Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        Chương 2.



 Xa xưa, Cẩm Phả là một xã thuộc châu Tiên Yên. Nhà Nguyễn chuyển Cẩm Phả về huyện Hoành Bồ. Một xã dài, dày đặc núi. Núi đá, núi đất, chỗ liền chỗ cắt nhưng song song nhau. Những thửa ruộng nhỏ, ít màu mỡ do người Sán Dìu, Kinh, Hoa, Thanh phán, Thanh y khai phá. Số lớn hơn do nước chảy, đất trôi tạo thành. Núi nằm trên biển, trong biển. Biển nằm quanh núi, trong núi. Những khe suối khá sâu, chảy xiết, xẻ ngang Cẩm Phả hàng năm. Những rừng cây xanh ngằn ngặt. Những đồi cây đặc chủng: lim, trâm, dẻ…Dãy núi Bay Màn nối theo dãy Cái Kỳ, Pạc Sủi (Tiên Yên) ngăn cách Ba Chẽ, Hoành Bồ ở phía bắc. Phía nam là biển. Cẩm Phả thông với Tiên Yên ở phía đông và Hòn Gai ở phía tây. Cả hai phía đông tây nói là thông nhưng đường đi chằng chịt khe suối và đèo dốc. Người Kinh đã có mặt từ đời Lý Anh Tông khi thương cảng Vân Đồn còn sầm uất. Không ít người Kinh theo Mạc Ngọc Liễn dựng thành Quang Hanh chống quân Trịnh cuối thế kỷ 16 còn để lại hậu duệ của họ. Người Hoa vượt biên ải sang trao đổi, buôn bán, sinh sống. Dân chủ yếu là Sán Dìu, Thanh phán, Thanh y định cư lâu đời. Nguồn sống chủ yếu tự cung, tự cấp. Dân vào rừng săn thú, chặt cây. Dân dưới bến đánh cá, mò ngao. Dân trong đồng cấy trồng gặt hái. Những cuộc chiến tranh lớn, những trận đánh dữ dội không xảy ra ở đây. Người Hoa còn cùng người Kinh đào khoét núi đồi, mở các lò than. Than được chuyển bằng lồ, theo lừa ngựa, đưa xuống thuyền mang về Trung Quốc bán. Lời lãi chắc ít nên không được mở mang dài rộng, quy củ. Mặc dù quan tuần phủ Vũ Duy Thanh đã dâng sớ về triều xin cho phép mở tầng khai thác than nhưng rồi việc ấy không thành. Cẩm Phả vẫn là vùng đất bí ẩn, rất nhiều hòn đá ma, gặp lửa là tự cháy…

Người dân tránh xung đột, không tham gia giành giật quyền lực rộng lớn, sống thanh bình và ít đòi hỏi. Đất không màu mỡ nhưng đinh thiểu điền đa. Cấy trồng làm ăn theo lối quảng canh. Có ông thày tướng qua đây phán đất bụng rồng chầu, làm chơi ăn thật. Người Hoa bảo đây là đất có thế giữ không lấy nổi. Sau này, khi mọi người mọi nơi đã hoà nhập, coi nhau như đồng bào, Cẩm Phả lại được coi là đất dữ. Đó là chuyện về sau.Hiệp định buộc phải chấp nhận sự bảo hộ toàn quyền đại pháp của triều đình nhà Nguyễn ký kết. Năm 1885, Tự Đức ký hoà ước Pa tơ nốt. Tổng đốc Tôn Thất Bạt thay mặt triều đình kí kết bán cả vùng Đông Triều, Uông Bí, Hòn Gai, Cẩm Phả cho Pháp với giá 25 vạn đồng. Thực dân Pháp bắt đầu thăm dò khai thác than năm 1888 tại Cọc Sáu và các vùng chung quanh. Núi Hải Tạo được đổi tên thành Cột Min. Từ biển nhìn vào, núi như một cây cọc. Cột Min có nghĩa cột (cọc, mốc) ranh giới mỏ (min). Sau biến âm thành Cốt Mìn cho dễ gọi. Một số người không rõ, nói năng lỗ mỗ theo ý mình là Cốt Mìn vì trong lòng nó có hang chứa mìn. Đúng là mãi về sau, mặt bằng khai thác đã lớn, Pháp cho xây một kho nhỏ trong hang núi chứa thuốc nổ. Điều ấy không có nghĩa một kho nhỏ trong hang rộng lại là núi có hang, trong hang có xương (cốt) dùng đựng mìn.
       Điều cần nói thêm. Có người cho Cẩm Phả là đất mới, quần tụ dân tứ xứ. Bản địa chỉ gồm dân Sán Dìu và Hoa kiều lại càng sai. Cẩm Phả sau này trở thành nơi quần cư tứ xứ nhưng trước đó Sán Dìu, Kinh, Hoa, Thanh phán, Thanh y đã sống, sinh hoạt trong một cộng đồng. Sử sách còn ghi lại: dưới đời Lê, ông Phạm Đốc Thỉ người làng Cẩm phả, huyện Tiên Yên, châu An Bang (nay là thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh) đỗ đồng tiến sĩ xuất thân năm Tân mùi đời vua Lê Tương Dực niên hiệu Hồng Thuận thứ ba (1511). Con trai ông là Phạm Minh Du cũng đỗ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu tuất triều Đại chính Mạc Đăng Doanh (1538). Cả hai cha con làm quan tới chức tham chính. Như vậy vào đời Lê sơ, đất Cẩm Phả đã có người Kinh sống và đỗ tiến sĩ.
Ngày 26 tháng 8 năm 1884, dưới sức ép của Pháp, triều đình nhà Nguyễn đã làm văn tự bán khu mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả cho một chủ tư sản mại bản Pháp đại diện là Ba ri vê sô pua (bavíeaupour). Ngày 24 tháng 8 năm 1888, Ba ri vê sô pua thành lập công ty Pháp mỏ than Bắc kỳ ( Soci é té Francai sdes Char bon na ges du Tôn Kin) độc quyền chiếm đoạt và khai thác than từ Hòn Gai, Cẩm Phả, Mông Dương. Tất cả phần đất từ đường chính (quốc lộ) lên phía bắc là đất của công ty. Không được ai chôn cất và xây dựng nhà cửa. Nếu cứ chôn cất và làm nhà, khi khai thác đến, sở mỏ không phải đền bù. Vì thế nếu chú ý, ta thấy toàn bộ khu nghĩa địa trong thời Pháp thuộc đều ở phía nam đường.

