Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





MƠ THEO TRĂNG






  Trong bài “Cảm Xúc” nhà thơ Xuân Diệu đã mở đầu bằng bốn câu:

                     “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió,
                      Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây,
                      Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,
                     Hay chia xẻ bởi trăm tình yêu mến (…)”

        Người bạn đồng hương đã kể lại với tôi rằng, thuở còn là học sinh trung học - ở tuổi 16, anh ta rất thích bài thơ nầy, đến nổi phải năn nỉ bạn mượn tập thơ về, chép lại để học thuộc! Anh “thích” nhưng chẳng biết “vì sao mình thích”! Cảm thấy hay, nhưng rồi cũng chẳng nói được “hay ở chỗ nào?”.

        Lớn dần lên, anh “quên bẵng” bài thơ từ hồi nào mà cũng chẳng biết! Thỉnh thoảng, nghe vài người bạn nhắc tên bài thơ, đọc vài đoạn - anh không còn cảm thấy “thích và hay” như xưa! Đó là giai đoạn anh bị cuốn vào chuyện học, chuyện thi ra trường như một cơn lốc. Anh sống vội vã và đầy lo toan. Anh đang có nhiều tham vọng…

        Sau khi tốt nghiệp kỷ sư công chánh, được bổ nhiệm về làm phó ty công chánh tại một tỉnh lỵ miền Nam. Nhiều năm miệt mài với công việc, anh được đề cử trưởng ty thay cho người cũ về nghỉ hưu. Cũng năm ấy, anh lập gia đình - và liên tiếp sinh hai người con trong bốn năm - một trai, một gái!. Để có thêm điều kiện đạt đến danh vọng cao hơn, cho gia đình sống sung túc hơn nữa, anh hợp đồng với vài nhà thầu trong và ngoài tỉnh thực hiện xây dựng nhiều tuyến đường. Anh phải làm việc ngày đêm ở ty mới có thời gian đi kiểm tra công trình đang thi công ngoài tỉnh, nhiều khi - ba bốn ngày mới về nhà. Có chút thời gian nào còn trống trong ngày, anh dành cho những cuộc hẹn giao tiếp, tìm kiếm thêm đối tác ở các nhà hàng, khách sạn…

        Vài năm sau, anh xây được thêm một ngôi biệt thự sang trọng ở ngay cạnh bờ biển, có xe hơi riêng, và vàng mua vào mỗi lần trên chục lượng…Thời gian nầy, anh cho biết - đã không còn cảm thấy “thích”, không còn cảm thấy “hay” về bài  thơ nữa - mà ngược lại, đôi lúc còn có cảm giác “ghét” và đã có lần “chê” bài thơ là sản phẩm của sự mộng mơ, hoang đường, không tưởng (…).

        Vào những ngày gần cuối tháng Chạp, trước khi rời Saigon về quê ăn Tết, năm 98 -  tôi tình cờ gặp lại anh ở một bến phà liên tỉnh trong chuyến về miền Tây thăm một người bạn văn đã xa cách gần 30 năm. Lúc chờ đợi chuyến đi, tôi tìm vào một quán café bụi dọc đường…Tôi không nhận ra anh trước khi gọi ly café đá. Lúc anh mang ly café đến chỗ ngồi - tôi nhìn anh, do dự giây lâu! Anh chợt kêu lên: “Có phải là cậu không?”.  

        Tôi hoãn chuyến đi, ngồi lại với anh gần suốt buổi sáng. Anh kể rằng, đầu năm 74, vợ chồng anh đã ly hôn. Hai đứa con nhất định đòi theo mẹ dù tòa cho anh có quyền nuôi dưỡng đứa con trai lớn. Chúng đã bỏ anh theo mẹ lên Saigon, dù mẹ chúng vất vã lắm mới xin được chỗ làm trong một xưởng may.

         Hơn một năm sau, anh trắng tay trên con tàu mua lại để di tản…

         Và, anh đã quyết định không trở về lại quê, lập quán café nhỏ dọc đường, để hằng ngày có thể “mơ theo trăng” mà gần hết cuộc đời anh đã lãng quên! Tôi đã rất bất ngờ (và bàng hoàng) khi nghe anh đọc lại bài “Cảm Xúc” với tất cả sự rung cảm chân tình. Trong giọng anh đọc, dường như có âm vang của những tiếng nức nở? Bài thơ đã khơi gợi trong anh bao kỷ niệm của thời tuổi trẻ, hay đã cho anh cảm xúc về một thiên nhiên bao la đằm thắm trước phận người nhỏ bé, mong manh?

          “Đây là quán tha hồ muôn khách đến;
            Đây là bình thu hợp trí muôn hương;
            Đây là vườn chim nhả hạt mười phương
            Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc...”

          Tôi rất vui khi nhận ra nét hồn nhiên trên gương mặt anh đã sạm khô vì bao tháng năm lao đao, mất ngủ. Anh cho biết, bây giờ anh đã sống rất đầy đủ: có “Trăng” là “đôi giếng mắt, đôi bờ tai, tay ấp ngực, giọng suối, lời chim, mưa khóc, nắng reo, sân nhà, lá cỏ (…)” - để bù đắp lại sự khổ đau mà anh đã ngu muội mãi mê chạy theo ảo tưởng; đánh mất hạnh phúc gần gũi đang ở trong đôi tay mình.

           Đôi giếng mắt đã chứa trời vạn hộc,
            Đôi bờ tai nào ngăn cản thanh âm;
            Của vu vơ nghe mãi tiếng kêu thầm...
            Của xanh thẳm thấy luôn màu nói sẽ...

            Tay ấp ngực dò xem triều máu lệ,
            Nghìn trái tim mang trong một trái tim
            Để hiểu vào giọng suối với lời chim,
           Tiếng mưa khóc, lời reo tia nắng đọng.

           Không có cánh nhưng vẫn thèm bay bổng;
           Đi trong sân mà nhớ chuyện trên giời;
          Trút thời gian trong một phút chơi vơi;
          Ngắm phong cảnh giữa hai bè lá cỏ...

         Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ,
         Mà vạn vật là muôn đá nam châm;
         Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm,
         Sao lại trách người thơ tình lơi lả ?”
.

          Tôi chia tay anh khi chuyến phà đầu giờ buổi chiều bắt đầu. Anh lại khiến tôi - một lần nữa, ngạc nhiên về sự thay đổi, chuyển hóa mới lạ, trong con người kỷ sư năm xưa vốn rất thực dụng: “Cậu ạ, tôi luôn hối tiếc rằng, nếu thuở ấy tôi chỉ biết “mơ theo trăng” một chút thôi, thì đời tôi đã khác rồi! Vợ con tôi đã không rời bỏ tôi như để tránh xa một nỗi đọa đày!”.

          Anh đọc tặng tôi bốn câu nhắn nhủ của Dalai Latma:

                  Ra đời, hai tay trắng,

                    Lìa đời, trắng hai tay…

                    Sao mãi nhặt cho đầy?

                    Túi đời như mây bay!”



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 11.01.2015.