Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





ÔNG GIÀ VÀ ĐỨA CON TRAI






Nguyễn Văn Tám là tên của một ông già, tính đến năm nay ông đã sáu mươi chín tuổi; số tuổi so với diện mạo ông không có gì chênh lệch, nghĩa là tóc ông bạc thưa thớt và khô, má hóp sâu bởi hai hàm răng chỉ còn sót lại vài ba cái nhưng hình như muốn rụng đột ngột, mắt ông lờ đờ hơi nhỏ lại, còn da dẻ thì nhăn nheo. Ông Tám vốn cao nên tuổi già càng khiến ông như ốm dần – càng cao thêm ở mỗi tuổi; nhưng đặc biệt nét mặt ông bao giờ cũng đờ đẫn, trông ngơ ngác, có thể nói là khó tìm được một ý nghĩ gì của ông nơi khuôn mặt trống trơn già cỗi đó cả. Nói tóm, ông Nguyễn Văn Tám không có gì đặc biệt, nếu đem so sánh ông với những ông già nhà quê nào đó, của bất kỳ tỉnh nào.

Ông Tám sống với đứa con trai nhỏ, thằng Nguyễn Văn Út, trong một ngôi nhà nhỏ lụp xụp, ẩm thấp; ngôi nhà cũng không có gì đáng nói, bởi nó cũng giống hệt như những ngôi nhà tranh vách trét đất ở thôn quê, của một gia đình nghèo. Đời sống của hai cha con ông cũng như những người trong làng: sáu giờ sáng ra đồng, bảy giờ tối trở về. Quần quật làm. Lam lũ sống. Tuy vậy, sau bảy giờ tối, ông được hoàn toàn ở không, cho dầu ông muốn chong đèn để đan thêm chiếc rổ, cái thúng, cũng không làm được. Sau chạng vạng một chút, theo lệ thường gần hơn một năm nay, mọi nhà đều tắt đèn, đóng cửa thật kỹ, dầu vẫn chưa ngủ. Đối với ông, việc tắt đèn và đóng cửa gài then sớm cũng là một dịp để ông nghỉ cho khỏe sớm mai còn đi làm, hay nằm nghĩ lơ mơ quanh quẩn cho vui; nhưng với thằng Út thì nó luôn luôn bực mình. Nó thường cằn nhằn: “Ngủ gì như gà, mới tối đã tắt đèn, đóng cửa!”
     - Chớ để đèn mà làm gì? Ông Tám nói lơ đãng.
     - Giờ nầy có thể mang đèn đi soi cá – Thằng Út vẫn nói giọng nóng nảy. Cha không nhớ, bấy khi giờ nầy mình thắp đuốc đi soi cá, bắt ếch tới khuya mới về sao?
     - Ờ nhớ! Ông Tám đốt thuốc hút.
     - Có khi về nhà đã khuya, mình còn đem giỏ ếch ra làm thịt, nấu cháo nữa. Thằng Út kể lại.
     - Cháo ếch ngọt đó chớ mầy – Ông Tám nói vọng lại từ chiếc chõng tre kê sát vách, trong bóng tối ẩm ướt và kín mít. Thôi, người ta tắt thì mình tắt, thắp đèn làm gì? Ông Tám thở dài: Mầy không nhớ nhà bà Guộc bị gọi cửa lấy hết gạo và tiền à?”
     - Nhớ chớ sao không? Thằng Út đáp – Cả nhà bà Sáu cũng bị lấy hết nữ trang, tiền bạc dành dụm, cũng vì chong đèn.
     - Mầy nhắc tao mới nhớ, bả với đứa con gái bả không bị mang ra mương bắn chết là phước lớn rồi. Giọng ông Tám bỗng thấp như buồn ngủ. Không biết ai giết lão Khải, lão tu hành...
     - Ban đêm tối mịt ai biết mà nói? Thằng Út đáp gọn.
     - Đêm tối quá… ông Tám nói như thở dài.