        Dù là những người quen lao động thổ mộc từ nhỏ nhưng việc đi bộ lâu dài cũng khiến cho cơ thể mòn mỏi. Những bước chân chắc nịch của ông Đục, nhanh nhẹn của mấy đứa trẻ mười lăm đã nhức nhối. Bàn chân mỏi, sưng phồng lên rồi. Nắn bóp day xoa không còn tác dụng. Bắt đầu từ Hải Phòng nền đất đã khác, lổn nhổn cát sỏi. Chân đất vượt sông ngòi đèo dốc, chạy trên sỏi đá đã nhức, nóng và sưng tấy. Mỗi khi nghỉ, không muốn đứng dậy. Đến quán bà Nước, chúng nằm vật ra. Những vết mọng nước tụ dày trên gan bàn chân và kẽ ngón. Mu, khớp, cổ, bắp đều nần nẫn, nóng như than. Cảm nhận rõ máu chảy dồn từng nhịp. Ông Đục chẳng hơn gì nhưng là chỗ dựa của bọn chúng. Nhận rõ trách nhiệm nặng nề, ông lặng lẽ, nghiêm nghị hẳn. Khuôn mặt hốc hác đen xám vẫn lộ những ái ngại lo lắng. Nằm một lát, ông trở dậy, ra phía bìa rừng tìm tìm kiếm kiếm. Bọn trẻ mệt, đau và đói, uể oải chờ đợi. Đứa gà gà, đứa nắn bóp, đứa xuýt xoa… Ông Đục về, cầm một nẹn lá lốt. Đốt lửa củi quanh đó, ông hơ từng lá, chỉ dẫn, đắp vào chân từng đứa. Dặn chúng nếu nguội hơ lại cho nóng mà đắp, ông ngồi bó gối nướng lá lốt, đắp vào chân mình. Những bóng người qua lại im lặng vật vờ quanh khu vực quán bà Nước. Họ thầm thào lo lắng không biết vào mỏ làm ăn ra sao. Nách bị tay gậy về làng thì mặt mo. Người kể chuyện quê nhà, nước ngập ngang lưng làng hàng tháng không rút. Kẻ kể về khởi nghĩa Bãi Sậy đã tan. Những người bị bắt, đeo gông xích tay đi hàng đoàn. Kẻ kể về khởi nghĩa Yên Thế đang lớn mạnh, dưới sự chỉ huy của cụ Hoàng mà bọn tây khiếp vía gọi là hùm thiêng Yên Thế. Các tướng giỏi như cả Huỳnh, cả Dinh… Những câu chuyện không đầu không cuối, lúc rộ lúc dứt như gió thoảng qua rừng Hoành Bồ. Còn gần ngày đường, qua hơn chục con suối nông, suối nhỏ nữa sẽ đến Huy. Qua Huy, qua Đồng Ruộng tới Cẩm Phả rồi. Sớm ra là sáng ngày kia, họ đã lên tầng làm than. Một công việc mới, chắc nặng nhọc nhưng có tiền về cứu giúp gia đình trong thời buổi khó khăn, gạo châu củi quế.
       Đêm ấy trời lạnh. Những cơn gió heo may khô khan ập xuống Hoành Bồ. Lác đác đã có người dậy, ho khục khoặc, hút thuốc, chuẩn bị chuyến đi ngày mới. Đá, Ao lên cơn sốt. Mấy lần ngồi lên lại đổ vật xuống. Bào cũng mệt rã rời, đứng run rảy, đi không nổi. Cải tỉnh táo hơn nhưng chân nhức lắm. Ông Đục quyết định lui lại một ngày. Bãi trống đêm qua lổm nhổm người, giờ vắng hoe. Chưa có khách, bà Nước thong thả ra chỗ ông Đục nhìn Đá, Ao góp lời. Đưa hai đứa vào gần lều, ông Đục cầm đòn cùng Cải sang đồi bên. Bào lần đến chỗ hai đứa, ngồi trông chừng. Nắng đã lên. Trời lặng phắc, ngột ngạt, không một chút gió. Bà bán nước giục Bào lấy vải ướt, đắp lên trán Đá và Ao. Gần trưa, ông Đục cùng Cải về. Mỗi người mang một túi sim mọng, vài chùm nho dại tím đen. Cả bọn ăn hết mấy củ khoai từ chiều hôm trước. Ông Đục bốc sim ra, chia đều cho ba đứa. Chùm nho dại mọng nước, ăn chua chua, ran rát đầu lưỡi.
       - Ngứa đấy! Giữ lấy khi nào khát thì nhấm. Bây giờ nghỉ. Ngày mai thế nào cũng phải đi sớm. Ai không đi được, ở lại, tìm đường về quê, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, ăn mắm khắm, ngắm đít trâu. Chân còn đau thì đi đái, vốc lấy nước mà bóp, mà ấn, mà xoa.
       Không biết do nguyên nhân nào, lá đắp, nước đái bóp hay lời đe nẹt của ông Đục, sáng hôm sau, mấy bác cháu đều nhúc nhắc lên đường được. Ông Đục hăng hái xông pha phía trước. Cải cầm đòn đi sau cùng. Cả bọn xiên qua Hoành Bồ, vượt sông vào Huy. Trưa hôm đó, họ được ăn cơm tươm tất với hai vợ chồng người Sán Dìu. Ông Đục mở tay nải, dồn muối lại, nhặt ra tấm vải diềm bâu. Ông đổi lấy con gà, cân gạo. Cơm trộn ngô xay, ăn với đỗ đũa, gà luộc đến no. Chủ nhà xúyt xoa: “- Có mấy người mà dám đi thế a? Không gặp cướp là tốt đấy! Mấy hôm rồi, tên mặt đỏ râu xồm kéo người tràn vào. Chúng giết người, chặt đầu, cắm cọc chôn dọc đường. Sợ quá thôi. Những cái đầu nhe răng, không còn mặt, khủng khiếp lắm!” .
Đàn gà nhà chủ không biết bao nhiêu con. Chúng đậu trĩu cành, thong dong tản mát khắp vườn, khắp sân rộng. Nhiều con táo tợn, nhảy cả vào chỗ mấy bác cháu đang ăn. Chủ nhà tay xua, miệng cứ “ Hao! Hao!” đuổi.
       Ăn xong, chào chủ nhà, mấy bác cháu lại cắm cúi bước. Nắng đứng xế đầu. Đường dài hun hút không thấy điểm dừng. Cây hai bên lối héo rũ, phờ phạc trong lửa táp. Ông Đục chăm chăm nhìn đường, bước lặng lẽ. Kinh nghiệm đã dạy, đường dài, chăm chú đi, không đi nhanh nhưng phải đều, không dừng lại, không nghỉ vặt. Nếu xa quá, dừng đâu lâu lâu một chút. Định đi là quyết đi luôn. Không chấp nhận dù một chút dùi gắng, ngưng nghỉ xuất hiện trong đầu. Bởi đã dừng rồi, ngại, lười, không muốn đi nữa, càng mệt.
        Xế chiều, họ vượt qua Đồng Ruộng. Leo ngược dải đồi cao, ông Đục cho nghỉ. Dãy Bay Màn cao ngất trấn giữ phía bắc. Cẩm Phả đã hiện rõ, phía dưới những đồi cây xanh om, rừng non xanh rì, rừng già xanh thẫm. Mấy đứa ồ lên. Ao láu táu: - Không phải đi thêm nữa hả bác?.
Còn phải len lách, bám víu quãng hơn giờ nữa mới tới lán bố con ông Đục ở. Nhà vách. Mái lợp lá cỏ gianh đánh thành tấm. Những vì kèo gỗ, đòn tay tre. Một vài tấm ván kê để nằm. Áo quần, bao vải, túi vải bề bộn. Ông Đục cùng chúng chọn chỗ, người như lả đi. Xung quanh lán, người nằm thẳng, nằm co, ngồi bệt, ngồi xổm la liệt. Những câu hỏi không cần trả lời : “- Đã ra đấy à?” “- Gia đình thế nào? Thằng ấy đâu? Ông có gặp không?”. Mấy đứa thiếp đi trong những lời thăm hỏi không mấy mặn mà ấy.
