Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        Chương 3.



 Người Pháp dự định xây biệt thự, cư trú lâu dài trên đất mỏ này. Nơi những vùng đồi lô xô như bát úp đã thấy tập kết vật liệu. Cát vôi gạch đá đổ tùm lum. Những đồi xa, đồi cao đã có người gánh thông non lên trồng. Những cây con mảnh khảnh, cao hơn gang tay run rảy trong gió lạnh. Họ đã có kế hoạch xây biệt thự, khu nhà làm việc hoặc thường trực, hoặc từ Pháp đến, từ Hà Nội xuống, từ Hải Phòng sang. Quanh những khu ấy, họ trồng đại. Cây cho hoa trắng vàng rất thơm và hoa leo, những dàn ti gôn hồng không hương.

    Than vẫn ra đều đặn. Sau nhiều năm khai thác những lò bỏ dở của người Hoa tại vùng Cọc Sáu, họ dịch chuyển vùng khai thác sang phía Đèo Nai. Nơi những chiều nắng, từng đàn nai hoẵng thong dong gặm cỏ sườn núi, chân đồi. Người Pháp gọi Đèo Nai là Condecep. Than ở đây nhiều, khai thác dễ, vận chuyển thuận lợi hơn. Trước đó, than từ Cọc Sáu chuyển bằng lừa ngựa ra Cửa Ông rồi theo thuyền về Trung Quốc. Nay than theo lừa ngựa xuống Cốt Mìn (Cột Min). Từ bến thuyền này, than được sà lan, sà lúp kéo về Hòn Gai. Số lượng than tăng dần hàng năm từ vài chục lên vài trăm ngàn tấn.

    Tầng vắng ngắt. Có nhiều lí do khiến than ra bị trục trặc. Mưa to, đất bết, đường tầng nhoe nhoét ghì néo chân người. Vỉa than dứt bắt đầu gặp đá. Than đang ra gặp cát sụt hoặc túi nước đổ ập xuống. Rất nhiều sự cố thất thường. Lúc ấy, cu li uể oải, ướt nhểu ra. Cai xếp mặt buồn rượi, lo lắng nặn óc tìm cách tháo gỡ. Sự cố có thể kéo dài một vài giờ nhưng nhiều khi kéo dài vài ngày. Cu li nghỉ, nằm nhà, ngao ngán buồn bã hay lại từng tốp đi lang thang.
Được ngày nghỉ, mấy đứa rủ nhau quanh tầng. Những đồi cây lúp xúp. Những cây sầm xanh thẫm loáng mỡ. Thân chằng dọc những khía vỏ, vặn vẹo vươn lên. Nhiều nhất là cu ca, bền bệt, muối. Những cây cu ca thân mềm ngọn nhỏ, ẻo lả trong gió. Những chùm quả xanh chín trĩu cành, nếm chua chua ngòn ngọt. Quả xanh chan chát ăn cho vui mồm chứ không được nhiều. Những cây muối ròn thân lõi rỗng vươn cao, gày guộc khô khốc trong giá lạnh đầu đông. Đến cuối xuân mới là mùa quả. Những chùm quả nhỏ dày, kéo trĩu cành. Những hạt muối mằn mặn chua chua, bọc trắng lá mầm còn ngủ bên trong. Những cây sơn, mùa này quả khô, đóng trên cây từng mảng. Những cây bền bệt thân nâu sần xước sứt sát, chùm lá kép cọng dài tụ trên ngọn, óng mỡ. Ngày mới ra mỏ, đứa nào đứa nấy chân tay nảy mụn, ngứa ngáy, gãi luôn luôn. Đến lúc cái xót đã lấn át cái ngứa, tay chân lầy nhầy nước vàng như nhựa. Hôm sau, tiếp tục những mảng nhựa vàng từ cơ thể khô đóng vảy lại, cái ngứa từ từ xuất hiện rồi nhanh chóng ran rả ra cả chân tay. Ông Đục bẻ lá bền bệt về, sắc đặc cho chúng tắm. Dăm bảy lần như vậy mới hết ngứa. Ông Đục nói do lạ nước. Có người bị sốt rét, bị ngã nước, mặt bủng da vàng, lúc rét run, đắp chiếu chăn quần áo lên không hết rét, lúc lại cởi hết, tung cả ra không hết nóng. Khổ sở trăm bề với người lạ nước lạ cái. Kiếm miếng ăn chẳng dễ dàng đâu. Phải chăm chỉ lắm, dè sẻn tằn tiện, chớ có đua đòi mới mong mở mày mở mặt ra được.