Từ ngày bà Tám và đứa con gái (con Nguyễn Thị Nhờ, chị thằng Út) chết vì một đầu đạn 105 ly chôn giữa đường khi đi nhờ chiếc xe dodge từ thị xã trở về, xác bay xa chỗ quả đạn nổ tới một đám ruộng, ông Tám và thằng Út bỏ công tìm một buổi cũng không sao thấy được cánh tay đã mất của Nhờ trong mấy đám ruộng; hai cha con ông đã sống lẩn quẩn và âm thầm như vậy. Ban ngày hai cha con ông ít có dịp nói chuyện, mỗi người một phần việc làm tranh với mặt trời, chiều tối mới được gặp nhau, thư thả nói quanh quất đủ thứ chuyện để chờ giấc ngủ. Bởi thế, dầu vắng bà Tám và con Nhờ, cả ông Tám và thằng Út cũng chẳng có gì thay đổi trong đời sống thường nhật. Họ vẫn đi làm suốt ngày, chạng vạng hối hả tắt đèn ngủ. Những đêm yên tĩnh, khó ngủ, ông Tám thường nhắc chuyện thằng Hai, con Ba. Ông nói câu nầy (tưởng như lúc nào cũng vậy) khi thấy thằng Út im lặng ở chiếc võng: “Chắc bây giờ thằng Hai đã có con, con Ba đã có chồng…” Ông nói giọng khô ráo, có chút gì hân hoan: “Chừng lũ chúng được trở về chắc là chật nhà…”
     - Anh Hai, chị Ba đi năm con mấy tuổi? Thằng Út hỏi băng quơ.
     - Chưa có mầy – Ông Tám trả lời. Con Nhờ đâu được hai tuổi gì đó...
     - Năm nay con được mấy tuổi rồi?
     - Mười lăm, tao nhớ năm sinh mầy, lụt lớn nước bò lên nửa vách nhà, mẹ mầy phải nằm nhờ nhà lão Khải chờ nước rút.
Ông Tám chợt cười.
     - Chừng nào anh Hai, chị Ba về hả cha? Bây giờ giọng thằng Út mới nghe đúng là giọng của một người đang nói chuyện.
     - Chừng nào tao đâu có biết. Giọng ông chợt buồn.
     - Chớ anh Hai với chị Ba không nói với cha sao?
     - Nói thì nói chớ hơi đâu…
     - Sao anh Hai, chị Ba không ở với cha nữa?
     - Tao đâu có biết! Ông Tám tự dưng gắt gỏng.
Từ khi nhẩm tính biết thằng Út gần đúng mười bảy tuổi, ông lo sợ cho nó. Ông thường nhìn nó với đôi mắt khác lạ nhưng nó không biết. Một hôm ông bảo: “Nầy, mầy tới tuổi không được vác cuốc đi ra đồng, ra soi nữa rồi nghe Út!”
     - Sao lạ vậy? Thằng Út ngạc nhiên.
     - Nẫu sẽ bắt mầy – Ông Tám buồn bã. Mầy hết tuổi là con của tao rồi.
     - Con không hiểu.
     - Tao cũng không hiểu, nhưng nẫu sẽ bắt mầy.
     - Còn cha thì sao?
     - Tao như một cục đất. Giọng ông trở nên trùng thấp: Mai mầy để soi cho tao cuốc nghe chưa?
     - Cha mà cuốc được đất soi à? Thằng Út nói với một nụ cười hồn nhiên: “Cha đừng sợ, con không muốn cầm súng, đeo lựu đạn hơn cuốc đất đâu!”
     - Tao cũng đâu có muốn mầy bỏ đám soi thửa ruộng, nhưng bây giờ không ai muốn được cái gì hết…
     - Nhưng mùa nầy đất cứng làm sao cha cuốc cho xuể? Thằng Út cãi.
     - Cứng thì thủng thỉnh mà cuốc, tao làm mười ngày không bằng mầy làm một ngày à? Ông Tám bắt đầu giận.
     - Làm như cha vậy khi bắp đậu nẫu có trái mình mới đem gieo hột. Thằng Út chợt cười lớn.
     - Kệ tao – Ông Tám gắt. Mầy muốn bỏ tao đi như thằng Hai nữa à? .
Từ sau lần nói chuyện đó, thằng Út đã chịu nghe lời ông Tám sống lẩn quẩn trong nhà, ngoài vườn, âm thầm và lén lút như những con chuột. Nghĩ tới sự lúng túng, bối rối, và nhất là giọng nói như hốt hoảng, kinh hãi của cha, nó biết được rằng, nếu nó không nghe lời, người ta sẽ bắt nó, đem nó đi vào một chỗ nào cực khổ, tăm tối lắm. Nó cố gắng tưởng tượng tới cảnh tượng sẽ bị đầy ải ghê rợn, để dằn bớt sự buồn bực khi phải giam hãm đôi chân, ẩn nhẫn sống như những kẻ tật nguyền.