Ông Đục gọi mấy đứa dậy. Trời đã chạng vạng. Cầm cả tay nải, mấy đứa theo ông sang ngôi nhà xây, gặp cai Nam. Ba đứa trẻ đang nô nghịch, đạp la, thấy người vào, tự động chuồn xuống khu bếp. Tiếng ông Đục: “- Thưa cậu! Chúng tôi vừa ở quê ra, mang theo mấy đứa trẻ. Trăm sự nhờ cậu, xếp việc cho chúng…”
Cai Nam ngoài bốn mươi, nhìn lướt một vòng, đưa cái miệng rộng, lổn nhổn răng, cái ra cái vào, thả cửa xô hích, chen đẩy, hỏi: -“ Chúng nó đây hả? Tử tế cả chứ?”
        - Vâng!
- Được rồi! Xuống dặn mợ nấu cơm ăn. Mai đi làm.
     Sau bữa, trời đã vào đêm. Khí núi toả ra lành lạnh. Sắp xếp đồ đạc, chẳng nhiều nhặn gì, gửi mợ cất giữ. Họ ngủ ngon lành. Chẳng cần biết ngày mai ra sao. Tiếng tắc kè chắt lưỡi vào đêm nghe buồn vắng.

      Sáng hôm sau còn tối đất, mọi người đã ầm ã lay gọi, giục giã nhau ăn cơm nhanh, kéo lên tầng. Họ đi theo lối mòn, ngược dốc trong ánh đuốc bập bùng của người đi trước. Đến đây, Cải mới biết. Người ta xẻ ngang đồi, san mặt phẳng rộng, kéo dài, gọi là tầng. Có nhiều tầng cao thấp khác nhau. Than được đào ra, chuyển về phía cuối tầng, đổ dồn lại. Ở đó, than được chuyển theo máng, đổ vào lồ cho lừa ngựa kéo, chở ra bến bãi. Bốn bác cháu vừa khao, vừa xúc, vừa chuyển than ra cuối tầng. Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Công việc liên tục như vậy từ sáng sớm đến chiều tối, luân phiên nhau đào đào xúc xúc. Xe kéo, người gánh tấp nập nhưng lặng lẽ. Rất ít khi nghe cãi nhau. Đã cãi nhau thì to tiếng, quăng quật, đỏ mặt tía tai. Nhiều lúc đá ném, gậy quăng may chưa chết nhưng mắt mũi bầm tím, mồm miệng sưng vù, thậm chí xương gẫy máu đổ đã xảy ra. Lần đầu tiên trong đời, Cải hiểu sự vất vả của thành ngữ hai sương một nắng. Thời tiết khắc nghiệt. Một ngày là cả bốn mùa. Sáng đi làm rét, trưa nắng gắt, chiều lại lạnh. Bụi than bay từng đợt, phủ dày mặt, bám đen trong hốc mũi, khoé mắt, lỗ tai. Cỏ săng, cỏ le, lau ỏng cứa rách da, buốt nhon nhót. Chân tay trầy xước, dễ mưng mủ. Nghỉ ngơi, chạy chữa kịp thời là may. Liều lĩnh để vậy, sâu quảng là chuyện thường gặp, khốn khó cả đời. Nghỉ thì không tiền, không có người kết hợp thành dây thì mất nghiệp khi đi làm trở lại.
     Nam người cao to, ăn nói dứt khoát. Làm ra làm, nghỉ ra nghỉ và thạo việc. Hàm răng đen xám, vàng bẩn, lộn xộn trong mồm. Khi nói, nước bọt trắng ở khoé môi, bắn ra thành tia. Cai quản trông nom gần bốn chục người khai thác vận chuyển than, Nam không hay quát nạt, xỉ vả, đánh đập cu li như những cai khác. Mới ngoài bốn mươi, Nam thích được mọi người gọi là cậu cho giống với những nhà sang trọng trong thành phố. Ăn uống bặm trợn, Nam còn nghiện trầu, nghiện thuốc lào. Mồm luôn luôn bỏm bẻm nhai, bạ đâu nhổ đấy. Cậu quản lí trông coi phu phen bằng những lời nạt nộ thô tục nhưng thực tế. Nhăm nhăm cây roi đi quanh tầng, cậu cũng vụt nhưng chỉ vụt những cây cỏ cao trong lúc tiện tay. Cu li có thể làm cho cai này cai khác, tầng dưới tầng trên không khó lắm. Nói thì nói vậy nhưng đã quen người quen việc, bén tiếng bén hơi. Cu li toàn dòng con khoai cháu lúa, cần mẫn thật thà, quen chịu đựng rồi. Việc thay đổi chỗ làm cũng có nhưng thường là bất đắc dĩ. Mợ Nam trước xúc than sau rồi phu phen đông, mợ sang làm quản lý, tính toán thay chồng. Cu li dưới quyền Nam đi làm bao nhiêu, cần gì cho than ra, ai nghỉ, nghỉ thế nào, mợ ghi nhớ theo cách của mợ. Tháng sau nhận lương tháng trước. Thiếu có thể trả được, mợ sẵn sàng cho vay. Cu li phần thiếu thốn, không có ăn, không có chỗ cất giữ chắc chắn nên giao cả cho mợ. Mợ nấu cơm cho ăn hàng ngày. Lĩnh lương, mợ trả sòng phẳng sau khi đã công khai trừ tiền ăn ở, sinh hoạt. Cuộc sống tuy cực nhọc gian lao nguy hiểm nhưng có tình người.
      Nắng. Cái nắng cuối thu đặc quánh như mật. Da căng đỏ rát. Cu li cởi trần hoặc nhúng áo vào nước, vắt dối, mặc cho mát. Than đổ xuống rào rào. Hòn to hòn nhỏ oà ra sau nhát bẩy của xà beng. Xà beng là thanh sắt dài ngắn khác nhau. Cái tám mươi phân, cái hơn hai mét, một đầu nhọn, một đầu toè. Dùng đầu nhọn chọc chọc lỗ. Khi than hoặc đá nứt, lựa lựa đưa chiều dẹt vào, lách bẩy. Người chọc, người xúc, người gánh thành từng nhóm, gắn kết với nhau. Trai tráng hoặc khoẻ mạnh làm việc nặng. Phụ nữ hoặc người yếu kéo than, đẩy than. Trẻ con cũng thế. Nhiều đứa mới mươi, mười hai tuổi thậm chí bé hơn. Đòn gánh của Cải hoá ra được việc. Ai gánh cũng khen. Nó chắc dẻo nhịp nhàng theo bước chân. Cả tầng chia từng nhóm. Mỗi nhóm ba đến năm người. Nhìn xa, tầng chỉ đóng góp vào công việc khai thác than như một dòng kẻ ngoằn ngoèo trên trang sách nhưng bên trong chứa rất nhiều phức tạp. Những mâu thuẫn to nhỏ luôn luôn phát sinh giữa chủ và người làm thuê, giữa nhóm với nhóm, người với người. Khi cần, ai cũng văng tục ra để giảm bớt căng thẳng, bực bội, nặng nhọc. Một lời nói không đúng chỗ, một câu nói vô tình chạm nọc cũng làm chuyện không có gì thành có, chuyện nhỏ thành chuyện lớn, bé xé ra to. Thời điểm này, cái ác chưa kịp nảy sinh, điều tốt đẹp chưa bị đập phá nên thường thường kết thúc bằng sự giàn hoà. Vừa thâm thù chửi bố chửi mẹ nhau tưởng không thể đội trời chung nhưng đến hôm sau lại bình thường như nền trời mùa thu sau mưa, trong xanh ngăn ngắt.