    Những con nhện làm chủ vùng đồi này. Bọn chúng định cư đã lâu đời. Nhiều loại nhện. Những con đen bóng, to như ngón chân cái. Sáu cái chân lông lá nghều ngoào, nhìn đã khiếp. Có con vàng óng, lốm đốm chấm đỏ trắng, thấy động xả hàng búi tơ. Có con vàng điểm chấm xanh, chấm đen đủ kiểu. Chúng giăng lưới khắp các cây cành. Cây cao cây thấp, cây khô cây bụi, thân đứng thân nằm, cành bổng cành la. Những mảnh tơ lưới cuả chúng sáng sáng đọng sương trắng muốt. Ném hòn sỏi lên cao, nhiều hòn mắc vào vạt lưới dày không rơi được xuống đất.
    - Thảo nào gọi là dái nhện,
    Ông Đục thường khuyên chúng đừng dại vào đấy. Dân Sán Dìu thường chôn người chết bán thiên bán địa trên đồi. Người Hoa thường táng treo trong những chum nhỏ trên cành cây cách mặt đất hơn một mét. Bên trong là xương người, đồng tiền cổ. Có những chum vại lâu đời bị vỡ, mảnh vụn còn rải rác. Đừng vào đấy và thấy những đồng tiền cổ rỉ xanh chớ có cầm vào. Dái nhện có nghĩa là nể sợ nhện. Thằng Bái, thằng Quân con bà Cả Thìa bị nhện cắn, vật vã vất vưởng chữa chạy khiến cả nhà sạt nghiệp.
    Ngày nghỉ, ông Đục không vào rừng, lòng vòng phố xá, loanh quanh mấy lán thợ. Dông dài cả buổi, về đến giường, ông nằm thượt ra. Cạnh ông, đám cu li đang uống rượu, hát hò ông ổng. Rượu uống với chuối xanh thái lát, chấm muối. Chúng mời. Ông lắc đầu thở dài. Không ngủ được vì bọn thợ đang tranh luận, sát phạt nhau, ông buồn vì những điều cao vót, sâu thẳm khác không thổ lộ cùng ai được.
    Hôm sau, ông gọi bốn đứa dậy, sang đầu lán, chờ ăn cơm. Mợ Nam thắc mắc nghỉ, ăn làm gì sớm. Ừ ào cho qua, ông đưa chúng vào rừng chặt gỗ. Dao mượn từ nhà mấy bạn thợ. Vừa đi, ông vừa giảng giải. Không thể ở đậu mãi được. Phải có nhà riêng. Nhà riêng mới tự do, ra đóng vào mở, không tuỳ tiện, tạm bợ. Nhà làm nơi gần lán bây giờ. Khi cần bạn bè có thể dựa dẫm nhau. Gỗ rừng chẳng thiếu, chỉ cách vài ba trăm bước chân. Ông Đục tính kỹ càng. Hôm đầu, vác đâm độ, mỗi người hai cây. Những cây dẻ vác về, cất giấu gần khu lán. Hôm sau vác tre. Khi nào cắt cỏ, đánh gianh hãy nói với cậu mợ Nam. Công việc này, ông Đục đã suy nghĩ đến tàn canh mãn khắc.

    Phạt cây đốt lửa dọn đất san nền, miệt mài hơn tháng sau, căn nhà lá hai gian hai chái đã ra đời. Cỏ tranh cắt, phơi được nắng, vàng xám. Tường róc buộc dứng trát vách. Nhà cột xà nóc gỗ, đòn tre. - Hàng chục năm mới phải làm lại. Mái cỏ đan dày thế chắc cũng được dăm năm. Cậu Nam đến xem, phán vậy.
    Căn nhà gọn ghẽ nằm sát chân đồi. Phía ngoài là nhà cậu Nam và lán phu trải dài, che khuất một phần tầm nhìn. Tạm thế đã, sau hẵng hay, ông Đục bàn. Đi làm nhờ người chung quanh dắng hộ. Họ phần đông cùng cảnh. Bán anh em xa mua láng giềng gần, sẵn sàng đùm bọc cưu mang nhau. Trời cho mạnh khoẻ, vài ba năm nữa, chúng mày vợ con đề huề, phải thêm chỗ. Cái khó ló cái khôn. Ăn thuê ở mướn mãi sao được.