Một buổi sáng đầu tháng tư, khi vừa ôm bó rơm định cho con bò vừa mua được ăn trước khi vác cuốc rời khỏi nhà, ông Tám đã buông bó rơm, ôm ngực ho. Cơn ho dài, dai dẵng, nặng nề. Vẻ mặt ông bất chợt xanh tái, ngờ ngệch, đôi mắt mờ đục, và ông chuệnh choạng, ngã xuống đất. Thằng Út từ trong nhà chạy ra, hốt hoảng: Cha sao vậy?
     - Không sao, tao chỉ ho thôi và đau ngực thôi. Ông gắng mở to đôi mắt, gượng ngồi dậy.
     - Để con làm thế cho, cha vào nghỉ đi. Thằng Út cúi xuống xốc vào đôi tay ông Tám – Cha phải nằm nghỉ vài hôm nữa, con thấy...
     - Không. Ông Tám thều thào – À nầy, con bò đó tốt lắm. Gắng nuôi nó, mua thêm một con nghé nữa để sau vợ chồng mầy làm vốn nghe Út.
     - Nhờ trời… Thằng Út nói nhỏ bên tai ông.
Trưa hôm đó nó rời nhà lúc ông Tám thiếp ngủ trên võng cột ngoài vườn. Nó đi thẳng ra soi, cuốc, dọn bờ, nhặt cỏ. Gần xế chiều, nó đi mở nước ruộng mấy sào vừa cấy được ít lâu. Được làm trở lại công việc quen thuộc cũ, nó sung sướng, cảm thấy thoải mái, yên tâm hơn là lẩn quẩn ở nhà. Lúc nó băng qua đường trở về nhà, hai người lính từ ngã chợ chạy tới, súng hướng vào người nó: Ê, chú kia, đứng lại.
Một người lính hỏi:
     - Giấy tờ đâu?
     - Tui để ở nhà. Nó trả lời.
     - Sao không mang theo? Người lính gắt.
     - Đi cuốc đất cũng mang giấy tờ theo à? Thằng Út hỏi lại.
     - Đi đái cũng mang theo. Người lính sừng sộ. Đ.m. trốn hả?
     - Lại đằng kia ngồi cha nội. Người lính thứ hai cười.
     - Cho tôi về nhà lấy giấy tờ... Thằng Út sợ hãi.
     - Về làm gì? Người lính vẫn giọng hằn học.
     - Lấy giấy tờ, cha tôi cất.
- Khỏi cần. Người lính vừa cười, nói: Tướng mầy dư sức cầm súng.
     - Nhưng cha tôi đang bệnh mà. Thằng Út ngơ ngác.
     - Không cần thiết. Chuyện đó đâu có ăn nhập gì tới chuyện trốn lính của mầy? Hai người lính kéo nó xuống chợ. Ở đó, có một tốp người đang ngồi dưới gốc cây, có lẽ họ cũng đang chờ xe đưa về quân vụ thị trấn.
Ở nhà, chiều hôm đó, ông Tám đã khóc với tin thằng Út đã leo lên xe nhà binh, xe chạy thẳng xuống thị xã. Ông nhớ tới hình ảnh được trông thấy tháng trước, mấy người ở xóm trên bị bắt, đưa xuống chợ, cũng đã bị đẩy leo lên xe. Họ lơ láo, xanh xao, chậm chạp. Chiếc xe trở đầu, vụt tới, chạy thẳng. Mấy người thân của họ còn lại, ai nấy cũng sửng sốt, dõi mắt nhìn theo mà nước mắt chảy ròng. Chiếc xe khuất mất sau đám bụi mù, trong con đường gập ghềnh khúc khủyu, như đang cắm đầu chạy vào chốn ngục tù, buồn thảm. Một chỗ có súng, có đạn, có nón sắt, có chém giết, đang chờ sẵn. Ông Tám nói trong tiếng khóc đã khàn đục, chùng thấp, đứt quãng: “Con ơi! Cha đã nói nẫu sẽ bắt mầy mà mầy không chịu nghe…”
     - Sao anh không chịu làm cho nó cái giấy xin hoãn dịch? Lão Tư hỏi, giọng uể oải.