      Tối về, tắm rửa qua loa, xong thôi. Ăn cơm mợ Nam nấu sẵn. Một đập hai xoa cho vơi bớt than đất bám, lên phản ngủ, không cần chiếu màn. Mùa rét thêm cái áo bao hoặc áo vá đụp, nằm ken vào nhau cho ấm, ngủ qua đêm.
      Dân Cẩm Phả sống chủ yều trong khu vực có hai dãy nhà tranh sơ sài, thấp bé, vách ken bằng tre róc. Lác đác một vài ngôi nhà xây, nhà tường đá lợp tranh tre hoặc ràng ràng. Xa xa, một làng quê yên bình. Sớm sớm, gà nhà gà rừng đua nhau khua rộ lên. Người sinh sống rải rác ven mỏ là dân Sán Dìu, Hoa, Kinh…ở đã nhiều đời. Nhà thấp dưới những khu vườn rộng.
     Mấy bác cháu chung một lán cách không xa hai dãy nhà tranh ấy cùng với hơn chục người. Mợ Nam không chữ nghĩa nhưng rành rọt, biết từng nhóm được bao nhiêu, từng người đã tiêu hết bao nhiêu, còn bao nhiêu. Vì thế, tối tối, mợ thường đến lán, an ủi động viên, thậm chí đe nẹt những người ít làm việc, cù nhầy, nhiều lí lẽ bao biện. Tất cả mọi người trong lán chỉ có leo tầng, khao xúc than, vận chuyển cho cậu. Công việc của cậu chỉ cần than không ngừng xuống máng theo yêu cầu. Bên dưới đã có người vận chuyển bằng lừa ngựa ra bến tàu. Gọi là bến tàu nhưng chỉ nhiều mủng mảng, thuyền nhỏ và bè ngay dưới chân núi Cốt Mìn. Bè nứa, bè tre, bè gỗ… chờ chuyển đi đâu không nhiều người biết. Phương tiện chuyển than là những chiếc xà lan đáy bằng thành thấp do tàu hoặc xà lúp (xuồng máy) kéo chạy về cảng Hòn Gai. Sản lượng than Cẩm Phả lúc nào cũng hơn phần còn lại của cả vùng mỏ dài rộng.
Nam cứ đi đi lại lại, quát mắng lung tung. Thời tiết đẹp, khô ráo. Vậy mà than không ra được. Phay cát sụt, chảy từ tầng trên xuống sau một đêm chất thành đống cao, xoá hầu hết hiện trường đang khai xúc. Tầng hẹp, không thể nhiều người vào tải đá cát bằng mai cuốc. “- Làm như con cặc bố”. Chả rõ cái gì như. Cậu Nam vừa làu bàu vừa quất ngọn roi vun vút vào những ngọn le cao bên tầng. Cu li ngồi túm tụm. Chờ. Chờ đến lượt xúc dọn. Chờ đến khi tầng thông. Nam vừa bực vừa lo, kêu gọi xúc san chỗ than lộ vỉa, cho người vào khao trước. Ở phía ngồi chờ đợi, tiếng cười cứ rộ lên. Họ kể chuyện tiếu lâm. Nam cằn nhằn: “- Đói tán ăn, no tán phét. Không ra được than lấy cứt mà ăn”. Nam vừa quay đi đã nghe thấy tiếng: “- Đứa nào bảo bố nó ăn cứt đấy!”. Mọi ngày thông đồng bén giọt, than ra đều, Nam dễ dàng bỏ qua nhưng hôm nay: “- Thằng nào? Thằng nào nói!”. Không tiếng trả lời. Thấy cả tốp lặng phắc, nỗi bực trở thành cơn giận, Nam tay vụt chân đá thốc vào đống đòn bao, thúng mủng, phân ký. Ngồi yên không sao nhưng làm sao mà ngồi yên được. Cả bọn bổ nháo bổ nhào, chạy quáng quàng. Hai đứa lăn xuống tầng. Đưa lên. Đứa lớn bị thâm tím. Đứa bé mới hơn mười tuổi, máu đầu chảy toé loe. Người nâng, người kiếm lá nhai đắp, ầm ào suốt buổi trưa.
     Thằng bé được Cải cõng về. Nó cùng lán với Cải. Hoảng sợ, lại mất máu, người nó run bần bật. Nằm xuống phản gỗ, nó co người lại, quay mặt vào trong. Nhặt cái áo vắt trên dây, phủ cho nó, Cải trở lại tầng. Phay cát sụt đã được dọn. Than lại theo người đội khiêng gánh ra. Ai cũng hỏi sơ sơ về thằng bé rồi thôi. Họ còn mải làm, bù cho thời gian đã mất.
     Tối. Phu mỏ trở về. Họ vội vã thu dọn rồi ăn cơm. Có người giục nó đi ăn. Thằng bé mặt xanh rớt, dò dẫm ra. Nó và có lưng bát cơm, uống ca to nước rau, bám vách đứng lên. Mợ Nam giục nó: -“ Hoá! Ăn thêm chút nữa cháu!”.
     Nó không nói gì, trở lại chỗ nằm. Nửa đêm, nó lên cơn sốt. Lúc rền rẫm, đạp quẫy, mồ hôi đầm đìa, lúc thở dốc từng cơn. Tảng sáng, mọi người dậy ăn cơm, chuẩn bị ngày làm việc mới. Ông Đục hỏi: -“ Hoá! Cháu đỡ chưa? Cố làm được không?”. Nó rên rên. Khi mọi người lục tục ra. Thằng bé cong người, gào lên: “- Mẹ ơi!”.
     Rồi nó nằm ngả xuống. Ông Đục đặt tay lên trán nó, lắc lắc đầu.

      Đã là dân phải biết sống chết theo vận mệnh đất nước.
