Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Chùa Mía






Làng Việt cổ Đường Lâm ở xứ Đoài (Sơn Tây) xưa gọi là Kẻ Mía, làng Mía, có phố Mía, chùa Mía, đền thờ Bà Chúa Mía. Đất thiêng Kẻ Mía sinh hai vua. Bố Cái Đại vương Phùng Hưng và Ngô Quyền.

    Ngôi chùa Mía cổ kính, u trầm ngự trên đất cổ làng Mía từ thuở Phật giáo Ấn Độ đến Việt Nam. Năm 1632. Thế kỷ XVII. Chùa Mía được trùng tu lớn qua sự hưng công của bà Nguyễn Thị Ngọc Dao (còn gọi là Dong) vợ yêu của chúa Thanh đô vương Trịnh Tráng. Sau khi mất, bà được tạc tượng đưa vào chùa thờ, dân gian gọi “Bà Chúa Mía”. Dân làng lập đền thờ bà cách chùa không xa gọi là đền Bà Chúa Mía, còn gọi là đền phủ, đền thờ Vương Mẫu, đền Giải Sơn Thánh Mẫu.
    Chùa Mía (chùa Sùng Nghiêm) ngự trên một mảnh đất cao trong làng. Xa xa dòng sông Tích chảy từ hữu sang tả, đem dòng sinh lực từ Dương về Âm, để muôn loài, muôn vật tụ sinh nơi này. Chùa hợp phong thủy, quay hướng Tây Nam vừa hướng đến trí tuệ để hành thiện (Nam) vừa có ý thức cầu mong thần linh yên vị (Tây).
    Chùa Mía còn nguyên mái cổ xưa, tòa tiền đường, thượng điện và tòa hậu còn những bộ vì, cột gỗ mít với những đường gân đặc quánh và nét chạm nghệ thuật tài hoa thế kỷ XVII.
    Kết cấu các tòa nhà bằng những cột gỗ mít to lớn được chạm trổ tinh tế với những hoa xoắn, hoa cúc cách điệu cùng những đao mảnh nhẹ bay.
    Chùa Mía có 287 pho tượng dáng vẻ độc đáo, trang nghiêm, hiền hòa nét Việt Nam. Trong đó có 6 pho tượng đồng . 106 pho tượng gỗ và 174 pho tượng bằng đất luyện được sơn son thếp vàng.
    Tượng là những tác phẩm điêu khắc nổi tiếng như tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Âm tống tử, tượng Bát bộ Kim Cương, tượng Thập Bát La Hán… Tượng chủ yếu được làm bằng chất liệu gỗ mít và đất luyện.
    Vào chùa Mía ta như lẫn vào thế giới các pho tượng cổ, sáng trí tuệ, bàn tay tài hoa cha ông thế kỷ XVII. Có nhiều loại tượng khác nhau được bày rất phong phú.
    Thượng điện có hai hàng tượng Tam Thế Phật. Hàng thứ ba là bộ tượng Di Đà Tam Tôn với pho A Di Đà ngồi giữa. Tượng Quan Âm và Thế Chí ở hai bên trong tư thế ngồi. Tượng Di Lặc và tượng Thích Ca. Tượng Văn Thù dáng nữ cưỡi sư tử xanh, đối xứng là tượng Phổ Hiền cưỡi voi trắng. Bên trái đăth tượng Quan Âm tọa sơn và một vị tổ của nhà Phật.
    Ban thờ Đức Ông và Thánh Tăng. Tượng Nam Tào- Bắc Đẩu. Tượng Quan Âm tọa sơn ngồi trong động, phía trên có tượng Phật nhập Niết Bàn. Tượng của các vị Bồ Tát. Động Quan Âm với trung tâm là đức Từ phụ rồi đến động Tuyết Sơn. Ban thờ Thánh Quan. Ban thờ Mẫu Liễu Hạnh…
    Tại đền Thượng, có các động bằng đất đắp như thời Việt cổ. Trong và xung quanh các động có khá nhiều tượng. Trong một động có cả tượng Phật Thích Ca nhập Niết bàn. Pho tượng Tuyết Sơn cao 0,76 m và Quan Âm Tống Tử cao 0,76 m ở đây cũng rất đẹp.
    Tượng Quan Âm là tượng Bà Thị Kính. Đường nét chạm khắc mềm mại. Nàng dịu dàng, duyên dáng, gương mặt buồn phảng phất oan khiên, nhưng hiền từ nhân hậu. Nàng thương yêu ẵm một đứa bé bụ bẫm, kháu khỉnh.
    Bức tượng Quan Âm Tống Tử như dáng mẹ hiền của làng Mía, bế con thơ. Những người tạc tượng đã mang gương mặt người mẹ mình vào từng nét chạm.
    Người làng Mía rất yêu nàng Thị Kính. Họ hát ca:
Nổi danh chùa Mía làng ta,
Có pho Tống Tử Phật Bà Quan Âm