     - Giấy… hoãn dịch gì? Giấy tờ gì tui đâu có biết?
     - Là cái giấy xin cho nó được ở nhà cuốc đất đó.
     - Ở nhà cuốc đất làm ruộng mà cũng có giấy tờ sao? – Giọng ông Tám lơ lửng. Ai cho cái giấy đó? Ông rên rỉ – A bán cái giấy đó đâu, anh Tư?
     - Thiếu gì? Lão Tư nói lơ đãng, Đổi con bò của nó chớ mấy…
     - Đổi con bò? – Ông Tám sửng sốt. Đổi con bò thì làm sao có vốn liếng cho vợ chồng nó làm ăn? Ông tiếp tục khóc, như một đứa trẻ…

* *
*

Một buổi chiều đầu hạ, khi những cơn gió Nam thổi lồng lộng khô nóng ngột ngạt của khí núi tràn về, ông Tám đi thơ thẩn trong vườn chờ mặt trời lặn một chút, để đóng cửa ngủ. Bầu trời buổi chiều đầu hạ êm ả, tịch mịch, giống như những năm gió sớm thổi dữ dội qua làng và cánh đồng xơ xác. Ông Tám sống cô quạnh từ lúc thằng Út leo lên xe đi xuống phố. Nó đi biệt. Hình ảnh tốp người chậm chạp leo lên xe được trống thấy tình cờ là hình ảnh cuối cùng về thằng Út trong đầu ông. Trong lúc tưởng nhớ nó, ông luôn luôn thấy bóng thằng Út leo lên xe. Vẻ mặt nó cũng ngơ ngác, buồn bã như những người ông được chứng kiến dạo nào. Mỗi bận thương nhớ con, ông đều có ý nghĩ muộn màng đau đơn nầy: “Sao không đem con bò để đổi cho nó cái giấy ở nhà cuốc đất?” Bây giờ, nó đã leo lên xe, con bò còn đó, càng khiến ông hối tiếc và buồn bực về sự ngu dốt của mình. Hễ nhìn thấy con bò, ông lại nhớ tới thằng Út, chuyện vợ con của nó, như một ám ảnh không thể rời xa chiếc đầu tóp khô, cằn cỗi của ông. Hơn một tháng nay, đêm luôn có súng nổ, ngày bất chợt thấy từng tốp người lạ mặt lén lút trở về làng, ông Tám càng sợ hãi, đầu óc bỗng tê nhức, nóng ran. Từ hơn một tháng nay, đèn phải tắt sớm hơn và cửa ngõ cũng phải đóng gài sớm hơn. Ông nghĩ, nếu có thằng Út ở nhà, chắc là nó sẽ tha hồ mà cằn nhằn mỗi lúc đóng cửa.
     - Ông già – Tiếng gọi phía sau lưng vọng lại.
     - Ông hỏi ai? Ông Tám đưa cánh tay lên che mắt.
     - Có phải ông cứng đầu chống lại chúng tôi không? Gã đàn ông nói giọng rắn rỏi.
     - Tôi cứng đầu à? Cái đầu tôi đã khô héo rôi.Tôi không có cái gì để chống cả. Tôi chỉ là một cục đất – Ông Tám nói thản nhiên, trong lúc gương mặt đã biến sắc.
     - Ông cho con ông cầm súng bắn lại chúng tôi. Gã đàn ông gằn từng tiếng – Ông đắc tội với cách mạng, với nhân dân...
     - Ông muốn con tôi như thế nào?
     - Phải cầm súng chiến đấu như chúng tôi…
     - Nó bị bắt. Ông Tám ngập ngừng, nhưng tôi không muốn nó cầm súng giết người, dầu là súng nào, tôi muốn nó cầm cuốc…
     - Hà hà, tên phản động – Gã đàn ông bám một tay lên vai ông Tám. Ông chuẩn bị mười lăm ký gạo để ngày mai đi học tập.
     - Tôi đâu có mười lăm ký gạo mà chuẩn bị?
     - Bán con bò kia đi. Gã nhếch miệng cười.
     - Đâu có được. Ông Tám bỗng giật mình: Con bò để vợ chồng nó làm ăn kia mà.
     - Ông có muốn mất con bò đó không?
     - Con bò của con tôi làm sao mà mất?
     - À vậy, sao ông để con ông đi lính cho chúng?
     - Nó đã mười tám tuổi, không thuộc về tôi nữa rồi. Trên mười tám tuổi tôi hết có quyền về nó, nó thuộc hai chính phủ, bên nào bắt được thì nó đi lính cho bên đó, chứ làm sao?
     - Ha, ông lại cứng đầu. Sáng mai… Gã đàn ông bỏ đi, dáng lầm lũi, nặng nhọc.
Trong đám người toàn đàn bà, bà già, chỉ có ông Tám và lão Tư là đàn ông; tất cả ngồi trên khoảng sân của một ngôi nhà hoang. Ánh nắng buổi sớm đã chiếu rực rỡ trên mái hiên tranh cũ rách, có nhiều xác lá khô mục, những ngọn cây cỏ non đâm chồi. Trước mặt họ, gã đàn ông (chiều hôm trước đã tới nhà ông Tám) vung tay lên không, bằng giọng nói rắn rỏi cố hữu, gã nói tới mấy chữ: “cách mạng, tự do, dân chủ, độc lập, hạnh phúc, ấm no…” trong lúc đám người đều cúi đầu, lắng nghe. Hầu hết, những người đàn bà có mặt đều mang con theo, những đứa trẻ độ vài tháng tới một hai tuổi gì đó, nhưng đứa nào cũng rách rưới như mẹ nó, và gầy xanh. Những đứa quá nhỏ nằm thiêm thiếp ngậm chiếc vú nhăn nheo như cái mướp khô, còn những đứa lớn hơn thì nằng nặc đòi vuột khỏi vòng tay của mẹ nó. Ông Tám và lão Tư ngồi trước hết ngẩng đầu lên, mắt mở lớn, họ có dáng vẻ không còn biết gì nữa ngoài những lời nói sang sảng giận dữ của gã đàn ông.
Phía sau gã đàn ông, thấp thoáng phía vườn, người ta thấy có nhiều bóng đen di chuyển, súng cầm tay, một cách lặng lẽ.
     - Bà con đã thông cảm chưa? Gã đàn ông kết luận.
     - Thông cảm! Tiếng ông Tám và lão Tư cất lên.
     - Còn mấy chị, mấy bà kia nữa – Gã chòng chọc nhìn.
     - Thông cảm – Nhiều tiếng nói cất lên rời rạc, yếu ớt.
     - Tốt. Vậy, là bà con đã thấm nhuần cả rồi, xuống dưới đó bà con hãy tranh đấu quyết liệt để đòi con, cháu, chồng trở về, đừng đi lính cho chúng nữa, nghe chưa?
     - Nghe! Tiếng lão Tư trả lời.
Đám người bắt đầu rời khỏi làng, băng qua cánh đồng lúa mặt trời đã lên cao. Nắng gắt, gió se khô. Họ âm thầm băng qua cánh đồng, như đám người du mục. Ông Tám đi cạnh bà Sáu, bà ta bồng đứa con út gần một tuổi, nó đang thoi thóp thở. Bà Sáu hỏi: Ông Tám, lúc nãy ông đó nói gì vậy?
     - Tôi không hiểu. Ông Tám nói giọng lơ đãng.
     - Phải ổng nói với bà con mình không?
     - Chắc vậy, ông Tám lộ vẻ bực dọc. Tội nghiệp con bò cả ngày không ai cho nó ăn. Ông thở dài.
     - Con bò hôm thằng Út mua phải không?
     - Đúng rồi, đâu có con nào khác nữa? Lão tặc lưỡi – Con bò tốt lắm.
     - Tội nghiệp thằng Út – Bà Sáu buông thõng, mệt mỏi.
     - Thằng Mẫn cũng không có tin tức gì sao?
     - Có.
     - Nó mạnh giỏi không?
     - Nó cưới vợ rồi.
     - Cưới vợ rồi à? Thật không?
     - Nó biên thư nhắn về mà...
     - Trời, thằng Út…
Đám người đã đi dần vào con đường dẫn xuống chợ, họ vẫn bước từng bước im lặng, bơ phờ. Nắng bây giờ chói lòa, nắng hừng hực, nắng ngộp thở trên con đường đất trống vắng. Họ tất tả bước như thế không biết nắng là gì.