      Ông Đục bỏ nhà theo tiếng gọi cứu quốc của cụ Nghè vào đến tận Quảng Nam. Khi cụ Nghè giải tán, đưa quân về quê, ông Đục ngã nước, đầu trọc lốc, đi đứng lẩy bẩy không sao theo kịp đành phải nằm lại, nhờ vả những người dân Hội An. Họ hào hiệp và nghĩa khí. Thương cảng Hội An nằm bên trái hạ lưu sông Thu Bồn (khúc này gọi là sông Hoài) chảy ra cửa Đợi sau gọi chệch thành cửa Đại. Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17 Hội An đã là thương cảng lớn. Có người còn mạnh mồm nói nó sầm uất từ trước công nguyên. Dân địa phương gọi là Lâm Ấp phố. Nơi tập trung rất nhiều thuyền buôn của Anh, Pháp, Bồ đào nha, Tây ban nha, Phi lip pin… nhưng đông hơn cả là người Hoa và Nhật. Thương cảng thành nơi người Chăm pa, Việt, Hoa, Pháp, Nhật đến sinh cơ lập nghiệp. Sự giao lưu kinh tế và giao lưu văn hoá liên tục, liên tiếp. Do vậy, tinh hoa tinh tú được tiếp thu, thô thiển thô lậu được đào thải, loại bỏ, đã hình thành một bản sắc văn hoá tổng hợp, tích luỹ từ nhiều nguồn. Những công trình kiến trúc, những kiểu dáng kết cấu, bài trí. Cả đến lời ăn tiếng nói đều giao lưu, đan xen văn hoá Việt, Nhật, Hoa, Pháp, Chăm. Ông Đục ở Hội An, làm thuê cho cụ Bài. Nhà cụ giống như nhiều ngôi nhà ở đây. Vì kèo chống rường giả thủ kiểu người Hoa với vì kèo cột trơn kẻ chuyền kiểu người Việt. Có chú ý cũng không tìm ra sự bất hợp lí. Nó kết hợp hài hoà, uyển chuyển, êm thuận và đẹp. Cầu Nhật Bổn đã được người Việt, người Hoa nhiều thế hệ trùng tu, tạo dựng lại vẫn giữ hầu hết những yếu tố kiến trúc ban đầu. Trên phố cổ cạnh sông Hoài còn xuất hiện những ngôi nhà tây. Sản phẩm mang đậm sự giao lưu văn hoá Việt, Hoa, Pháp. Ở đây không có kiến trúc nào mang thuần tuý nguyên gốc một dân tộc dù đó là hội quán của người Hoa, ngôi nhà vòm cong mái nhọn Pháp hoặc đình làng Việt.
      Từ lâu, Hội An đã hình thành ba khu: phố An Nam của người Việt, phố khách của người Hoa, phố Hoài của người Nhật. Đường của phố người Việt chạy xuyên qua hai đường: đường cầu Nhật Bổn người Nhật và đường Quảng Đông người Hoa hình thành nên hệ thống giao thông chính của Hội An. Nhà cụ Bài nằm trong phố An Nam. Đục ở nhà cụ, bê vác trồng chuyển cây cảnh cho cụ. Thực tế, cụ Bài nhận Đục do cụ Nghè giới thiệu để giúp đỡ, cưu mang là chính.
      Một hôm, nhà cụ có khách. Khách xa, miền ngoài quê Thái Thuỵ, Thái Bình ghé lại chơi. Chuyện trò lâu lâu nhưng không ăn, đi luôn. Tối khuya, cụ cho gọi Đục lên. Pha chè, rót nước ra chén tống. Từ chén tống, cụ san nước ra hai chén quân. Đẩy chén nước về phía Đục, cụ ôn tồn:
      - Anh có biết, có thích uống trà không? Uống đi! Chưa quen, uống cho biết.
      - Thày cháu thường uống chè. Toàn chè xanh hái lá.
     - Trà là thứ nước giải khát rất tốt. Biết uống trà chính là biết các thời đoạn, tiêu chuẩn, công đoạn của nó. Nhất thuỷ, nhị trà, tam trản, tứ bình, ngũ quần anh. Anh có biết không?
     - Dạ! cháu làm sao biết được.
     - Phải biết. Nhất thuỷ. Nước pha trà phải sôi. Nấu sôi sùng sục, để cạnh bếp đến độ lăn tăn, rót pha trà là đẹp. Nhị trà. Trà phải ngon. Có thể để mộc hoặc ướp các loại hoa nhài, sen, ngâu, sói, mộc…với lượng thích hợp kẻo hương hoa lấn át. Hương hoa thơm vừa đủ để tôn vị trà. Trà phải khô, đựng trong hũ sành hay bình thuỷ tinh màu.
     Ông giơ tay ra ý mời. Đục nâng chén. Ông che miệng uống.
     - Tam trản là chén. Chén uống trà phải nhỏ. Đưa chén lên miệng, chưa uống vội. Phải dùng mũi, thưởng thức hương. Tốt nhất là chén sành sứ nhỏ như hạt mít, như mắt trâu mới giữ nóng lâu. Tứ bình. Phải tráng sạch ấm pha trước khi pha trà bằng nước nóng. Ấm dùng phải xẫm màu, dày, nước mới nóng lâu, phù hợp với chén và lượng người uống. Ngũ quần anh. Thứ năm là tụ tập bè bạn. Uống trà phải có ba người mới ngon. Như thế vừa đủ lượng vừa đủ nóng mà bàn bạc chuyện trò. Uống trà giải khát là chuyện bình thường. Uống trà thưởng thức phức tạp cầu kỳ nhưng đó là nét văn hoá độc đáo dân tộc, khó có thể bắt chước. Ở ta, việc thưởng thức rất tinh tế, lại không giống như Trung Quốc, Nhật Bản.
     - Ở Trung Quốc, người ta uống trà để thưởng thức cái đẹp, thấy cái đẹp. Ở Nhật Bản, uống trà để thấy đạo, thấu đạo. Ở ta, uống trà để thấy tình, thấu tình, tìm ra bạn hữu. Lúc đầu nhúng cả ấm chén đĩa vào nước đang sôi. Lấy đĩa và chén ra, rải hoa cần ướp như sen, nhài, bưởi… mỗi loại hoa một đĩa rồi úp chén lên. Hoa phải tươi mới, không dập nát. Hơi nóng từ đĩa và chén sẽ làm hương hoa tiết ra thơm ngát. Khi trà pha đã ngấm, rót ra. Hương bay ngan ngát mà vị trà vẫn giữ được.
     Cụ nâng chén. Chiếc chén nhỏ nâng bằng hai tay. Tay cầm tay che. Uống xong, đặt chén xuống, cụ giục: - Anh uống đi! .
     - Nước pha trà phải hứng nước mưa từ ngọn cau cao. Lấy tàu cau khô buộc vào thân cau trên dưới hai mươi năm làm vòi hứng nước vào chum, mang hạ thổ sâu quá nửa phần chum. Miệng chum bịt kín bằng vải mỏng, đậy nắp thoáng. Nước để như thế càng lâu càng ngọt. Củi đun phải chẻ mỏng, dễ cháy, đun kèm bã mía. Khói thơm từ củi sẽ quyện với nước chỉ vừa một ấm tạo cho hương chè thơm hơn. Ấm pha trà đẹp phải màu da lươn, có hai vỏ. Phía trong đổ trà. Giữa hai lớp vỏ chứa nước sôi để giữ nóng. Chè ngon được sao, ánh lên màu bụi mốc. Chè mốc cau (màu như mốc trên thân cau) chứ không phải móc câu. Chè được đựng trong lọ sành, giữ gìn nơi khô thoáng. Thưởng thức loại trà ấy, hiểu được cái hay cái đẹp cái ngon của nó là người sành sỏi và tinh tế. Từ đó, người ta tìm thấy tri kỷ, thấy cái tình cái chí của nhau, hiểu nhau. Nói thì vậy nhưng tôi cũng chưa được uống lần nào. Chưa có cái để ước ao hãy tạm bằng lòng với cái đang có mà thay đổi nó. Nào! Mời anh!
