Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Về Làng






21-

Trời se lạnh. Mây xám bay về theo gió đông bắc. Lá bàng chuyển màu úa đỏ. Lá mướp khô ráp quăn lại. Thu về, cũng là lúc làng Mây vào hội. Từ mấy tháng trước, có công văn của Phòng Văn hóa thông tin huyện báo là đình làng đã được Bộ Văn Hóa Thông tin quyết định xếp hạng Di tích Lịch sử văn hóa ,cả làng cứ như sôi lên vì chuyện đón nhận bằng di tích sao cho trang trọng , không thua chị kém em.
Cụ trưởng ban di tích đi từ thôn này sang xóm khác để mượn kiệu, mượn trống,
mượn bát bửu, cờ ngũ phương, ngũ hành. Cụ vui lắm. Gập ai cụ cũng giảng giải :
- Đình làng ta thờ Đức Thánh , công của Ngài to lắm, các vua ngày trước đều ban sắc phong tặng. Ngài có 72 nơi thờ, nhưng làng mình là thờ chính, bởi vậy Nhà nước mới cấp bằng Di tích Lịch sử Văn hóa cho ta, thế có vinh dự không ?
Cụ vừa giảng giải vừa cười hề hề . Cập mắt già nheo nheo . Tấm áo veston cũ, cái mũ len cố hữu cũng rung rung theo nhịp cười. Chờ cho nguời nghe gật gù tán thưởng, cụ lại tất tả chào :
- Tôi vội quá, còn phải sang bên Bãi Giữa mượn thêm đồ tế khí. ấy chỉ có tôi đi thì các cụ bên Bãi mới nể.
Chẳng riêng gì cụ bận, Mấy đêm họp để bàn soạn, xem lịch, định ngày, người ta cũng đã cử ra một bộ máy điều hành công việc hệ trọng này. Ông nào bà nấy tất bật lo mọi công việc, từ đôn đốc các giai kiệu đô tùy cầm cờ cầm lọng đến cách đi cách đứng.
Mấy chục năm nay làng mới vào đám. Ai mà không vui, không cố gắng góp hết sức mình. Nhớ lại những ngày năm trước, ngôi đình đẹp là thế mà phút chốc bị sụp đổ tan tành. Cơn bão lớn ập đến, những cây to đình lớn đều bị hư hại, chỉ có loài dây leo, lau sậy gió thổi chiều nào cũng rạp xuống, bão tan vẫn nhởn nhơ xanh tốt. Đã tuởng là phế tích bỏ đi.máy ông cấp tiến lăm le xin dựng khu thương nghiệp làm cả làng nhao nhác cứ như nhà có biến. Phải giữ lấy đình! Các cụ già gập nhau đều nói :
-Đình mất, đất còn, Còn nền móng đấy, còn tam quan đấy, thì ta sẽ dựng lại ngôi đình cũ, Thờ người sáng lập ra làng, truyền nghề cho làng, giữ lấy cốt cách tổ tiên không tốt ư ? Mà sao lại có kẻ muốn biến nơi đây thành nơi buôn bán. Không thể được.
May mà cấp trên sáng suốt cử người về tận nơi nghiên cứu, khai quật tìm lại các bia ký, đến các cơ quan khoa học tìm lại thần tích, bằng sắc, hỏi dân cặn kẽ đủ điều , rồi cho phép tu sửa nơi tín ngưỡng nên mới có ngày vui này.
Ngôi đình được cả làng đồng lòng tôn tạo tuy chưa được như cổ xưa, nhưng cũng đẹp và trang nghiêm lắm. Cổng tam quan ngày xưa,to cao bề thế đã bị đập vỡ cả rồng, cả đầu trụ nay cũng xây lại. Các ngai thờ, lư hương, câu đối trước đây đặt nhờ nơi khác nay cũng rước về an vị.
Thánh đã hồi cung thì cũng là lúc các đệ tử bề tôi của Ngài được vẻ vang. Hội tế nữ, hội dâng hương được thành lập. Nhớ lại các ngày năm trước khi rước Thánh hoàn cung phải nhờ Hội tế của các bà trên Chợ Lớn về tế mà ức. Họ đẹp lại giàu có nữa, ai cũng có bộ hoàng bào khăn đóng, lấp lánh hạt châu trông cứ như mệnh phụ, nói năng lại ra giọng kẻ cả, khiến các bà làng Mây ức lắm.
Không thể chịu được, các cụ xưa đã dạy : “ Trống làng nào làng nấy đánh, Thánh làng nào làng nấy thờ” các bà tín nữ làng Mây cũng quyết tâm học hỏi để thành lập Hội Tế. Buôn có bạn thì tế cũng có phường, Đã có Hội tế thì cũng phải có các hội khác chứ, cho nên đã có lúc trong khi ở giữa đang Hưng- Bái trang nghiêm, gian bên cạnh lại có các bà áo nâu ngồi tụng kinh giải oan cho Thánh! rồi trước cửa đại bái, có các cô múa sênh tiền, âm thanh cứ rộn ràng pha trộn.
Đêm nay các cụ trong Ban Tổ chức đến đình, ngồi họp với nhau bàn về ngày đại lễ, mở đầu cuộc họp, cụ Cả nói :