    Ông Đục dựng xong nhà, có hớp rượu báo cáo tổ tiên, mừng và đãi thợ. Khi bà con gần gũi, thợ thuyền cùng làm và những người giúp đỡ thân thiết về cả, ông Đục nằm trên tấm gỗ, ề à kể lể. Mấy đứa trẻ dọn dẹp nghe câu được câu chăng. Chúng chất những chiếc bát to, bát chiết yêu, bát con nông choèn nhưng rộng miệng, khiêng ra suối rửa, trả cho cậu mợ chủ.
    Trở về, trời đã tối. Ông Đục nằm gáy pho pho. Muỗi từ đường từ phố bay sang. Dĩn từ biển theo gió kéo lên, thấy hơi người, táp cả lại. Bẻ ít le, Cải vụt xua làm phép. Chả cần rửa tay chân, chúng ồ nhau kéo vào nằm. Muỗi dĩn cũng vãn. Chúng chỉ hoành hành vào chập tối.
    Làm suốt ngày, tối về, ăn chập chuội, không khéo và cả vào lỗ mũi. Ông Đục thường đi nằm ngay. Họ vẫn ăn cơm tháng ở nhà cậu mợ Nam. Nhà riêng chỉ để ngủ. Tờ mờ sáng dậy, xoắn sợi dây thép, cột chặt cửa, sang ăn cơm rồi lên tầng. Cả ngày quần quật không ăn gì. Qúa buổi, mợ Nam cho người gánh nước lên. Nước nấu bằng lá bồ công anh, lá trẹo tía… cho tiêu độc. Đôi khi nấu cả dây mùm mũm, cuồng cuồng nhưng vì uống nước ấy mau đói, cồn cào gan ruột, phu phen kêu ca nên thôi. Mỗi tốp một dây. Người đào khơi than, người xúc, người vác gánh.
    Ăn cơm xong, ông Đục nằm nhà. Bốn đứa kéo nhau ra đường. Hai dãy nhà dài, chạy song song với con đường chả biết về đâu. Cả bọn đi đi lại lại, nhìn nhìn ngó ngó, nói vài câu bâng quơ. Những đêm trăng nhễ nhại, chúng cùng bọn con gái cười cợt, nô nghịch ầm ĩ. Cả một lũ hiếu động vô tư, không câu nệ ý tứ gì. Nếu anh chàng nào đó để mắt tới, có chút tình ý, lập tức các cô thay đổi thái độ ngay. Rụt rè cân nhắc từng bước đi, từng cử chỉ, lời nói. Tấm khăn che mặt, tà áo khép lại, giữ gìn. Lên tầng, đang đi đàng hoàng, thấy người để ý đến mình, gắn bó mật thiết là ngắc ngứ, tụt dần ra vệ cỏ. Những buổi tối trời, le lói vài vệt ánh sáng tù mù từ những căn nhà ven đường hắt ra. Xa chút nữa là vắng, là rừng. Tiếng thú hú kêu nghe lạnh lẽo. Đêm xuống, đường vắng, phố vắng. Gọi là phố nhưng chỗ tường xây gạch, chỗ nhà đóng vách gỗ, vách đất. Ông Đục không mấy khi thắp đèn dầu. Đôi khi rét quá, mấy người khuân củi gộc vào, đốt, nằm cho ấm, ngủ qua đêm…Lắm khi mệt rét, tự lăn vào gần bếp. Lửa cháy bỏng cả mặt, xém cả tóc. Nhiều khi ông Đục dậy thúc đi làm, chúng đã đứng lên rồi lại đổ xuống, ngủ tiếp. Quần áo nào có nhiều. Mấy đứa mặc chung nhau vài chiếc quần ống ông Đục mua sau hôm chạy mất cả tay nải bằng tiền nhặt được. Nó cộc và rách cả. Dùng được tất. Áo cũng đã nhạt màu, rách đến không còn chỗ vá. Đi làm đã phải khoác bao gai, khâu bằng dây gai, dây đồng tóc. Nhà cửa thế lấy gì mà chắc chắn. Dù chưa nghe ai kêu mất mát gì nhưng cẩn tắc vô ưu, chắc chắn cẩn thận vẫn hơn. Túi quần áo rách, họ thường mang gửi nhà cậu chủ.