Cụ uống xong, trầm ngâm lúc lâu. Đổ nước thêm vào ấm, rót ra, cụ từ tốn:
      - Tôi thấy anh còn trẻ, có chí nam nhi, thực thà thẳng thắn. Công việc nơi này cần tỉ mỉ, cẩn trọng, không phù hợp với con người anh. Tôi gửi anh qua ông Trực. Anh đi theo ông ấy, học hỏi được nhiều. Tôi không ép nhưng ở lại, anh chỉ thành người tỉa cây cắt lá đến già đời trong vườn quạnh ao tù thôi. Tôi muốn anh vươn lên cơ. Phải đi, phải học, phải bay nhảy mới được. Người ta cho tôi là ác nguyệt đảm phong, tính cách thanh lịch nhưng anh thấy không. Vận nước như trứng chồng, chuông treo chỉ mảnh. Trăng gió làm gì. Phải oai phong lẫm liệt, chân vung ngực ưỡn, tiếng oang oang như lệnh vỡ kia.
Cụ Bài ngừng, đầu hơi cúi. Lát sau ngẩng lên, cặp mắt còn nhoà nước, cụ dặn:
- Nay mai, ông Trực trở lại. Anh nên theo ông ấy. Giờ thì ngủ đi.
     Chén trà ấy khiến Đục thức đến gà gáy, suy nghĩ mông lung.

     Ông Trực là một lão nông làng An Cố, Thuỵ An, Thái Thuỵ, Thái Bình. Ngoài hai mươi, ông đã nổi tiếng làng trên xóm dưới về sức khoẻ. Đào mương đắp đê, ông xắn đất tứ diện đồng tứ (bốn mặt như nhau) vác lên vai, đi như chạy. Ông biết vật, biết võ. Vật ông học người làng từ năm lên tám rồi người Kiến An, Cổ Am, Vĩnh Bảo. Võ ông học thày Tàu ở Kinh Môn, thày Kinh ở Thanh Hà, thày Dao ở bến Tắm… Ba mươi tuổi, ông về làng, âm thầm bới đất lật cỏ. Ngày hè ra bãi sông quê, chặt sú vẹt, vọng cách, la cụ, đâng mắm, vất lên thuyền, về làm củi. Mỗi kỳ vào xuân, làng mở hội vật. Ông tham gia. Đô vật nào bị ông túm được chân, chắc chắn lấm lưng trắng bụng trong nháy mắt. Đối phương bị ông nâng lên, hất ra sau. Hàng chục năm làng mở hội vật, ông không có đối thủ xứng tầm. Các tay đô sừng sỏ nơi khác nghe tên phải bái phục. Làm thuê ở đồng về vội, ông bỏ cày, vai vác trâu, tắt qua mấy cánh ruộng lên đê cho gần. Một bữa trâu húc nhau. Cả làng như bày ong dạt lên bãi cao, xô vào ruộng thấp, tránh né, la hét om sòm. Cây khua gậy thúc, thang chống, lửa đuốc… Mình ông chắn đường, vít đầu một con, tay đẩy con kia ra. Chân ông cày trên đường thành rãnh. Hai trâu hăng tiết, mắt lồi như chiếc chén tống, đỏ ngầu ngầu rồi con nào con nấy buộc phải theo tay chủ dắt, chủ lôi, chủ ghì rời xa nhau. Năm làng bị cướp vây, ông hô hào anh em vác đòn chống lại. Một mình nhảy lên mái đình, án ngữ đường độc đạo, ông dỡ ngói ném xuống. Mấy đứa vỡ đầu. Thằng gẫy tay, què cẳng phải lôi kéo nhau chạy. Nhiều người giục ông, lập một đội vật, giật giải làng xa huyện gần nhưng ông từ chối. Cho đến một ngày, ông bỏ làng đi, nghe đâu nhận chỉ bảo vệ vua Hàm Nghi đánh Pháp. Vua ra chiếu cần vương. Khắp nơi nô nức đầu quân. Các cuộc khởi nghĩa ào ào dấy lên khắp trong nam ngoài bắc rồi dần dần bị dìm trong lửa máu. Ông Trực thành người lang thang suốt vùng trung bộ tìm người đồng tâm đồng chí. Mấy năm nay, sức lực suy kiệt, ông vẫn đi từng làng, cố sức kết giao, chiêu mộ nghĩa dũng. Hôm vào nhà cụ Bài, ông nói muốn mở trường dạy võ cho tráng đinh. Sức yếu rồi, việc nước chuyển cho lớp trẻ. Riêng ông, còn chút hơi sức nào cố gắng đến cùng dâng hiến cho đồng bào.
Hai ngày sau, ông Trực trở lại. Như đã hẹn trước, cụ Bài sắp cơm, thắp hương, mời ông. Đục được gọi đến rót rượu hầu. Không ai rõ chuyện gì được nói trong hôm ấy. Tờ mờ đất, ông Trực dẫn Đục đi.
      Hai người tiến vào phía nam, xa xôi mù mịt. Qua đèo Cả thấy hổ đàn quanh quẩn vờn nhau trên cánh rừng trước mặt. Vào Đại Lãnh - một làng nhỏ, dân làm nghề biển - nghỉ lại. Ông Trực chờ người. Từ nhà cụ Bài đến Đại Lãnh hơn hai trăm cây số. Ông con thày trò đã đi trong nửa tháng. Nửa tháng vừa đi đường tắt đường cái, vừa ở nhà bạn hữu tin cậy, ông Trực dạy dỗ Đục nhiều điều. Khi đi, ông căn dặn bằng lời. Khi dừng, ông thường kết hợp tay chân làm mẫu, chỉ dẫn tận tuỵ cho Đục:
     - Phải học con ạ! Học cho kỹ lấy nghề độ thân. Không ai chết đói khi đã tinh thông nghề nghiệp cả. Cố gắng chăm chỉ mà học. Học nhiều nghề để kĩ một nghề. Một nghề cho chín hơn chín mười nghề. Ở đời, chẳng ai không học mà thành tài hết. Thánh nhân ngàn năm mới có cũng phải học, học một biết mười. Tài năng học một biết hai. Thông minh học một biết một. Còn lại thường tầm tầm như loại chúng ta, muốn biết một phải học mười. Vậy nên, chăm chỉ luyện rèn luôn đứng đầu. Học giúp bản thân, gia đình, giúp quốc gia. Không có quốc gia, bản thân và gia đình cũng không có nốt. Có thể con chưa tin điều ấy nhưng đến lúc con hiểu, con đã thành người. Người đàng hoàng hẳn hoi.
     Sáng sáng, ông thường dậy sớm, ngồi lặng lẽ. Một đàn kiến kéo hàng bò trên vách lá. Ông chăm chú nhìn. Chốc lát, đàn kiến hoảng loạn kéo đi cả. Những con kiến to vàng cuống quýt, bò rất nhanh. Có hôm ông đang ngồi lặng lẽ, hai mắt đăm đăm nhìn vào vách lá mía. Hai vệt khói từ vách bốc lên, ông mới biết. Dọc con đường ông chạy tập, sau thành đê, không cần nện. Kẻ ác trong làng không dám hống hách, không dám báo quan cho người đi dò tung tích ông.

      Những năm tháng ở đó không lâu. Ông Trực mất đột ngột trong một trận cảm xoàng. Mất chỗ dựa cả về tinh thần lẫn cơm ăn nước uống hàng ngày, Đục không lo lắm. Ngoài hai mươi, sức lực tràn trề, Đục lần đường về quê. Làm rất nhiều nghề, vừa làm vừa học, Đục chuyên chở nước mắm, gánh cá thuê ở Gành Đỏ (Phú Yên). Làm nước mắm, ướp chượp cá vất vả lắm. Dân nghèo đói, thuyền mủng cũ nát. Phú Yên mãi còn là ước mơ của người dân bình thường. Núi cao, thác lớn, vực sâu chẳng quản, Đục ở ven sông Cầu. con sông có hai cây cầu bắc liền nhau. Dân gọi sông Kiều sau dần biến âm thành Cầu. Sông chảy xiết, cuồn cuộn đổ nước ra biển. Ven biển có dừa. Dừa mọc thành rừng, lứa cao lứa thấp. Đục đã từng trèo hái dừa thuê. Không mấy khả năng leo chuyền, anh nhận việc vác dừa ra thuyền. Công sức bỏ ra nhiều nhưng tiền thuê ít. Nhờ thuyền chở dừa, Đục ra được Quy Nhơn.
      Tại Quy Nhơn, Đục ra tay cứu ông chủ cửa hàng ở Phú Phong có việc xuống thành phố bị cướp. Sau khi hoàn hồn, chủ mời anh về làng. Ở đây nhiều người bán gié bò. Gié bò là món ăn có từ thời Tây Sơn khởi nghĩa của đồng bào Ba Na. Ba có nghĩa là ánh sáng. Na có nghĩa ban ngày. Ông chủ bán gié bò là người Ba Na. Đồng bào Ba Na sống tập trung đông đảo ở An Khê (Gia Lai). Gié là món ăn từ đó theo về Phú Phong. Nấu nước cốt bằng huyết, phổi, gan bò, sau đó vớt ra để riêng. Dùng nước ấy nấu với ruột non bò để thành món gié. Ruột non bò không lộn chỉ bóp sơ sơ với muối hạt và rửa lại bằng nước sôi. Ruột non cắt thành khúc ngắn cho vào nước cốt nấu chín. Gié nấu hoàn toàn với ruột non bò có vị đắng, hôi. Người ta dùng lá giang rừng và ớt hiểm bỏ vào để khử hôi đắng. Nước cốt ấy thành nước gié có màu trắng đục, vị đắng. Lá giang có vị chua, ớt chín cay nồng, thêm gia giảm vừa đủ mặn ngọt. Khi ăn vớt ra tô, thái huyết, phổi, gan bò đã vớt riêng đặt lên rồi rải bên trên các loại rau thơm. Ăn gié nóng với bánh đa nướng hoặc bún. Khi ăn, khách có thể nhâm nhi với rượu Bàu đá - một loại rượu ngon có tiếng của Bình Định. Giá một tô gié thường cao hơn một tô phở thường.
      Đục ở Phú Phong hơn ba tháng. Khi đã quen làm gié bán cũng là lúc lòng nhớ quê, nhớ lời dạy, điều mong ước về mình của cụ Bài, ông Trực trỗi dậy, thúc giục đến cồn cào. Anh xin phép ông chủ ra về. Mặc dầu không muốn, ông chủ cũng phải chiều theo ý anh.
     Phong trào Cần vương lan rộng khắp nước. Ở Hà Tĩnh, khởi nghĩa Hương Khê của quan Đình lớn hơn cả. Đục tìm về thì nghe tin lãnh tụ cuộc khởi nghĩa - cụ Phan Đình Phùng ốm chết, nghĩa quân tan rã. Anh thành người làm thuê kiếm ăn, lăn lộn tìm miếng cơm manh áo mong trở lại quê hương. Thực dân Pháp đàn áp khởi nghĩa Ba Đình làm tắc đường. Suốt những năm gian lao ấy, Đục thành người từng trải, thẳng thắn, quen ăn to nói lớn. Từ cậu bé hiền lành quê Phú Ốc (Lộc Hoà. Nam Định) quanh năm đói khát, anh trở nên cứng rắn, dám đứng lên bênh vực lẽ phải, bảo vệ kẻ yếu. Từng nếm hàng trăm món ăn ở Huế khi bàn luận chí hướng với người đồng tâm. Dám ăn trạch trấu đổ cả ống hạt tiêu vào nồi kho. Thơm lắm nhưng không quen thì chịu. Vị cay xộc thẳng lên mũi, nước mắt dàn dụa. Qua Bình Trị Thiên, Đục chèo thuyền chống lũ cùng dân Nghệ Tĩnh. Anh ăn nhút Thanh Chương tương Nam Đàn, cày thuê trên đất cát. Quả cọ chín xóc trong giỏ cho tróc vỏ ngoài, đổ vào nồi ngâm nước nóng để bên cạnh bếp. Mang cầm bóp, hạt bắn ra còn cùi. Đem cùi cọ muối với xơ mít thái miếng, lá bắp cải, ủ chua. Ăn vừa bùi vừa béo lại có vị chua chua của dưa. Đó là nhút. Ở Thanh Hoá, Đục vác gỗ, cốn bè luồng, ăn thịt chó nấu mật mía. Mật mía dẻo, màu hơi vàng, rót chảy được, cho vào thịt chó thật dậy mùi. Cầm miếng cháy nồi ăn tưởng như tinh đất lộc trời còn đọng lại.
     Sau hơn chục năm, Đục mới trở lại mảnh đất quê hương. Vợ chết khổ trong dịch thương hàn. Thằng Bào được chú bác nuôi đã hơn mười tuổi, người ốm nhách. Cánh tay gày guộc mảnh mai như cánh gà. Ôm chầm lấy con, nước mắt dàn dụa mà thương con, thương vợ, thương mình. Quê hương nghèo hơn xưa. Theo lời bạn dặn, Đục mang con vừa làm thuê, vừa hỏi đường, lần về Cẩm Phả. Mấy năm đào than, lủi thủi đầu đường, mom tầng, tích cóp chút tiền, cải táng cho vợ. Từ quê, Đục trở lại tầng. Trên đường, bố con ông gặp bọn Cải. Biết chúng bằng tuổi con mình. Quê nhà đói khát, ra mỏ nhiều việc, sẵn máu hào hiệp, ông rủ chúng theo.

     Mợ Nam tất tả chạy lên tầng, nét mặt hớt hải. Cậu nhìn thấy vội chạy tới. Vợ chồng bàn bạc với nhau điều gì. Cậu Nam gọi Đục: - Ông cùng mấy đứa cháu ông theo tôi về lán nhé!
     Thằng Hoá chết. Nó nằm co quắp trong góc phản, người bé teo. Ông Đục ôm xác nó, đưa ra ngoài. Ánh sáng hắt vào. Chắc nó đã chết mấy tiếng đồng hồ. Cặp mắt khép hờ. Mặt xanh lét. Ông Đục vuốt mắt, miệng lẩm bẩm, giằng kéo cho người nó thẳng ra. Lấy chiếc khăn đội đầu của Hoá, ông phủ mặt, xé vải buộc chân buộc tay cho nó. Phân công Cải và Ao ra phía dưới cầu, đào huyệt. Mợ Nam đưa ông bó hương. Ông đốt, lầm rầm khấn khứa. Gió về. Khói hương cũng tạt nhanh.
Những người cùng lán trở về. Những người làm cùng tầng. ai cũng đến chỗ thằng Hoá nằm, lặng nhìn hoặc nói vài câu với kẻ đã khuất… Có người bạo hơn, lật khăn xem mặt nó. Mấy bà lu loa: - Khổ không con ơi! Mới tí tuổi đầu. Không mẹ, không cha, không nhà, không cửa. Làm gì nên tội mà chết khổ chết sở. Tứ cố vô thân. Con ơi!
     Tiếng khóc ai oán khiến ai nấy mủi lòng. Nhiều người lau nước mắt, tủi thay cho nó, cho thân phận mình. Ông Đục dàn giụa nước mắt, quát mọi người dãn ra. Cải cầm đuốc đi trước. Ông Đục vác thằng Hoá lúc này đã như khúc gỗ lên vai. Mấy người đi như chạy, như có người đuổi, ra khu chân cầu, phía nghĩa trang.
     Tối ấy, họ ăn cơm muộn. Mấy bác cháu tắm táp, ăn uống, khuya mới vào chỗ thường ngày. Ai cũng nghĩ nó còn quanh quẩn đâu đây. Những tiếng lào xào xót thương cho thằng Hoá. Không ai tường tận quê nó. Người nói Nam Định, Thái Bình. Kẻ bảo Hưng Yên, Hải Dương. Hoá theo chú ra làm mỏ. Được đâu nửa năm, ông chú tự nhiên đi làm không thấy về, không tin tức. Việc đã quen, nó nhặt than rơi vãi ở tầng, góp lại bán cho cậu Nam. Tích cóp được chút gì không, không ai biết.
     Cái chết của thằng Hoá qua nhanh như gió thổi vào rừng, xôn xao chút ít rồi thôi. Người ta còn bao nhiêu chuyện phải bận tâm. Ngày mai làm ăn thế nào? Cái đòn của mình đã yếu, mòn vẹt cả hai mấu, gánh nặng toàn trượt. Đôi phân ký tuột mấy rẻ rồi, cố cạp lại mà dùng cũng thêm được mấy ngày. Không biết ai còn dây thép cho xin một đoạn… Những chuyện tầm thường nhợt nhạt nhưng là cả mồ hôi nước mắt, bát cơm manh áo người ta. Phu phen cần gì nhiều đâu. Chủ yếu chắc dạ. Dạ dày có no mới nghĩ đến chuyện khác được. Bao nhiêu cố gắng, vặt mũi đút miệng mà dạ dày họ có mấy lúc đủ no đâu. Quên chuyện của Hoá nhanh vì chuyện ấy cũng thường xảy ra trên tầng bãi này rồi. Nhưng với ông Đục cùng mấy đứa Cải, Đá, Bào, Ao…Cái chết của Hoá như dằm đã lặn sâu trong da, chỉ chờ động vào là nhức buốt.
    So với Đá, Cải cao hơn. Nó nói năng gìn giữ ý tứ, ngó trước trông sau. Thày mẹ Cải đều dân quê, cổ cày vai bừa. Ông Thốn - bố Cải - người mập mạp, da đỏ au, đi như đập đất. Người mang tướng ấy, khổ sở nhưng chắc chắn, chả bao giờ hại ai. Tụ tập, cỗ bàn ở đâu kể cả nhà mình cũng phải đắn đo, nói năng sao cho phải phép. Ông khoẻ, làm gấp đôi ba người. Bà Thốn ngược lại, mảnh mai, da trắng hồng. Hai vợ chồng được bốn con, hai trai hai gái. Anh trai Cải là Của. Công to việc nặng trong nhà, Ông Thốn và Của lo. Bà Thốn chăn nuôi lợn gà. Năm một lứa lợn, hai con. Chủ yếu khoai khoẳm rau cỏ, chúng sống để biến tất thảy rơm rác rau rợ thành phân bón ruộng. Gà nuôi lúc hàng đàn, lúc chả còn con nào. Chết toi hết. Sau Cải còn hai cô: cô Thừa, cô Thãi. Các cô cũng đã bắt đầu khôn, mười mười hai tuổi rồi. Chính vì thế, Cải thường làm thuê đồng bãi khác. Trước gần sau xa, sáng đi tối về, đến tháng hai lần về rồi ba bốn tháng về một lần. Công việc đồng áng đã quen. Đâu có việc, cần người là Cải đến. Đá ở gần nhà Cải, nhà Ao. Quen nhau từ thuở cởi truồng. Cả ba cùng tuổi. Nô đùa nghịch ngợm, Đá và Ao có thể bạ nhà nào ngủ nhà ấy. Cải không thế. Dù vui mấy, trưa tối cũng về nhà mình. Chúng chạy nhảy trên sông Hoàng, bắt cá, bơi thi… lớn lên như cây dại, ít được người săn sóc, vun xới, bắt sâu tỉa lá. Công việc bù đầu. Cải được nhiều người thừa nhận là chín chắn. Hai hàm răng trắng, bằng chằn chặn. Thừa hưởng gương mặt tròn của bố nhưng nước da mẹ, trắng hồng, không lẫn được. Nhà Đá rất nghèo. Bố mới chết đầu năm. Nó là anh cả trong gia đình bảy người con. Bà mẹ tần tảo gồng gánh nuôi mình, bốn đứa con trai, ba con gái và đóng góp lệ họ, lệ làng. Trong lúc vội vàng, bà không thể trả lời đúng thứ tự từng đứa: Đá, Vôi, Gạch, Cát, Sỏi, Đất, Đồng…Bà rất ít thời gian thư nhàn nếu không muốn nói là không có. Nhà  Ao cũng nghèo. Nó có đôi lông mày rậm, cặp mắt sáng. Một nốt ruồi to ngay cánh mũi. Là con cả trong gia đình sáu anh em: Ao, Sông, Suối, Ngòi, Đầm, Bãi. Ba đứa con trai: Ao, Đầm Suối. Ông bố còn khoẻ, vác đất đắp tường, quật gạch như thanh niên nhưng bà mẹ yếu, suốt ngày lui cui trên nhà dưới bếp, loanh quanh sân vườn với những công việc lặt vặt không tên nhưng bận bịu. Ao cao to hơn tuổi, thích liều lĩnh mạo hiểm. Nó khác với Đá. Đá thường hấp tấp vội vàng nhưng hơi nhát. Nó khác với Cải. Cải từng trải, suy xét kỹ lưỡng hơn. Bào cùng tuổi, theo bố ra mỏ từ khi lên mười. Quen biết nhau từ ngày bé xíu. Sau vài năm, gặp lại, nó cũng khác rồi. Hiền lành nhút nhát, không dám đương đầu trực tếp với khó khăn. Có lẽ nó đã quen dựa vào bố - ông Đục.
    Cả bốn đứa đều suy nghĩ nhiều sau cái chết của Hoá. Chúng lờ mờ nhận ra. Công việc cặm cụi đá đá than than này rất gần với cái chết. Tuy trong tay có đồng tiền. Những đồng tiền mồ hôi nước mắt thực sự to lớn với người dân quê nhưng ở đây trừ đầu trừ cuối chẳng bõ bèn gì. Cái chết rình rập trước mặt sau lưng. Công sức mọi người bỏ ra chỉ làm giàu thêm, to thêm túi tiền kẻ khác. Một điều gì mơ hồ thoáng qua cứ day dứt chúng khi nghĩ đến Hoá. Hoá như đứa em bé bỏng. Nó đã làm gì nên tội mà chết cay chết cực.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 08.12.2014.