    Tôi mê đắm những pho Bát bộ Kim Cương. Tám vị, mỗi vị một thứ vũ khí, một dáng điệu khác nhau chống lại tà ma, tham ác. Vẻ mặt các vị mỗi người một nét, điềm tĩnh, phong độ, ung dung, đầy năng lượng ánh sáng. Tám pho tượng Kim Cương. Mỗi pho tượng là hình tượng một võ tướng đang trong tư thế chuẩn bị chiến đấu để trừ tà bảo vệ phật pháp. Hình khối, bố cục vững chắc, thân hình cân đối, đường nét thoải mái và khỏe. Sau này khi Đi Tìm Tổ Tiên Việt, tôi đã hiểu Bát Bộ Kim Cương là Tám cụ Tổ Tiên Việt, Tám con người có thật, siêu phàm, đã sáng tạo nghề đúc đồng và vũ khí Việt.
    Bộ Thập Bát La Hán với nhưng gương mặt tượng sáng lộng lẫy, vuông vức, thẳng ngay, đầy đặn, da nõn nà như thiếu nữ. Các vị đều trong tư thế tọa thiền song, chẳng ai giống ai. Sức mạnh tâm linh toát ra từ vẻ uy nghi, thánh thiện mà gần dân dã.
    Chiêm ngắm những pho tượng chùa Mía, ta như bắt gặp những người dân thôn làng Việt Nam hiển hiện, làm cho không gian chùa Mía ấm áp, thân thương, gần gụi.
    Thân thương hơn cả là tượng Bà Chúa Mía trong khám thờ bà. Khám thờ trang trí hình rồng phượng chầu mặt trời, đường nét nghệ thuật cuối thế kỷ XVIII. Tượng bà cao gần băng người thường, khuôn mặt trái xoan đầy đặn, khăn phủ qua đầu, trùm kín tai, phủ sang hai vai, mặc áo thụng ít nếp chảy, để hở ngực. Bà ngồi kiết già, trong tư thế lần tràng hạt, hai tay buông, tay trái để ngửa lên đùi, các ngón cong lại. Bức tượng bà giống một phụ nữ khuôn mặt phúc hậu, khoảng ba mươi tuổi, tươi sáng như trăng rằm. Nhưng cũng phảng phất phong độ uy nghi, thần thánh, phảng phất truyền thuyết dân gian xứ Đoài về nàng Mị Ê.
    Nàng Mị Ê có nhiều tích kể.
    Dân gian kể nàng Mị Ê là con gái vua Hùng có công lớn với làng nên tên làng thành tên làng Kẻ Mía. Bởi đọc chệch âm và hội âm thì chữ Mị Ê chuyển thành chữ Mía.
    Điển tích Văn Học kể nàng Mị Ê là cung phi Chiêm Thành, đẹp và khí tiết lẫy lừng. Thế kỷ XI. Vua Lý Thái Tông cầm quân vào phương Nam đánh Chiêm Thành. Trận đánh trên sông Bồ Chính vô cùng dữ dội. Quân nhà Lý thắng quân Chiêm. Lý Thái Tông tiến quân vào kinh đô Phật Thệ bắt nàng Mị Ê và nhiều cung nữ Chiêm Thành lên thuyền trở về Bắc. Thuyền chở Mị Ê đến sông Châu Giang (Lý Nhân- Nam Định) vua Lý đòi Mị Ê sang thuyền mình. Nàng Mị Ê không chịu nhục, quấn khăn hồng, nhảy xuống sông tự vẫn. Từ đó, đêm đêm dân quanh vùng thường nghe tiếng khóc than thảm thiết vọng lên khúc sông này. Thương cảm và kính phục nàng vương phi đầy khí tiết, dân lập đền thờ nàng.
Nhà thơ Tản Đà khóc Mị Ê:

        “ Châu Giang một dải sông dài
        Thuyền ai than thở một người vương phi
        Đồ Bàn thành phá hủy
        Thành tan tháp đổ
        Chàng tử biệt
        Thiếp sinh ly”.