- Bây giờ thì ta có kinh nghiệm rồi, ta nên tổ chức ngày lễ thật quy củ. Các vị nghĩ sao ? Câu hỏi đúng ý mọi người, nhưng sự đời thường không suôn sẻ, không bệnh nọ thì cũng tật kia. cái khó bây giờ là chọn người vào Ban Tổ chức Lễ Hội, Dựa vào tộc họ hay dựa vào xóm thôn ? Chẳng ai chịu ai, bàn đến khuya mà chưa nát nước. Xưa nay, ngôi thứ vẫn là điều lớn trong xã hội, Có danh là có lợi. Khi cón đương chức, ở cơ quan thì “e hèm” một tiếng cũng đủ để đồng liêu và cấp dưới quan ngại. Nay hưu trí rồi, - nếu không có một chỗ đứng thì ai coi mình ra gì, ở nhà không bảo được con thì ra chốn công đình ai chịu phục ai.
Khác với các ông, các bà đi lễ để làm điều thiện và cũng vừa để phô bày cái thân thể sắp tàn của mình, vừa trưng diện vẻ giầu có suốt một đời chắt chiu. Cũng có người tìm một sự ăn năn an ủi trong tâm linh đối với một thời đã qua, nên họ không có một ước vọng nào khác.
Ngày lễ đã đến, suốt một đêm trng trí, bày biện nên bây giờ trông đình làng đẹp lắm . Dân đến đông vui nhộn nhịp, lúc nầy sao mà lắm ông “trịnh trọng viên ” đến thế, Quanh bục đặt micrô luôn có mấy vị lăm le đứng ra điều khiển, người làm thật sự chẳng thấy đâu. Cụ Trưởng đóng bộ đại lễ đứng trang nghiêm như để làm gương cho mọi người
Trống nổi từng hồi nối tiếp nhau đón bước đi của đám rước, đoàn nhạc công đang vào sân, họ cử hành điệu “Lưu thủy ”, tiếp đến 4 cô cậu nhảy múa theo điệu sênh tiền. Một cô mắt phượng mày ngài dẻo tay múa cờ, dẫn đường cho đám rước đi vào tron g đình. Tấm bằng Di tích Lịch sử được đóng trong khung gỗ quý để trên kiệu, lấp lánh ánh nắng trong đám cờ xí tàn lọng . Theo sau họ, các bà trong hội tế, hội dâng hương, hội thiện tâm, cùng nhân dân trang nghiêm hớn hở đi hầu. ở trong làng có ngôi thứ, thì ở đám rước cũng vậy, Một trật tự được quy định chặt chẽ, không ai được chen ngang.
Đã đến lúc làm lễ trao nhạn bằng Di tích Lịch sử văn hóa, trước các vị quan khách, ông đại diện chính quyền cấp huyện trân trọng trao tấm bằng cho cụ chủ tế, chiêng trống nổi ba hồi, báo hiệu đình làng Mây mãi mãi là di sản văn hóa , ai cũng cảm động, giàn giụa nước mắt, họ nghĩ đến những ngày đã qua vất vả, gian truân, kiên trì mới có ngày hôm nay. Lạy Thánh mớ bái, Ngài linh thiêng dun dủi nên chẳng có kẻ nào dám động đến chốn thổ của Ngài.
Lễ kéo dài cho đến chiều tối thì dỡ rạp, Quan khách đã về , chỉ còn các vị trong ban tổ chức và các bà giúp việc, họ đang vui vẻ xem lại băng viđêô quay cảnh rước lễ .
Đẹp quá! Vui quá! tiếng xuýt xoa, tiếng cười thật là sảng khoái.
- Đấy đấy, Trông mà xem, không có chúng tôi thì làm gì có cảnh đẹp thế này ,
Bà chủ tế chỉ vào cảnh trên màn ảnh
- Bà không xem lúc rước à, đội ngũ đẹp là do cánh trật tự chúng tôi đấy chứ. Nói thật chứ vất vả lắm, thế mà cái tay cầm camêra lại chỉ lướt qua,
Chợt ông phó ban tổ chức vỗ đồm độp vào vai bạn mà cười : “Cái ông này láu thật, ở chỗ nào cũng thấy mặt. Khao nhé”
Mỗi người một câu kể về nhiệt huyết xây dựng quê hương, Hể hả lắm, Một bà ghé tai cụ Trưởng ban tổ chức nói : “Hôm nay xong rồi, các cụ nhớ cho chúng cháu xin cái khỏan “trà nước” chạy cửa sau mấy vị cấp trên nhé. Chả nhiều đâu, chỉ xin tạ ơn mỗi vị một chai sâm banh thôi.”
Ông thủ quỹ từ nãy giờ đang lẩm bẩm tính toán, quay phắt lại nói “ Làm gì có chuyện đó, Tôi đã dò hỏi khắp nơi rồi, các ông trên Bộ, trên Sở, trên Huyện chả đã dặn ta rằng ai đòi ăn theo di tích thì cứ mời gập ông chủ tich UBND Xã, các ông áy sẽ trả công cho. Bịp bợm thật.”
Băng viđêô vẫn chưa hết, mấy người ngoài sân thấy huyên náo dừng tay nhìn vào, Thằng Cò, một thằng lẩm cẩm mấy hôm nay được các bà sai làm việc vặt, lại được hưởng lộc đĩa xôi chè. No bụng, hắn quay vào chỗ họp, cái mặt vừa bẩn lại vừa ngô nghê chẳng hiểu vì sao cất tiếng cười toe toét :
- Hê... hê.. việc làng vui lắm , các cụ nhỉ

22-

Việc làng thế là đã xong, các ông già bà cả làng Mây thở phào , trút một gánh lo toan, người già lại chơi chắn, lại đến nhà nhau tụm năm tụm ba nói chuyện đồng áng, cháu con và đất đai. Ông Tân hỏi cụ Cả Na “ Làng ta vào hội sao không thấy có trò vui” Ông cụ cười , thân thiện nói :” Ngầy trước, làng chúng tôi khi vào đám còn có hát trống quân, vui lắm, bây giờ không ai hát, mà đánh bóng chuyền hơi thì cũng chỉ có một số người tham gia, không đông như xưa”.
- Thế cụ còn nhớ bài hát trống quân nào không ?
- Sao lại không nhớ, cái thời trai trẻ tôi là người giỏi nhất đấy,
Ông kể rằng hát trống quân cũng có câu mở đầu, sau khi đôi bên hát vào nhịp , bấy giờ mới đổi sang đối đáp, câu hát mở đầu như sau :
Thình thùng thình !!!
Đồn đây mở hội trống quân
Để cho bên nam, bên nữ chơi xuân đám này
Mừng đàn anh lại mùng giây
Mừng chim loan phượng sánh cây ngô đồng
Mừng người xưa Bắc, mừng kẻ xứ Đông
Mừng chim loan phượng ngô đồng sánh đôi
Tôi mừng quế sánh với hồi
Mừng cho thục nữ sánh người trượng phu
Thình thùng thình.!!!

Rồi không đợi khuyến khích, ông cụ hắng giọng đọc liền mấy bài . Này nhé, đây là bài Nắng, bài Tháng, đây là bài hát đố, đây là hát ví...Cứ như thế, ông cụ đọc một mạch lời những bài hát , được dịp ông Tân vội vàng ghi chép mấy trang giấy liền.
Bây giờ ngồi bên bạn, ông giở ra ngâm nga từng bài
Bên gái hát trước Bài Nắng và đòi bên trai trả lơi
Hát rằng :

Tháng Giêng là nắng hơi hơi
Tháng Hai nắng ở giữa trời nắng ra
Tháng Ba nắng thực nắng thà
Tháng Tư có nắng như là nắng không
Tháng Năm nắng đẹp, nắng giòn,
Tháng Sáu có nắng, bóng tròn về trưa
Tháng Bẩy thì nắng vừa vừa
Tháng Tám vừa nắng, vừa mưa thế này.
Tháng Chín nắng đắng, náng cay
Tháng Mười có nắng, như ngày nắng không
Tháng Một là nắng mùa đông
Tháng Chạp nắng ở vườn hồng nắng ra.

Sau khi bên gái hát, bên trai cũng hát trả lời, họ vận vào bài Nắng của các cô để hát rằng

Buồn vì cấi Nắng tháng Tư
Con mắt lừ đừ, cơm chẳng buồn ăn
Buồn vì cái nắng tháng Năm
Chưa đặt mình nằm, gà gáy chim kêu
Tháng Sáu nắng cả về chiều
Mưa thì mưa it, nắng nhiều lắm thay
Nắng cho héo lá vàng cây
Nắng cho cạn nước, cá gày vượt lên
Nắng cho cầu đảo các đền
Ba ngày lễ tạ, Trời liền cho mưa
Tháng Bẩy trời nắng vừa vừa
Tháng Tám ngày nắng, ngày mưa thế này
Tháng Chín nắng đắng, nắng cay
Tháng Mười có nắng, nhưng ngày ngắn không
Tháng Một là nắng mùa đông
Bước sang tháng Chạp hanh nồng em ơi
Bài nắng anh đã họa rồi,
Bài Mưa, em họa một bài cùng vui

Hai bên cứ miên man ca hát hết Nắng đến Mưa, ra đố rồi đến giải đố cuộc vui như vậy kéo dài thâu đêm suốt sáng. Đọc cho bạn biết vài trang ghi chép để bạn hiểu về hát trống quân, hát ví, hát đối ở hội hè nông thôn xưa. Ông cũng cho biết : - Họ hát thanh với nhau, rồi họ cũng hát tục với nhau,
Có khi bên nữ chanh chua hát rằng :

Hôm qua em mất váy thâm
Hôm nay em thấy anh cầm ô đen

thì bên nam cũng khôn ngoan trả lời :

Ô đen bác mẹ anh mua
Cớ sao em phải chanh chua với người ?

Như thế chưa hẳn là đã chịu tài, bên Nữ lại hát rằng

Trăm năm se sợi chỉ hồng
Nhốt người tài tử vào trong chốn giời
Bao giờ tài tử có nhời
Thì em mới ngỏ chốn giời cho ra

Nói như thế thì quá lắm, bên Nam đành mang vũ khí của mình ra chiến đấu :

Súng lục anh đúc đạn vàng,
Anh ngồi hý hoáy bắn toang chốn giời!

Câu chuyện hát đối ở nông thôn, ông Tân mang về kể cho bạn, làm cho ông Chu cẩm phục và ao ước :
- Ông sướng thật, được đi nhiều nên biết nhiều, hơn tôi đấy
Hai ông cùng cười, uống chè và tiếp tục kể cho nhau nghe những câu chuyện ở một vùng quê .

23-

Trước đây, làng Mây là một làng trồng cây đặc sản, từ ngày trong địa bàn có con đường vành đai đi qua, lại có mấy trường Cao Đẳng được phép thành lập, số sinh viên cần thuê nhà trọ ngày càng tăng, thế là tại các làng đua nhau phá vườn quả để làm nhà trọ. Mỗi gia đình chỉ cần có 10m2 cũng đủ xây một buồng trọ cho hai sinh viên thuê, thu nhập , thu nhập hàng năm gần hai triệu đồng, kinh tế lắm. Cái lợi có đấy nhưng mà cái hại cũng không ít.
Kể từ ngày Lanh đi xe làm xe ôm, tự nhiên gia đình anh ta có sự thay đổi cả về hình thức lẫn nội dung. Từng bước một, Lanh dấn thân vào xã hội và nhuộm mình trong đó. Đầu tiên là quan hệ bạn bè.
Hạ đã “ra xe” từ mấy năm nay, cuộc đời chở khách ban ngày, chở gái ban tối đã khiến Hạ trở thành một người bặm trợn. Anh ta bắt bồ với một cô gái quê. Hàng đêm đưa em qua sông lâu dần thành “già nhân ngãi, non vợ chồng” Cô ta có thai và muốn giữ lại đứa con “tình nghĩa”, đến lúc đó Hạ lo ngại việc sẽ lớn hơn, anh ta để tiền cho em sinh nở, lại cẩn thận để cả số điện thoại để em liên lạc hàng ngày. rồi cao chạy xa bay, Chết nỗi, số điện thoại đó là số của nhà Lanh. Mặc cho vợ chồng Lanh thanh minh nỗi oan do bạn gieo vạ, bà mẹ cô gái cứ dò theo nhà có số điẹn thoại ấy, cho con gái đến nhà chờ ngày ở cữ !
Để trả ơn, Hạ thu xếp cho anh ta một chỗ đứng trong hàng xe ôm hàng ngáy, lại dạy cho Lanh quan sát, biết người nào là sinh viên, người nào là cave, lại chỉ cho Lanh các mối đưa đón các cô gái nhà hàng.
Của đáng tội, đi xe như thế phải đi sớm về khuya, đã bao nhau thì phải chờ, em đi làm việc tại các phòng cắt tóc máy lạnh, các nhà massage hoặc làm gì đó, luôn cần một xe túc trực để khi có điện thoại từ đâu gọi tới , đi ngay cho kịp công chuyện. Cho nên mỗi cô “gái nhà hàng” phải chọn một anh xe ôm để “ăn đời ở kiếp” với nhau
Nhà Lanh có 6 phòng trọ, khách trọ có nhiều người khác nhau, khi là sinh viên, khi lại là các cô gái . Mỗi cô do một anh xe ôm “nuôi”, được chủ nhà ưu ái mắc điện thoại đến từng phòng, điều mà các cậu sinh viên thuê trước có xin cũng không được. Các cô phải có điện thoại liên lạc vì các cô ấy bận lắm. Có khi cô A từ nhà hàng về, mới kịp thay đồ,tắm rửa qua quýt, giấc ngủ chưa sâu lại có chuông gọi, rồi vài phút. sau xe đến chở đi. Không có thời gian riêng cho mình, không có cả cái thời gian tối thiểu để họ làm cái việc của người phụ nữ là quét dọn nơi ở, giặt giũ quần áo, Họ chỉ nhanh chóng làm vệ sinh cái chỗ cần của thân thể là chủ yếu.
Co người trong xóm thấy chướng mắt nói với vợ Lanh :
-Mày thả cho nó đi làm xe ôm, tiền chưa thấy đâu, nhưng đã thấy gái đầy nhà. Cẩn thận kẻo mất chồng đấy.
--Cháu cũng biết thế, nhưng cháu thì đi chợ suốt ngày, làm sao quản được.
Trong khu nhà trọ, các cô gái thường có bạn trai cùng về, đối phó với mọi người,các cô giới thiệu đó là chồng của họ, Nhưng sáng là người này,tối là người kia, cô chủ nhà phải hỏi
-Sao chúng mày nhiều chồng thế.? Đúng là như vậy, có người làm chồng một đêm, có người làm chồng một tuần. Có một cậu hình như là con nhà lành bị cô Tích chài,đem lòng yêu thương quyết chí đến khu nhà trọ để cùng người yêu hưởng hạnh phúc.. Cô cậu ríu rít tô điểm cái buồng riêng, dán giấy hoa, treo ảnh cứ như buồng hạnh phúc Nhưng đêm đêm cô đi làm, cậu nằm khoèo chờ vợ, chẳng dám ló mặt ra ngoài. Cô vợ về, hai người mới ngủ với nhau vài giờ lại có điện thoại gọi ra xe đi đột xuất. Vợ chồng mới cưới mà đành chịu, con ngỗng vàng lại thu lu nằm đợi.
Cái nhà trọ hiền lành lập ra để cho sinh viên trọ đang bị nhóm xe ôm do Hạ cầm đầu. Hạ đã khống chế bắt Lanh phẩi để nhà cho bọn chúng tung tác. Nay liên hoan sinh nhật, mai lại mừng cái gì đó Đêm đêm thường từ 24h đến 02h, các cô mới được xe ôm đưa về, hoặc khách đưa về rồi lại nằm ngủ tại đấy . Người làng thì thào với nhau
-Buồng này đêm qua hai cô ngủ với một thằng.
-Thế lúc nó “ấy” nhau thì có đứa ngồi xem , có đứa chịu “ấy” à?
- Chả biết nữa, nhưng đứa nào ngủ mê mệt là đứa “làm ” nhiều nhất! Hề... Hế
Họ là người ở đâu đến đây, nếu gợi chuyện, các cô thường đễ dãi kể “cháu quê ở Thái, cháu quê ở Thanh, có cô đã có chồng con, lên thành phố làm thợ may, làm thợ massage mỗi tháng kiếm một vài triệu gửi về quê để nuôi cái gốc khô héo”
Chuyện của các cô, có ngườì thông cảm, có người ghét bỏ. Họ bảo “Đâu phải ở nhà quê nơi nào cũng khổ, chẳng qua là đua đòi đem vốn tự có đi buôn, gieo rắc nhiều nỗi bất hạnh cho người khác”
Nhưng ở thành thị cũng nhiều cạm bẫy lắm, ngay cánh xe ôm cũng thường có những hành động bất nhân, đôi khi đợi khách, họ kể với nhau như là khoe một chiến tích,
Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” tự nhiên khu nhà trọ đã thành điểm hẹn của những tay máu gái. Họ đợi lúc vợ Lanh đi chợ, mới kéo đến gọi Lanh nói vài ba câu chuyện bâng quơ, rồi đưa mắt về dãy nhà trọ. Biết ý, Lanh nói “ đứa nào khi về cũng có khách bám theo, chúng nó còn đang quắp nhau cho bõ đồng tiền bát gạo”. Thế là ông khách đó đành nuốt cơn thèm khát ra về.
Lanh cũng bắt đầu vơ bèo gạt tép, đêm đêm anh ta cũng đưa về những khách trọ không rõ lý lịch. Vợ Lanh bắt đầu để ý đến công việc của chồng và đã có lần hai người cãi lộn căng thẳng
Chứa trọ đã phân hóa các gia đình nông dân vốn chân chất, Lanh lấy rượu làm vui, trong khi vợ Lanh cấm cửa không thèm quan hệ với chồng nữa. Sự cô đơn đối lập với Lanh khiến anh ta cảm thấy bơ vơ ngay trong nhà của mình, Mẹ con nhà nó rút vào buồng ngủ, để mặc Lanh say khướt, chửi bới ở ngoài. Còn đâu những bữa cơm ngon lành mà vợ chồng con cái cùng ăn. Uống đã say, nhưng có miếng nào trong bụng, anh ta nằm gục trên cái sập mà ngày trứoc, hai vợ chồng thường ngủ
Cuộc sống của gia đình Lanh với cách làm kinh tế “nhà trọ”.đã như một vòng xoáy ma thuật mà ai sa vào khó thoát ra được. Vòng xoáy đó đã và đang tác hại đến đời sống văn hóa vốn rất “chất phác” của đông đảo người xóm quê, cho nên bà con hàng xóm đều phê phán. Ông Cả nói với Lanh :
-Quê ta không phải là nơi xô bồ như xóm liều trên Thành phố, mà ở đâu thì cũng phải dẹp cái nạn ma cô mại dâm, cho nên chú phải mau chóng tách bỏ bạn xấu, cho ai đến thuê trọ cũng phẩi biết rõ căn cước, lý lịch của người ta, trình báo đúng phấp luật Đừng quá sa đà mà hối không kịp đấy. Đừng nghĩ rằng việc mình làm không ai biết, nhưng mà Trời biết, Đất biết, Người đời biết cả đấy.
Có lẽ Lanh cũng hiểu để trở lại con đường làm ăn chân chính. Xin hãy đợi xem

24-

Làng Mây cũng như các làng khác, huyện chủ truơng điều gì thì họ lại làm việc nấy, không thể đi ra ngoài quỹ đạo. Từ mấy hôm nay, Câu lạc bộ những nông dân thực hiện Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) bận rộn sinh hoạt. Chả là ông chủ nhiệm vừa đi tập huấn về đã hiểu nhiều điều.nhất là cái cơ chế sinh thành ra con người. Thì ra từ trước tới nay mình ngốc quá. Ông nhớ lại những lần sinh con, lần nào ông cũng đổ tại “Giời ” . Có con là do Giời cho, là do Phúc nhà mình, còn cái chuyện “ấy” thì ông chả hiểu mô tê gì. Giời sinh ra thế, từ ông vua cho đến dân thường cùng theo quy luật đó.
Bây giờ đến lớp học, nghe thày giảng, lại xem tranh, xem phim ... ông hiểu ra người ta có thể thay quyền tạo hóa mà định số con của chính mình.
Hít xong một hơi thuốc lào, ông nói với mấy người hàng xóm CLB
- Người ta sinh ra là do nam nữ kết hợp với nhau, điều đó thì ai cũng biết, nhưng cánh đàn bà họ không tự sinh đẻ nếu không có chúng ta. Giời sinh ra thế, dưng mà đẻ nhiều thì nheo nhóc lắm, nhà nào cũng con đàn con lũ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Tôi dược đi hoc, đi tham quan các nơi, thấy nhà người ta it con nên giàu có, nhà cao cửa rộng trông mà sướng mắt. Mà họ cũng là nông dân như mình thôi, thì ra họ áp dụng các biện pháp tránh thai, các ông ạ.
Có người cười, chuyện ấy cũ rồi ông ơi. Rồi có người cắt ngang :”đó là chuyện của đàn bà, họ muốn ấm vào thân thì họ phải lo, chứ cánh đàn ông lo cái gì”
-ấy chết, nói như vậy các bà tự ái cấm cửa không giao lưu nữa thì chúng mình chết héo.
Mọi người cùng cười, ông chủ nhiệm được đà nói tiếp “thì ra họ triệt sản nam các ông ạ”
Chuyện đến mức này thì không ai cười được , chả nhẽ đang khỏe lại thành “quan thị” tất hay sao. Một người hắng giọng hát câu tuồng cổ :
- Thị vào chầu, thị đứng thị trông, thị muốn “ấy” thị không có “ấy”
Người ta lại ồn ào, khiến ông chủ nhiệm gắt lên :
- Thì có im đi không nào, tôi đã nói hết đâu
- Chúng tôi đang nghe đây, chỉ sợ vợ ông không chịu nghe thôi !
- Thì cứ đợi đấy.
Từ hôm nghe tin cánh đàn ông họp riêng với nhau bàn cái chuyện “triệt sản nam”,các bà đi làm đồng hay túm tụm bàn tán. Cô Bính, một cô gái mới lấy chồng, đang tuần trăng mật gọi bà chủ nhiệm hỏi :
--Này bà chị ơi, ông anh vừa đi buôn bánh đúc về bán cho cả làng phải không ?
Câu hỏi của Bính làm bà vợ ông Câu lạc bộ ngớ ra không hiểu cô ta nói gì, các bà khác thì cứ đấm vào nhau mà cười. Có thế mà không biết, cái của ấy mà triệt đi rồi thì chỉ còn là cái bánh đúc thôi. Lúc này bà vợ ông Câu lạc bộ mới hiểu, chị em với nhau mà họ hỏi ác ý quá, không chừng đúng cũng nên. Buôỉ cấy hôm ấy, bà chẳng còn lòng dạ nào nữa, cứ lầm thầm trong dạ : cái ông ấy thế mà tệ, ăn ở với nhau đã hết lộcTrời cho đâu mà vội đình với chả triệt. Tức thật
Cơm chiều xong, bà hỏi chồng :
-Ông nghĩ thế nào mà đổ đốn ra thế, chùa làng đang thiếu người trông coi , sao ông không lên chùa mà tu lấy phúc, lại còn định tu tại gia .
-Bà nói gì mà úp úp, mở mở như vậy
- Này nhé, cả làng người ta đang đồn thổi là ông đi học cái gì không biết, nay về làng đang rủ cánh đàn ông đi “buôn bánh đúc” đấy.
- Ai nói thế, buôn với bán cái gì ?
- Thì ông đang rủ người ta đi thiến, đi hoạn. Cái của ấy mà đã thiến thì chả nát nhẽo như bánh đúc hay sao ? Bỗng dưng ông làm cho vợ chồng người ta chê nhau là ông mang tội lắm đấy.
Nghe vợ nói, ông chủ nhiệm CLB KHHGĐ giật thốt thì ra không thể gấp gáp thực hiện trong khi những người phụ nữ làng này chưa hiểu hêt. Thôi thì tuyên truyền từ bà này sang bà khác vây. Ông bảo vợ :
-Cái việc triệt sản này không phải là thiến đi, mà ta chỉ khóa đường đi của con đực, không có con đực thì dù trứng chín rụng cũng không thể có thai, Người ta đã thực hiện ở nhiều nơi, mà vợ chồng vẫn sinh hoạt bình thường với nhau, có ai chê yếu hơn đâu. Bà đang tuổi sinh đẻ, con cái đủ rồi, tôi sẽ thực hiện trước vừa để bà đỡ khổ, vừa để....
Bà ngắt lời chồng :
-Ông thiến cái ấy đi, nhưng cái tính hổ mang hổ lửa của ông vẫn còn, được thể ông định mang nó đi khắp nơi hay sao?

25-

Dân ta có một truyền thống đẹp mà từ vùng nông thôn đến thành thị nơi nào cũng thực hiện Đó là đi chợ ngày giáp Tết Nguyên đán, ngày đó có thể là 29 hoặc 30 tháng Chạp tùy theo tháng thiếu hay đủ, ngày đó cũng có thể là ngày phiên hay chỉ lầ ngày chợ lệ. Nhưng đã có chợ thì nơi nào, năm nào cũng họp để người mua, người bán gập nhau
mua các mặt hàng thiết yêu, bán cho hết số hàng để thu đủ vốn và lãi . Có khi người ta đi chợ không mua sắm gì, mà chỉ để gập người bạn hàng để chào nhau, chúc Tết bạn hàng sang năm mới buôn bán phát đạt bằng năm bằng mười năm cũ!
Đi chợ có nhiều vẻ, nhiều cách, nhưng thân thuộc nhất vẫn là đi chợ quê vào ngày giáp Tết. Chợ quê là những chợ thành lập ở đầu làng, có chợ hàng xã, có chợ hàng huyện
mỗi chợ đều để lại dấu ấn trong ca dao :

Chợ Canh một tháng sáu phiên
Gập cô hàng xén, kết duyên Châu Trần.