    Quãng đường trước hai dãy nhà chỉ có đám trẻ con vác mũi câu ruồi đi khắp xóm. Chúng trần truồng chạy nồng nỗng trong nắng trong mưa. Mặt mũi nhem nhuốc, lòng thòng hai dải nước, Bố mẹ đi làm. Đứa lớn trông coi đứa bé. Chúng thoải mái thả sức vày đất nghịch cát rồi ngủ lăn lóc. Ruồi bâu vào dải nước mũi tanh tưởi ấy, tranh cướp nhau. Đứa bé nhột, co mu bàn tay lên lau. Nước mũi nhoè ra, khô đen từng mảng trên mặt.
    Lác đác mới thấy bóng người lớn đi lại. Họ từ nơi khác đến tìm thăm người thân, kiếm việc làm. Những người lôi kéo hàng, chuyên chở sản phẩm tiêu dùng cho dãy phố hoặc người làm công nhà nước đi qua.
    Cuối dãy, con đường đất chuyển than cắt ngang. Khi gấp, rầm rập lừa ngựa và những người trông coi chăn dắt. Mỗi con thồ hai, thồ bốn lồ than. Lồ đan bằng nứa, bằng dây thép. Đám trẻ con nhìn quen không thèm để ý. Người và lừa ngựa ào ào trong bụi phủ. Cây cối bên đường phờ phạc xơ xác. Bụi cuồn cuộn cả ngày lẫn đêm nếu sà lan, sà lúp đỗ dày mặt bến.
    Rét. Gío hun hút một chiều. Đống lửa do than củ xếp đốt giữa tầng hừng hực phả hơi nóng. Người làm than thi thoảng lại đến hơ tay, hơ chân cho ấm, lấy sức làm việc. Lửa bốc thành ngọn xanh. Mợ Nam nhắc mọi người đừng sưởi lâu, ngại, không muốn làm nữa. Sưởi nhiều da căng nứt như quả dưa bở, như quả na dai thì chó cũng chả muốn nhìn. Gío ù ù từng đợt. Những bông lau đuôi chồn trắng muốt, những bông lau cờ màu hồng đỏ, những bông le, bông ỏng ngả rạp. Trời hanh khô. Những bông lau, bông le chín. Gío giật. Chúng rùng mình bung ra hàng nắm bông khô bồng bềnh theo gió. Chỉ một tàn lửa, tất cả tầng bè, bùng cháy. Đám cháy to, lúc lặng lẽ, lúc ào ào, ồ ồ. Vài ngày sau, lửa tắt, để lại một màu tro than. Năm nào cũng vậy, lửa cứ cháy. Cây cứ đổ rụi, đen còng queo. Sang xuân, từ những đám tro than ấy, cây cối lại đâm mầm, vươn chồi giành giật cuộc sống từ đất đồi khắc nghiệt.
    Dòng người chậm chạp gánh đội. Than bò theo họ đổ ra, đến gần trưa đã thành đống cao ngất. Cả mặt tầng một màu xám, cựa quậy. Cu li mặc áo bao, khoác áo tơi lá vẫn không hết rét. Thằng Bào run cầm cập, quăng đôi phân ký vào chân Ao. Ao sừng sộ : - Ném thế mấy tí mà hỏng. Phải cẩn thận chứ.
 - Rét bỏ mẹ đi ấy! Thôi! Xúc vào!
   Mới dăm chuyến gánh vác từ tầng ra bãi, chẳng ai bảo ai, chân cứ tìm vào gần lửa. Làm không ra than thì dạ lép nhưng rét buốt thon thót không chịu được lâu. Những bước chân đến với lửa vội vàng nhưng khi rời xa lại uể oải. Thời tiết khô. Aó bằng bao tải cũng khô khao. Những vết thủng hở cả da thịt. Người đi, nhỏ lại trong giá rét.
    Cậu Nam hung hăng quát tháo. Phu phen làm lơ, lặng lẽ đào xỉa xúc gánh. Cậu cũng rét, lần đến gần lửa. Lát sau, mấy người thợ cũng tập trung lại.
 - Rét quá! Có thể còn rét hơn năm ngoái.
 - Thằng nào còn thuốc cho cậu xin điếu.
   Ông Đục giở gói thuốc lào. Thuốc gói trong lá chuối, còn bọc lá cải tươi:
    - Cho nó khỏi giòn. Này cậu.
    Khói phun mù mịt. Chẳng biết nghe ai, nam giới hút thuốc lào, nữ giới nhai trầu. Trăm người như một. Nơi rừng thiêng nước độc này, nhai hút những thứ ấy để chống sốt rét. “ Ai đi Cẩm Phả, Hòn Gai - Ho lao sâu quảng thối tai mang về”. Họ đọc cho có vần thôi. Thối tai không phổ biến lắm nhưng mùi nó nặng chỉ cóc chết mới đọ được. Trĩ mũi, sốt rét sâu quảng, chấy rận ho lao thì ít người không mắc nên họ đều hút thuốc hay ăn trầu hoặc nghiền cả hai.
    Hút xong điếu thuốc, thở khói. Gío bay đi tứ tán. Cậu lầu bầu:
- Rét quá! Lại quên trầu.
    Một chị tuổi sồn sồn mở túi: - Tôi có đây!
    - Cho xin.
    Bỏ miếng trầu vào mồm, nhai rau ráu rồi nhổ nước đầu, cậu nhắc:
    - Bà con ơi! Làm tiếp đi! Chiều rồi!
    Gánh nước uống mang lên, cạn tới đáy. Nam lầm bầm: - Nắng mệt kiếm cớ đi đái, đi ỉa. Rét vào uống nước hút thuốc. Các ông các bà thật lạ. Làm nhiều tiền nhiều, không chăm chỉ còn lười chảy thây ra.
    Rồi cậu cao giọng: - Làm đi bà con ơi! - Nước bọt bắn thành tia qua lời gọi ấy.
    Mợ Nam ngồi xa xa bếp lửa. Người vác than qua, mợ vạch một vạch xuống nền tầng. Ao đã vác được hai chuyến. Mợ Nam gọi:
    - Ao! Mày làm thế này à?
    - Dạ! Chỗ than này xấu.
    - Xấu gì? Xít đây chứ than đâu?
    - Dạ! Than cặp chược đấy ạ!
    - Cặp cái mả mẹ mày! Chỉ to mồm.
    Ao căm lắm. mặt nó tím lại. May sao, Cải thấy ầm ầm, chạy đến. Hai nắm tay thằng Ao định vung ra. Cải chen vào trước mặt:
    - Mợ ạ! Than xấu, chúng cháu sẽ cố loại ra lấy thứ tốt hơn. Mợ tha cho nó.
    Cải đẩy Ao đi.
    Cậu Nam bước tới:
    - Cái gì? Làm sao?
    Cải đã dội gáo nước lạnh vào cơn tức của Ao. Ao bỏ đi, còn lầm rầm: - Aò đi! Sợ đếch gì?
    Rét làm con người bớt nổi nóng.

    Than ra lúc rộ lúc vãn. Mùa than cùng với hanh hao rét mướt. Cu li mỏ vẫn lầm lũi khiêng vác gánh gồng làm giàu cho chủ và nuôi sống mình. Ở tầng việc không hết. Làm cấp tập hay dềnh dàng do có tàu vào ăn than hay không. Khai thác than thô sơ theo kiểu này, mỗi năm khu vực Cẩm Phả đổ xuống tàu vài trăm ngàn tấn. Chắc phải cần nhiều than, bên cạnh việc khai thác lộ thiên, người ta còn mở lò. Nghe đâu than đã ra. Ra nhiều, ở khắp vùng Cẩm Phả.