    Cái chết bi hùng của nàng Mị Ê xứ Chiêm Thành đã gây xúc động lớn trong lòng người dân Việt và cả những tù binh Chiêm Thành bị vua đưa về vùng Ba Vì- Sơn Tây sinh cơ lập nghiệp. Phần lớn họ là cung phi đẹp tài hoa và những người thợ mỹ nghệ, mỹ thuật giỏi của đất Chiêm Thành. Họ đã truyền câu chuyện nàng Mị Ê vào bức tượng Bà Chúa Mía.
    Theo cố GS Từ Chi, cây mía được trồng ven sông ít nhiều gắn với văn hóa Việt cổ. Nàng Mị Ê (nàng Mía) ở vùng Đường Lâm gợi nhớ một câu chuyện cổ của cư dân biển đảo vùng Đông Nam châu Á về cây mía.
    “Hai anh em chài lưới nhà kia, đi quăng chài mãi mà không bắt được con cá nào. Cuối cùng họ vớt được một đoạn cây ngắn có đốt. Họ mang về vứt ở góc vườn nhà. Dần dà, mọc lên một bụi cây, nhiều đốt nối thẳng vút cao, trên đỉnh nảy một cặp sừng, giữa hai sừng là một chiếc vẩy. Từ khi có bụi cây thiêng này, hai anh em ngày nào cũng đánh được nhiều cá. Về nhà họ thấy cơm nước đặt sẵn, nhà cửa gọn, sạch thơm. Một hôm, họ rình xem ai đã giúp mình. Một cô gái chui từ cặp sừng ra, theo đốt cây đi xuống. Người em chạy vào ôm lấy cô gái. Họ thành vợ thành chồng và được coi như thủy tổ của loài người”.
Người Việt trồng mía để ăn và coi cây mía là cây thiêng. Cây vũ trụ. Làng Mía với những huyền thoại Bà Chúa Mía đã trở thành một trời thiên quốc, thờ nữ thần, bà mẹ thủy tổ xa xưa, gắn với những người phụ nữ tài năng, đức hạnh, hiến dâng sức sống bất diệt cho cộng đồng.
    Bà Nguyễn Thị Ngọc Dao- người phụ nữ có công tạo dựng lại ngôi chùa Mía cổ xưa. Trong thời buổi vua Lê, chúa Trịnh tranh dành quyền lực, áp bức, đè nén dân nghèo. Nhân dân đói khổ, lầm than. Không được học. Không được quyền làm ngưởi. Vẫn có một bà vương phi, yêu dân, yêu làng, góp tiền của, góp trí đức, tập hợp những tài năng trong dân chúng, dựng xây văn hóa, làm sống lại triết lý sống của dân tộc, sáng soi đưa mọi người trở về ánh sáng. Một người phụ nữ khơi dậy văn hóa tỏa sức sống bất diệt của dân tộc Việt Nam, xứng đáng được tôn thờ.
    Văn hóa thờ phụng nữ thần, thờ Mẫu của Việt Nam là văn hóa mở. Dân gian đưa mọi giá trị chân chính, tốt đẹp của người phụ nữ, bất kể họ ở đâu, thuộc dân tộc nào. Vẻ đẹp trần gian của những người phụ nữ được kết lại trong tín ngưỡng thờ Bà Chúa Mía tại ngôi chùa Mía cổ linh thiêng. Nét đẹp đời thường được kết nối với Thần Thánh, vũ trụ, hiển hiện nơi những pho tượng thờ tại chùa Mía, làng cổ Đường Lâm.
    Chùa Mía hay bất kỳ ngôi chùa làng Việt cổ còn sót lại trên làng quê thuần Việt thế kỷ XXI, đều chứa đựng bao bí ẩn của Tinh hoa Văn hóa Việt, Hồn Việt, mà Tổ Tiên chúng ta gửi lại. Tôi thường tiếc ngẩn ngơ vì mình chẳng đủ sức, đủ tài để đi tìm và khám phá những điều kỳ diệu của Tổ Tiên Việt gửi lại cháu con trong những ngôi chùa làng Việt cổ.

Hồ Gươm Mùa Đông tháng 12- 2014.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 15.12.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn