnh quá mà không kịp rơi xuống đất, mà rắn lại bám chặt trên mái nhà.


Thứ hai, ngày 18 tháng 11 năm 1968


MÃN CHÂU LÝ – GA BIÊN GIỚI


Đang giấc nồng, chúng tôi nghe chú Thương gọi dậy. Mới 5 giờ sáng. Vội vàng đi đánh răng, rửa mặt. Vì đông người nên mình chỉ lau mặt, rồi mặc quần áo xuống phòng đọc sách, quầy bán hàng của nhà ga.


Chúng tôi đi bách bộ dọc vỉa hè nhà ga, lấy làm thích thú với việc này.


HỒ BAÎKAL


Thứ ba ngày 19 tháng 11 năm 1968


Quen lệ như ở Bắc Kinh. Sauk hi rửa mặt đánh răng xong, chúng tôi mở cá hộp, bánh mì ra ăn sáng. Không ngờ ăn sáng xong, phải đi aăn trưa ngay.


Đoàn tàu chúng tôi chạy dọc hồ Bai Can. Bai Can hiền hoà, xanh lam, trong suốt, nhìn thấy đá cuội, rong ở dưới đáy.


Có những đọan đứng bờ bên này mà chẳng nhìn thấy bờ bên kia, chỉ thấy lờ mờ chân mây.


TRÊN ĐƯỜNG TỚI MẠC TƯ KHOA


Ngày 22 tháng 11 năm 1968


Một ngày đáng ghi nhớ trong mối tình hữu nghị- thân mật của Việt Nam – Liên Xô.


Chúng tôi nói chuyện với người Nga – Họ gồm nhiều hạng người khác nhau:


Người lính già đã về hưu trí nay đi nghỉ mát. Người đó đã đóng góp sức mình với nhiệt tình, tận tâm với Tổ quốc họ. Họ chiến đấu trong đại chiến thế giới 1941-1945. Và đã được thưởng hai huân chương trong những năm 1943, khi cuộc chiến tranh ái quốc của Liên Xô bước vào giai đọan quyết liệt – Khi Hồng quân bắt đầu phản công lại quân Đức.


Họ là những người thợ mặc áo lính- Họ là những chàng trai lái xe tăng ở Brest- biên giới Nga – Ba Lan.


Chúng tôi thấy thích thú nhất là khi nói chuyện với một thiếu tá lái xe tăng. Ông ta đã tham gia chiến đấu để giải phóng nước Đức, ông đã ở Đức 2 năm (Berlin - Potsdam- Leipzig-Hamburg).


Họ là nhân viên fục vụ trong ngành đường sắt.Có ông già: con trai, con gái, thanh niên-trung niên-bố cũng từng là lính, có công trong chiến tranh ái quốc vĩ đại bảo vệ Liên Xô-Trung Quốc và dựng lên phe xã hội chủ nghĩa.


Họ là bác sĩ- một người không còn em, em bị phát xít treo cổ.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 11.1.2015.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA LƯƠNG VĂN HỒNG TRONG VIỆT VĂN MỚI