    Đêm ấy, trời lui phui mưa. Làn mưa bụi rải xuống đồng lúa vừa cấy. Động nằm mãi, trằn trọc không ngủ được. Sát bên Động, thằng Đậy lăn lóc từ lâu. Mấy năm qua, nhà nó tai ách ầm ầm. Bố nó làm đồng về, đang trưa, vớ lấy ấm nước nguội để trước hè, tu một hơi. Nghỉ được chốc lát, chưa kịp ăn gì, ông kêu đau bụng. Cơn đau dội đến ào ào, thúc lên thúc xuống rồi thượng thổ hạ tả. Mẹ nó hớt hơ hớt hải, mặt cắt không còn hạt máu. Bà con quanh xóm hú hồn gọi vía nhưng ông bố Động không bao giờ dậy nữa. Thằng Động, thằng Đậy ơ hờ bên xác cha. Mẹ nó lả đi. Người ta vực vào giường, kéo anh em nó sang nhà bác Độp. Sáng hôm sau, tai hoạ ập đến dồn dập. Mẹ nó không còn thở nữa. Động chả nhớ mình theo người đưa bố mẹ ra đồng thế nào. Nó mới mười hai. Em nó - thằng Đậy - lên mười. Mọi việc trong gia đình nhờ sự đứng ra lo liệu của ông Độp - chồng chị mẹ Động. Ngay khi đưa ma bố mẹ xong, hai đứa về ở nhà bác. Họ ăn uống, thở than, trò chuyện trong nhà ông Độp. Chị Nhiều - con ông Độp - cấm anh em nó về nhà: “- Trong đó, người ta rắc vôi, không cho vi trùng nảy nở. Bố mẹ em bị dịch thương hàn, thổ tả khiếp lắm. Chết người như chơi ấy. Không về được đâu. Ở đây chăn trâu cắt cỏ với chị”.
    Chuông nhà thờ Non đổ từng hồi trong lạnh vắng. Làng thôn tiêu điều. Từ ngày giáo dân làng Non vác thánh giá đóng trên đỉnh núi đến giờ, mỗi khi làm xa, bà con thường nhìn bóng nắng chiếu trên cây thánh giá mà tính thời gian. Gọi là núi vì nó cao giữa đồng ruộng sông hồ vùng trũng Thanh Liêm (Hà Nam) chứ như nơi khác gọi đồi còn khiêm tốn. Nhà thờ thấp. Tường xây mái rạ. Chiếc chuông đồng to treo bên gian trong, ngay chỗ giáo dân cầu nguyện. Tiếng đọc kinh ê a trầm trầm càng làm cho không khí làng Non buồn thảm. Họ đã mất hai mươi sáu người trong đợt dịch tả. Hai mươi sáu con người ở một làng nào có ít đâu. Lời kinh cầu nguyện cho hồn người khuất được thảnh thơi nơi nước chúa. Chả ai biết họ được gì ở nơi không sinh không tử ấy. Trận dịch đã làm dân làng táng đởm kinh hồn, vía bạt phách xiêu. Non có vườn trồng sắn. Sắn ăn củ và sắn ăn quả. Sắn ăn củ trồng hàng năm, thay lương thực. Sắn ăn quả trồng một lần, ăn quả, lấy vỏ giã nhuyễn trộn vôi khảm thuyền. Thanh Liêm là vùng đất trũng, chiêm khê mùa thối. Nước ngập hầu như quanh năm. Dân làng sáu tháng đi bằng tay, sáu tháng đi bằng chân. Sau mỗi căn nhà thường có thuyền mủng úp phòng khi mưa to gió lớn, sóng sông sóng đồng trộn lẫn, Người sống trên thuyền trên mủng trên mảng trên bè. Non là đồi cao, nước không ngập tới. Người sống người chết cùng nhau. Người mặt đồi, kẻ lòng đất. Ăn ngủ sinh hoạt trên đất tổ tiên nằm. Tổ tiên thì im lặng nhìn hậu duệ của mình lướt thướt tất bật vật vã ngày đêm.
    Động căng mắt nhìn vào đêm đen. Cặm cụi làm ăn thế này, sống còn khổ, làm sao trả được nợ. Sau ngày bố mẹ mất, anh em Động phải ở nhà bác Độp đến ba tháng. Một tối, bác Độp gọi hai đứa lại, dặn dò:
    - Mai! Các cháu về nhà. Ở bên ấy sinh hoạt cho tiện. Bố mẹ các cháu mất đi, thiệt thòi cho các cháu, cho các bác các chú, anh em họ hàng. Trời bắt thì phải chịu. Người chết đã chết rồi. Người sống vẫn phải sống. Các cháu còn nhỏ quá. Bác phải đứng ra lo thay. Số tiền chi phí còn ghi nợ lại. Để xem. Hai cỗ ván giá…Bác Độp tính toán từng khoản một, nghe rối tinh rối mù. Thằng Đậy đập muỗi lách chách. Con thạch sùng chặc lưỡi, chạy loanh quanh. Tiếng ông Độp vẫn đều đều:
    - Hai xu vôi bột rắc mộ rắc nhà. Tổng cộng một đồng sáu hào năm xu ba trinh. Các cháu đã lớn, cố gắng làm ăn trả nợ dần cho bố mẹ cháu được mát mẻ. Khó khăn còn nhiều nhưng cháo húp vòng quanh rồi công nợ cũng sẽ hết. Trời thương cho mạnh khoẻ, chả mấy nỗi.
    Ông cứ rầm rầm rì rì. Động thấy hai anh em còn nhỏ rồi đã lớn trong lời bác Độp chỉ vừa ba tháng. Nó hơi ngạc nhiên. Chả lẽ con người lớn nhanh vậy sao?
    Ba năm trời làm ăn chắt bóp, bữa đói bữa no, đến mùa chỉ đủ trả lãi. Cứ thế này khổ cả đời, nợ vẫn hoàn nợ. Phải tìm cách khác. Cách khác thế nào, Động chưa nghĩ được…
    Nhìn qua cửa sổ mắt cáo, Động thấy ánh trăng nhoè trong mưa bay, lúc mờ mờ sương khói, lúc đen như trôn chảo. Thằng Đậy nằm mơ thấy gì nhai chóp chép, vật cả tay vào bức vách. Trở lại nhà hơn ba năm trời, anh em có thêm được gì. Mọi thứ đều cũ đi. Mười lăm, mười sáu làm không đủ ăn. Ra tết, gạo còn vài ống, thóc già nửa bao. Một đồng sáu hào năm xu nợ còn đấy. Thế này, vài năm nữa cũng chả hơn gì.
    Trai tráng trong làng bỏ đi gần hết. Kẻ làm thuê mạn ngược. Người biệt xứ, tăm hư hơi tổn cố cất công tìm chả thấy. Anh Ba ở làng, suốt ngày dạ vâng. Đùng một cái, đi làm giặc. Ông lý trưởng tận mắt nhìn thấy anh bị xích trước cửa hàng cơm chờ người áp giải ăn xong đưa đi. Thấy ông, mắt anh trợn lên, mồm há ra, méo đi, hỏi không nói. Anh sợ liên luỵ quê quán. Thằng Cả hơn Đậy một tuổi, bỏ làng từ năm kia. Có người gặp nó, nách bị tay gậy, vừa ăn xin vừa ăn cắp. Nó nói nó đang tìm ra Cẩm Phả. Ở đó làm than, tiền cũng khá. Hay ta ra đấy xem.
    Thế rồi ý nghĩ ra mỏ đổi đời choán hết đầu óc Động. Ra ngoài ấy vất vả nhưng có người có ta, chả sợ. Để thằng Đậy ở nhà lo liệu cũng được. Mười bốn tuổi rồi còn gì. Nếu cần đến nhờ bác Độp. Nó vạch kế hoạch tỉ mỉ. Trong đầu óc còn non nớt của nó, tương lai như được giát bằng vàng bạc. Trưa mai, sang nói với bác Độp nhờ giúp đỡ. Chị Nhiều sang ở với Đậy. Vay bác mấy hào làm vốn đi đường. Số nợ mới xoắn xoả hai đồng. Làm được tiền cháu xin gửi lại. Em cháu còn dại, ở nhà mọi việc trông cậy vào hai bác và các anh chị. Nó vạch đường đi nước bước. Nào đã biết đâu ngoài luỹ tre làng sang cánh đồng làng khác. Con sông rộng cuộn khoanh mấy vòng rổi chảy đến nơi nào Động cũng không hay. Nhưng nó đã quyết. Đường ở mồm ấy. Không biết thì hỏi. Ra đường hỏi già về nhà hỏi trẻ. Lo gì.
    Trời sáng bảnh. Con chích choè than ngoài vườn cây đã khua mấy hồi. Động trở dậy. Hai mắt nó cay xè. Thằng Đậy đã leo đồi rồi. Chắc nó lên vơ bổi về đun bếp.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 01.01.2015.