     - Đứng lại. Người cảnh sát xã ngồi trên chiếc Honda nói lớn.
     - Đi đâu đây? Đi tranh đấu hả? Người ngồi sau yên xe nói giọng hầm hầm.
     - Mấy ông biết rồi còn hỏi gì nữa, lão Tư trả lời.
     - A, tranh đấu à? Được, bắt nhốt vào xà lim mà tranh đấu. Gã cảnh sát xã bực tức – Ê, bà kia, đi đòi chồng phải không?
     - Có phải là bà Nguyễn Thị Nhiều không? Đã đi học tập mấy ngày rồi mà, thấm nhuần tranh đấu bây giờ đi chớ gì? Gã ngồi sau xe bước xuống. Gã lấy quyển sổ tay ghi tên họ đám người. Lúc tới trước mặt ông Tám, gã nói: Còn ông già nầy, già rồi, ông chịu được mấy chục củ?
     - Mấy ông muốn hành hạ bà con tôi sao cũng được – Ông Tám ngước nhìn gã đàn ông. Bà con tôi không thể ở yên mà không làm theo lời của nẫu. Bây giờ quý ông muốn làm gì bà con tôi cũng cam chịu. Bà con tôi khổ quá rồi, chết cho sướng thân. Thiệt mà, quý ông bắn giết lũ tôi cho khỏe, sống thế nầy cơ cực quá...
     - Ông già rồi, Gã cảnh sát xã bỏ lửng câu nói.
     - Tôi già, hỏi ông làm gì tôi chịu được mười lăm ngày trên núi? Tuổi tôi biết có chịu được vài ba ngày không nữa, vậy mà nẫu đã kêu chuẩn bị mười lăm ký gạo, ông Tám kể lể.
- Vậy, sao ông không bỏ đi?
- Tôi còn một con bò, ông Tám vẫn giọng khàn khàn nhưng rõ: Tôi bỏ đi để chết đói, chết khát hay sao?
- Con trai ông đi lính ở đâu?
- Con tôi, thằng Út… tôi không biết nó ở đâu từ ngày nó leo lên xe xuống dưới phố.
- Ông đi tranh đấu đòi nó về chứ gì?
- Tôi đã thưa với quý ông rồi, tôi không biết tranh đấu cái gì cả, tôi như một cục đất, ai biểu gì cũng được. Tôi đã nói với quý ông trên đó là con trai dưới mưới tám tuổi thuộc cha mẹ, trên mười tám tuổi thuộc hai chính phủ ai bắt được thì giữ nó. Tôi đâu muốn nó bỏ con bò với cây cuốc, con bò với cây cuốc đã nuôi sống hai cha con tôi… Ông Tám bắt đầu sụt sùi,
Có vài người đàn bà bắt đầu khóc. Đôi mắt họ rưng rưng những giọt nước mắt. Mồ hôi chảy ròng từ trán xuống mặt, khiến nét mặt họ trông kham khổ, buồn rầu. Trên tay họ, những đứa nhỏ im thiêm thiếp, còn những đứa lớn hơn ngoẻo đầu lên vai mẹ, bất động. Từ lúc bị chận lại, lão Tư cứ đứng sửng như trời trồng, như một thân cây, cúi mặt nhìn bóng mình đổ dài trên mặt đường lởm chởm đá.
     - Thôi, đi về đi – Gã cảnh sát sờ tay vào bao túi súng lục đeo kè kè ở hông. Bà con về trên đó mà tranh đấu đòi chồng con cháu chắc ở trên núi hay ngoài Bắc về....
Đám người vẫn đứng trơ, im lặng. Không nhúc nhích.
     - Không chịu đi à? Gã đàn ông lấy khẩu súng trong áo ra. Muốn về hay muốn nhốt? Gã giận dữ hỏi.
     - Bà con tôi… Lão Tư lập bập nói.
Mấy tiếng súng nổ. Gã đàn ông bóp cò liên tiếp. Những tiếng nổ khô vang rền lạc lõng giữa buổi trưa nắng cháy. Đám người hớt hãi chạy ngược lên con đường băng qua cánh đồng, như một đàn vịt kham khổ…

Tuy Hòa, ngày 5 tháng 6 năm 1972


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 21.12.2014.