Lạ lùng một điều là trong một vùng, một huyện ngày phiên các chợ không bao giờ trùng nhau , vùng Đông Anh có câu ngạn ngữ “Xa sà Bỏi, Bỏi hỏi Dâu, Dâu quay đầu về Tó,Tó ngó Xa” nên người đi chợ có thể chủ động mang hàng đi bán tại chợ phiên ở khắp nơi mà không sợ bị ế.
Giáp Tết, ông Tân cùng bà con trong làng đi chợ Huyện, đúng ngày phiên cuối năm, cuối tháng. Cái cảm giác thơ bé ngày nào trỗi dậy trong lòng khi ông bắt gập không khí chợ, màu sắc chợ, hoạt động của chợ mà thi sĩ Đoàn Văn Cừ đã mô tả. Chợ huyện bây giờ có vẻ hiện đại hơn trong thơ, nhưng các mặt hàng bày bán vẫn là sản phẩm chắt lọc từ nắng mưa trên đồng, từ giọt mồ hôi mùa hạ và từ cái rét buốt run người trong mùa đông.
Chợ Huyện họp bên ngã tư đường, đây là nơi giao lưu hàng hóa của các huyện miền đồng bằng, miền trung du và thị xã nên từ xưa, chợ Huyện nổi tiếng là đông vui. Nay chợ xây thêm căn nhà lớn, đủ chứa hàng trăm mặt hàng, lại chia các khu vực hành lang xung quanh thành nơi bán rau, nơi bán hàng ăn uống, nơi bán gia cầm, có hàng mây tre đan, có hàng hoa quả. Tuy sắp xếp như vậy nhưng ngày phiên chợ, hàng nọ ngồi níu vào hàng kia chẳng ai so bì,
Người đi chợ phần đông là dân các xã quanh vùng, họ mang hàng đến bán và mua hàng, sắm Tết, ngắm nghía, dạo tìm các mặt hàng. Mà người bán dễ tính lắm, có gì bán nấy, chẳng so đo thách cưới . Đúng như câu “Bánh đúc thiếp đổ đầy sàng, thuận thiếp thiếp ban, thuận chàng chàng mua.” Người ta bày la liệt các loại rau , nào cà, nào rau cần, xu ào bắp cải, cà rốt thành một dẫy hàng với nhiều màu sắc pha trộn, ta có cảm tưởng như đang ngắm cảnh chợ thôn dã từ ngày xa xưa truyền lại trong câu hát đồng dao

Hàng trầu hàn cau là hàng cao gái
Hàng bánh, hàng trái là hàng bà già,
Hang hương hàng hoa là hàng cúng Phật

nên đi vòng quanh chợ, chỗ nào cũng thấy bầy bán, Ngày Tết, người nội trợ trong gia đình khi đã đi chợ mua sắm hàng Tết, ai mà không nhớ mua trầu cau cúng ba ngày Tết và bổ cau têm giầu bày đĩa đón xuân. Tuy không phải là chợ “đầu mối” thế mà dẫy trầu cau vẫn nhiều hàng và đông người mua. Các bà già chọn những chùm cau có cả tua, chúc trầu không vàng thơm mùi quế và miếng vỏ chay hồng như miếng chả. Trầu cau từ câu chuyện dân gian miêu tả tình vợ chồng, nghĩa anh em từ bao đời đã trở thành hồn dân tộc không thể nào quên. Ngày Tết cũng là dịp người sống nhớ ơn những người đã khuất, là dịp kính mời tổ tiên , cha me, cô dì chú bác đã khuất về chứng giám cho nhà cửa, con cháu , súc vật trong nhà được bình yên. Sự giao lưu đó chỉ qua một nén tâm hương nhưng “trần sao âm vậy” ai cũng tin rằng các cụ tổ đã chứng giám, nhà giàu hay nhà nghèo đều không thể thiếu.
Ông Tân đi tiếp một vòng chợ, đến hàng quà quê, Sao mà lắm thế ..la liệt bánh gai, bánh gio, bánh dầy.những món ăn kèm trong bữa cỗ. Rất lạ lùng mà cũng rất khác nhiều nơi, các món bánh đó cũng là vị thuốc tiêu hóa dùng trong ngày Tết . Nhưng ông Tân không để ý đến những món quà đó, ông đi tìm những chiếc kẹo bày trong mẹt bột phủ trắng xóa. Hỏi khắp nơi không thấy ai bán, có bà cụ chân tình nói cho biết : bây giờ người ta không làm loại kẹo này nữa, các nhà máy bánh kẹo trong thành phố đã đưa ra thị trường nhiều loại hàng kẹo công nghiệp, có bao bì bắt mắt, hợp thị hiếu . Ôi cái mùi vị cay của gừng, ngọt lịm của đường mía, vị thơm trong từng chiếc kẹo ủ dưới làn bột trắng nay đã thành ký ức xa xôi
Đi trong nhà vòm của chợ, thấy hàng quần áo, hàng vải vóc bày khắp nơi, ông cứ phân vân liệu sức mua của người dân có mua được hết., nhưng thật không ngờ khi ông nghe các bà đi chợ khoe với nhau : “năm ngoái đã mua áo rồi, nay lại mua thêm chiếc khác vì màu sắc kiểu dáng của nó hợp thời trang”
Ngày Tết, trên hè phố huyện đã có nhiều hàng hoa tươi, hàng lịch , tranh treo tường thay cho các hàng tranh Đông Hồ, tranh Kim Hoàng. Bây giờ , đào không chỉ có ở vườn đào Nhật Tân mà đào được trồng khắp nơi.Người ta không thể đoán định được đây là cây đào Phùng hay đây là cây đào Đông Anh mang sang. Có hoa, có cây cảnh, nhiều làng quê đã thành làng triệu phú và trong ngày phiên này, các bà triệu phú đó đi chợ cũng vung tay mua sắm không phải so đo như ngày xưa.
Chợ quê năm nào, nơi nào cũng vậy. Nếu có điều kiện đi khắp nơi để cảm nhận sự giàu có của quê hương, và cũng để dịu lòng người xa xứ một nỗi hoài niệm nơi mà từ đó con người đã bước đi.

26-

Làng đã qua ngày hội Tế Xuân với tế rước linh đình, trong phần hội, người ta cũng bày ra nhiều trò chơi, nhưng trên bình địa không có chơi cờ tướng. Ông Tân hỏi các cụ vì sao làng ta không chơi cờ tướng trong ngày hội. Một ông lão giải thích : Bây giờ, chúng tôi it chơi cờ tướng trong ngày hội làng, vì các cụ vẫn còn kiêng , sợ cái dớp ngày xưa ám ảnh .
Số là vào năm xưa, ở làng sinh ra một cậu bé đã nổi tiếng thần đồng từ thuở nhỏ, cậu ta không những giỏi văn mà còn giỏi cả đánh cờ tướng. Quan huyện nghe tin, cũng cho mời đến thử tài. Ông quan này vốn là một danh sĩ, cũng giỏi cả thơ văn và cờ tướng, nên khi nghe tin có đứa trẻ hơn mình, quyết đấu cờ bằng được, Cuộc đấu cờ trong dinh quan lớn, nào ai đã chứng kiến ai hơn ai, mọi người chỉ biết là ông huyện đã cho xe song mã của mình chở cậu về làng, cùng với một túi bạc khen tặng.
Khi lớn lên, gia đình ép anh học đủ nho,y, những mong con trai sẽ chiếm bảng vàng, Nào ngờ triều đình đã bãi bỏ lối học từ chương, cùng người Pháp dạy học sinh theo vần ABC. Buồn chán vì nỗi có học mà không thi, nhiều người trong làng đã viết nên
thơ phú đả kích, nay làng còn nhớ bài thơ “vịnh việc học chữ quốc ngữ”

Khen ai khéo tạc chữ ngoằn nghèo
Để giá nhà Nho rẻ quá bèo.
Ngoài cửa trường Tây đông lắm lắm,
Trong thềm họ Khổng vắng teo teo
Phú thơ ông Tỏi nghe hôi rích
Kinh truyện thày Hành xếp mốc meo
Hán tự làm chi thêm vấn vít
Thà đưa Tần hỏa đốt xong veo

Cậu thần đồng ấy cũng đành bỏ Nho theo Quốc ngữ học ABC đến bậc Thành chung, và tài đánh cờ cũng vang danh ba cõi. Nhiều cô gái để ý đến anh ta, gia đình cũng muốn tác thành cho anh ta quên đi câu chuyện đánh cở tướng. nên đã cưới vợ cho con.
Thần đồng láy vợ, tiềng pháo mừng còn chưa dứt thì anh ta mắc bạo bệnh, lìa trần, Đám ma của anh to lắm, Nhiều người mến tài, thương người trai chết trẻ dù không quen biết, thân thuộc cũng tự đến viếng.
Trong đám , có một ông đã ứng khẩu đọc một bài điếu văn như sau

Nhớ ông xưa
Tướng mạo đường đường
Sĩ- nho-y đủ
Tượng trưng cho Mây ổ danh kỳ
nay bỗng nhiên ông cưỡi hạc bay đi
Xe vàng tới muôn nghìn khôn đổi
Vọng tai nghe Pháo mừng năm xưa còn vang dội
Mà đường dài sao Mã vội buông cương
Bạn bè năm Tốt mười thương
Chỉ còn biết thắp nén hương lên mồ.
Mặc cho sông – nước bơ vơ
Mặc ai Tiến – Thoái thờ ơ việc đời
Thu không ngoài chín chục
Mới khuyết một tuần trăng
Trải Dọc – Ngang chậy suốt Chín dòng
Không đoái tưởng Đen – Hồng sự thế.
Tử sinh thường lệ
Nào có riêng ai
Nay non sông mất một người tài
Nhưng danh tiếng nơi nơi còn mãi

Bài điếu văn của vị khách lạ không những hội đủ các quân cờ Tướng,Sĩ, Tượng.Xe, Pháo, Mã, Tốt bày trên bàn cờ kẻ ngang dọc chín dòng, có sông, có nước, có quân đen, quân đỏ, tiến thoái mà còn miêu tả được hình dạng, gia thế người đã khuất, nói lên lòng tiếc thương của mọi người đối với kỳ thủ nên ai cũng cảm động , Họ đều cho là Kỳ thủ đã gập Kỳ sĩ.
Từ đó, trong làng ít người chơi cờ tướng, họ sợ cái dớp mà vị kỳ thủ kia để lại nên trong ngày hội làng cũng không tổ chức chơi cờ tướng nữa.
 

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 02.12.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn