Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (12)



Bắc Thuộc Lần 2

Chiêm Thành & Nước Mẹ Việt






Chiêm Thành- tên của vương quốc Chăm Pa trong sử sách Việt Nam (877- 1693).

Trước năm 859. Người Việt gọi nước này là Hoàn Vương. Đầu thế kỷ XI gọi là nước Chiêm Thành gồm bốn tiểu vương quốc: Amaravati (Quảng Nam, Đà Nẵng ngày nay, và vùng Bình - Trị - Thiên, sau này sáp nhập vào Đại Việt), Vijaya (Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay), Kauthara (Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay) và Panduranga (Ninh ThuậnBình Thuận ngày nay)

    Các vương triều Hoàn Vương & Văn hóa Ấn Độ cổ
Hoàn Vương hay vương triều Panduranga là tên nước đã tồn tại trên lãnh thổ miền Trung Việt Nam ngày nay (757- 859). Kinh thành Hoàn Vương tại Virapura (thành phố Hùng Tráng) nay là thôn Palai Bachong, xã Hòa Trinh, huyện An Phước- Ninh Thuận.
Hoàn Vương là quốc gia sau Lâm Ấp trong lịch sử Chăm Pa.
    Vương triều Prithi Indravarman
Hoàn Vương Quốc ra đời sau một cuộc thay quyền lực ở Lâm Ấp.
Năm 757. Một tiểu vương ở phía nam Lâm Ấp nổi lên hạ bệ Bhadravarman II. Vua trẻ của Lâm Ấp tự xưng vương, hiệu Prithi Indravarman, chấm dứt dòng Gangaraja phía Bắc.
Bia ký ghi Prithi Indravarman- người đã thống nhất lãnh thổ Chăm Pa một cách chính danh nhất, được triều thần công nhận là "người thống lãnh toàn bộ đất nước như Indra, thần của các vị thần". Chăm Pa đã thống nhất, nhưng chưa có tên mới. Họ sang Tàu triều cống, Tàu đặt tên Hoàn Vương Quốc (vương quyền trở về quê cũ).
Prithi Indravarman dời kinh đô Sinhapura (thành phố Sư Tử tại Trà Kiệu, Quảng Nam ngày nay) về Virapura (thành phố Hùng Tráng).
Thời Prithi Indravarman, Văn minh và Văn hóa Ấn Độ từ phía Nam lên, lấn át người Chăm phía Bắc. Tiếng Phạn được phổ biến rộng rãi trong giới vương quyền và các nơi thờ phụng. Đạo Bà la môn được đông đảo người theo. Đạo Phật nguyên thủy lan mạnh dân gian. Đền đài, dinh thự, chùa tháp dựng lên khắp nơi: Khu Lật (Huế), Amavarati (Mỹ Sơn), Sinhapura (Trà Kiệu)... để tạ ơn thần linh.
Ngôi tháp bằng gỗ trước kia thờ nữ vương Jagadharma (646- 653) được Prithi Indravarman xây lại bằng vật liệu cứng tại Nha Trang, trên một ngọn đồi cao cạnh cửa sông Cái (Xóm Bóng), để thờ tượng Nữ thần Bhagavati (bằng vàng). Tháp này về sau được biết dưới tên Po Nagar, hay Tháp Bà.
Prithi Indravarman là một quân vương tài giỏi, đất nước thái bình, phồn vinh. Sự giàu có của Hoàn Vương Quốc hấp dẫn các vương quốc lân bang: Srivijaya (Palembang), Malayu (Malaysia), Javadvipa (Java), Nagara Phatom (Thái Lan), Sriksetra (Miến Điện) và Angkor (Chân Lạp). Họ đến trao đổi và âm mưu cướp phá.
Năm 774. Quân Nam Đảo (người JavaMã Lai) từ ngoài khơi đổ bộ vào Kauthara và Panduranga, chiếm Virapura. Vua Prithi Indravarman chống trả mãnh liệt. Vua chết trong đám loạn quân.
Một bia ký ở tháp Po Nagar mô tả quân Nam Đảo: "Những người đen đủi và gầy yếu từ miền xa đến, ăn những thức ăn khủng khiếp hơn xác chết, lại có tính hung ác. Bọn người này đi mành đến lấy cắp tượng linga của thần Sri Sambhu, đốt phá đền thờ [Po Nagar]".
Sau cuộc tấn công này, quân Nam Đảo cướp rất nhiều báu vật, trong đó có tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng.
    Vương triều Satyavarman
Prithi Indravarman tử trận. Cri Satyavarman cháu gọi ông bằng cậu thay. Satyavarman phải cùng hoàng tộc chạy lên miền Bắc (Bình Định) lánh nạn. Vua được người Chăm và người Thượng địa phương (Ba Na, Hrê) giúp thành lập một đạo quân hùng mạnh tiến xuống Kauthara tấn công quân Nam Đảo.
Quân Nam Đảo lên thuyền bỏ chạy ra biển. Vua dẫn hoàng gia về lại Virapura. Ông xây thêm một cung điện mới trong thành Krong Laa, sáng tạo một phong tục mới, các đời vua sau bắt chước. Đó là tục trồng cây Kraik- biểu tượng hoàng gia, trước cung điện. Đền Po Nagar, bị quân Nam Đảo phá hủy. Satyavarman dựng lại bằng gạch, năm 784 hoàn thành và tồn tại tới nay.
Năm 786. Satyavarman mất. Em trai út của ông lên ngôi, hiệu Indravarman I (786- 801).
    Vương triều Indravarman I
Satyavarman chết. Năm 787. Quân Java từ ngoài khơi lại tràn vào Virapura cướp phá. Giết rất nhiều binh sĩ và dân. Phá tháp Hòa Lai thờ thần Bhadradhipatisvara tại phía Tây thành Virapura (gần Phan Rang).
Quân Nam Đảo chia hai nhóm. Một nhóm bắt nhiều phụ nữ cùng báu vật chở về nước. Nhóm khác chiếm giữ Panduranga.
Năm 799. Indravarman I đuổi được quân Nam Đảo, xây lại xứ sở.
Tại Virapura. Vua xây lại tháp Hòa Lai bằng ba tháp mới, gọi là Kalan Ba Tháp, thờ các thần Indrabhadresvara, Sankara và Narayana. Indravarman I dẹp giặc nổi lên khắp nơi: Candra (phía Bắc), Indra (Đông Bắc), Agni (Đông), Yama (Đông Nam), nhất là loạn Yakshas (Nam). Yakshas là những bộ lạc người Thượng cư ngụ trên lãnh thổ đế quốc Angkor. Không phải quân Khmer.
    Vương triều Harivarman I
Đầu thế kỷ IX. Indravarman I mất. Em rể là hoàng thân Deva Rajadhiraja thay, hiệu Harivarman I. Năm 817. Vua sai tể tướng Senapati Pangro trùng tu tháp Po Nagar. Xây thêm hai tháp mới cạnh tháp chính, một ở hướng Nam, một ở hướng Tây Bắc, để dân chúng đến chiêm bái tượng nữ thần Bhagavati, được tạc lại bằng đá hoa cương.
Hoàn Vương Quốc hưng thịnh trở lại. Harivarman I tấn công những nước bên cạnh. Tháng 1- 803. Quân Chăm tấn công châu Hoan (Nghệ An) và châu Ái (Thanh Hóa), mang về rất nhiều phẩm vật. Với lượng lúa gạo mang về, thủy quân Hoàn Vương Quốc xuất dương trừng phạt vương quốc Kelantan ở Java và Patani ở Malaysia.
Năm 803817. Harivarman I tiến vào cao nguyên Đồng Nai thượng, đánh bại quân Khmer, kiểm soát một vùng đất rộng lớn.
Để cướp nguồn lương thực, năm 808, Harivarman I đem quân đánh chiếm châu Hoan và châu Ái lần nữa. Bị thái thú Trương Châu đánh bại. Năm 809 . Harivarman I tái chiếm châu Hoan và châu Ái dễ dàng, thu nhiều thóc, gạo, của cải quý.
    Vương triều Vikrantavarman III
Con trai Harivarman I là tiểu vương đất Panduranga kế vị năm 817 , hiệu Vikrantavarman III. Vua nhỏ tuổi, triều thần phong tể tướng Senapati Par, tiểu vương đất Manidhi làm phụ chính. Tể tướng này đã tổ chức nhiều cuộc tấn công Campuchia, phá nhiều thành trì Khmer trên cao nguyên Đồng Nai thượng.
Để tạ ơn Bà Mẹ Xứ Sở, trong khuôn viên Po Nagar, Senapati Par xây hai tháp mới về phía Tây và Tây Nam. Xây thêm ba tháp khác. Một tại khu trung tâm thờ Sri Shambu, phía Tây Bắc thờ Shandhaka, phía Nam thờ Ganesha. Trung tâm chính trịtôn giáo vẫn được giữ tại Virapura, thủ phủ Panduranga.
Thời Vikrantavarman III. Hoàn Vương Quốc rất giàu có, quân đội hùng mạnh. Bia ký tại tháp Po Nagar miêu tả vua Vikrantavarman III:
"Người đeo những dây vàng có đính ngọc trai và
ngọc bích, giống như mặt trăng tròn đầy đặn, che một chiếc lọng trắng bao phủ cả bốn phương trời bởi vì lọng còn sâu hơn cả đại dương, thân thể. Người trang sức phủ kín bởi vương miện, đai, vòng, hoa tai, những tràng hồng ngọc... bằng vàng, từ đó phát ra ánh sáng giống như những cây leo sáng lấp lánh".
Thư tịch cổ Tàu Cựu Đường thư :
"Vua mặc áo cổ bối bạch diệp... trên đeo thêm trân châu, dây chuyền vàng làm thành chuỗi...". Đẳng cấp quí tộc và phụ nữ cung đình cũng đeo trang sức quí: "Phu nhân mặc vải cổ bối triệu hà... mình trang sức dây chuyền vàng, chuỗi ngọc trai" hay "... quân đội được trang bị nhiều loại vũ khí khác nhau...".
    Luật đời trớ trêu. Hoàn Vương biến thành nạn nhân về của sự giàu có của mình. Trong nước người thi nhau tranh Quyền/ Tiền. Các nước láng giềng liên tục tràn vào cướp phá. Suốt 21 năm (854- 875 ) quân của đế quốc Angkor nhiều lần tiến đánh Hoàn Vương Quốc. Họ chiếm nhiều vùng đất rộng lớn dọc tả ngạn sông Đồng Nai, băng cao nguyên Langbian, đột nhập vào lãnh thổ Panduranga cướp phá. Vikrantavarman III mất năm 854. Không người kế tự. Nội bộ triều đình tranh chấp. Kết thúc Hoàn Vương
Chiêm Thành & Nước Mẹ Việt
    Năm 859. Vương tôn Laksmindra Bhumisvara Gramasvamin lên ngôi, hiệu Indravarman II. Quốc hiệu Campapura được Indravarman II chính thức dùng. Tiếng Việt là Chiêm Thành hay Chiêm Bà. Tiếng Tây phương là Champa.
Vương triều thứ sáu (875- 991)
Indravarman II (875 – 889). Kinh đô chính ở Đồng Dương- Quảng Nam ngày nay.
Jaya Sinhavarman (898 – 903). Ông là cháu gọi Indravarman II là cậu.
Bhadravarman II (908- 910).
Indravarman III. Vào năm 918, Indravarman III cho đúc tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng dựng tại Tháp Bà. Tượng này bị quân Chân Lạp cướp vào khoảng năm 945 - 946. Năm 965. Jaya Indravarman I dựng lại tượng nữ thần Bhagavati bằng đá ở Kauthara.
Parames'varavarman I. Năm 982, vì bắt giữ sứ giả của Lê Đại Hành nên Lê Đại Hành đánh Chiêm Thành, chém vua tại trận, phá hủy thành trì, tông miếu.
Indravarman IV (Ngô Nhựt Hoan) lên ngôi năm 982, trốn vào Phan Rang, kết thúc năm 986.
Tạo Lưu Kế Tông – (theo Wikipedia tiếng Việt) là người Việt chiếm ngôi vua sau khi Indravarman IV trốn vào Phan Rang. N ăm 986 lên ngôi. Chết năm 988.
Jaya Indravarman I (960 – 965).
    Vương triều thứ bảy (991-1044)
Sri Harivarman II. Băng Vương La Duệ lên ngôi năm 988, lấy Vijaya - Phật Thệ (Bình Định) làm kinh đô chính. Lê Đại Hành đánh châu Địa Lý ngay sau khi Harivarman II lên ngôi. Năm 992. Lê Đại Hành sai mở con đường bộ đầu tiên khai thông với Chiêm Thành ở vùng biển Hà Tĩnh ngày nay. Năm 991- 997. Cu Thi Lợi giữ ngôi vua.
Yan Pu Ku Vijaya (997- 1007) dời đô về Vijaya (Đồ Bàn, Bình Định).
Jaya Sinhavarman II (1041-1044). Vua Lý Thái Tông đánh thành Phật Thệ, chém được Sạ Đẫu, bắt các vợ và cung nữ của Sạ Đẩu và nàng Mỵ Ê.
    Vương triều thứ tám (1044- 1074)
Jaya Paramecvaravavarman I (1044- 1060). Ông đàn áp sự chống đối của dân Panduragan.
Rudravarman III ( Chế Củ) lên ngôi 1061. Năm 1069. Vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành. Chế Củ dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh. Năm 1074 đưa vợ con và 3000 lính sang Đại Việt cư trú.
    Vương triều thứ chín (1074- 1139)
Harivarman IV trị vì năm 1074, đánh phá biên giới Đại Việt. Đánh Chân Lạp đến Cambhupura, đốt phá nhiều đền điện của Chân Lạp. Năm 1075, Lý Thường Kiệt đi đánh Chiêm Thành. Harivarman IV dựng lại kinh đô Indrapura (Quảng Nam) đã bị bỏ từ lâu và xây nhiều đền tại Mỹ Sơn.
Jaya Indravarman II (lần thứ nhất) (1080- 1081). Ông bị chú là Paramabhodistava truất quyền.
Paramabhodistava cai trị năm 1081, bị giết năm 1086. Jaya Indravarman II lên ngôi lần 2.
Jaya Indravarman II(lần thứ 2). Chế Ma Na trị vì năm 1086. Năm 1104. Chế Ma Na đánh ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính. Bị Lý Thường Kiệt đánh bại.
Harivarman V (1114-1129) là cháu gọi Jaya Indravarman II là chú.
    Vương triều thứ mười (1139-1145)
Jaya Indravarman III (1139-1145). Năm 1145, vua Chân Lạp là Suryavarman II đánh chiếm Vijaya, Jaya Indravarman III mất tích.
    Vương triều thứ mười một (1145- 1318)
Vua Rudravarman IV. Kinh đô chính là Panduranga. Kết thúc năm 1145.
Jaya Harivarman I (Chế Bì La Bút) là hoàng tử Civanandana, con vua Rudravarman IV.
Jaya Harivarman II, là con vua Jaya Harivarman I. Làm vua khoảng 4 năm thì bị cướp ngôi.
Vua Jaya Harivarman IV (1167-1190). Bị vua Cao Miên bắt trong một cuộc hành quân vào Chiêm Thành. Năm 1190. Chiêm Thành chia thành hai tiểu vương quốc riêng: Vương quốc Vijaya Vương quốc Panduranga. Năm 1192 lại hợp nhất.
Jaya Paramecvaravarman II lên ngôi năm 1226. Từ đây người Chân Lạp tự ý rút khỏi Chiêm Thành. Ông là con cả vua Jaya Harivarman II.
Jaya Indravarman VI. Jaya Indravarman VI là vị vua có mối quan hệ giao hảo với Đại Việt. Ông bị ám sát và cướp ngôi năm 1257.
Vua Indravarman V (1265-1285).
Vua Jaya Sinhavarman III (Chế Mân). Năm 1305- 1306, Chế Mân đem vàng bạc và hai châu: châu Ô, châu Lý làm lễ cưới công chúa Huyền Trân. Năm 1307. Chế Mân chết. Nhà Trần dùng kế đưa Huyền Trân về Thăng Long.
Jaya Sinhavarman IV ( Chế Chí) (1307- 1312). Vua Trần Anh Tông sai quân đi đánh Chiêm Thành, bắt được Chế Chí đem về hành cung Gia Lâm, phong Chế Chí làm Hiệu Trung Vương, đổi Hiệu Thuận Vương. Chế Chí mất năm 1313.
Tác Chí lên ngôi năm 1312. Chế Năng cai trị đến năm 1318. Năm 1318. Chế Năng đánh chiếm hai châu Ô, Lý. Bị thua phải chạy sang Java.
    Vương triều thứ mười hai (1318-1390)
Vua Chế A Nan (1318- 1342). Năm 1342. Vua Trần Minh Tông sai Huệ Túc Vương Đại Niên đem quân đi đánh Chiêm Thành nhưng không được.
Trà Hoa Bồ Đề, con rể của Chế A Nan và là hậu duệ của Chế Mân (1342- 1360). Khi lên ngôi bị con của Chế A Nan là Chế Mỗ phản đối, dẫn đến chiến tranh suốt 10 năm, tranh quyền lực. Năm 1360. Trà Hoa Bồ Đề chết.
Chế Bồng Nga (1360- 1390). Em của Chế A Nan. Chế Bồng Nga đem quân đi đánh châu Hoá vào các năm 1361, 1362, 1366, 1368. Ông chết trận vào ngày 23-1-1390.
    Vương triều thứ mười ba (1390- 1458)
La Khải (1390- 1397?, 1400?) là tướng của Chế Bồng Nga đoạt ngôi sau khi Chế Bồng Nga chết. Năm 1394, nhà Trần thu lại đất Châu Hoá. Trong năm 1400, nhà Trần (thực chất là nhà Hồ) đem quân đi đánh Chiêm Thành. La Khải chết. Năm 1397. Sau khi vua Po Parichan mất, thủ đô Angwei bị thất thủ về tay quân Việt. Dân tỵ nạn Chăm Pa đổ vào vùng Parang (Panduranga, vùng Phan Rang ngày nay). Năm 1428, sau khi quân nhà Minht. Vương quốc Vijaya Chăm Pa (Đồ Bàn) được phục hồi. Năm 1433, Vương quốc Panduranga Chăm Pa (Phan Rang) cũng được phục hồi.
Vua Jaya Sinhavarman V (Ba Đích Lai, ?-1441). Nhà Hồ chiếm được đất Chiêm Động và Cổ Lũy. Năm 1403. Nhà Hồ vây đánh thành Chà Bàn hơn một tháng nhưng không được. Năm 1434 và 1435, Chiêm Thành (Vương quốc Vijaya Chăm Pa) lại sang đánh Hoá Châu.
Vua Maha Vijaya (1441-1446) cháu gọi Jaya Sinhavarman V là cậu. Năm 1446 bị quân nhà Lê bắt về Thăng Long.
Vua Ma Ha Quý Lai (1446-1449) cháu của Maha Vijaya, bị em là Ma Ha Quý Do bắt giam và giành ngôi vua.
Vua Ma Ha Quý Do (1449-1458). Bị Bàn La Trà Nguyệt giết chết vào cuối năm 1457 đầu năm 1458.
    Vương triều thứ mười bốn (1458- 1471) Sau vua Ban La Trà Nguyệt và Ba La Trà Toàn.
Năm 1470. Vua Chiêm là Trà Toàn, cầu viện nhà Minh. Năm 1469- 1470 Trà Toàn sai quân đi đánh Hoá Châu. Năm 1471. Vua Lê Thánh Tông (1460- 1497) thân chinh đi đánh Chiêm Thành (Vương quốc Vijaya Chăm Pa) hạ thành Đồ Bàn, giết 60.000 người, bắt Trà Toàn và hơn 30.000 tù nhân. Kết thúc triều đại Chiêm Thành thứ mười bốn.
    Chiêm Thành tan rã (1471 – 1694)
Năm 1472. Bô Trì Trì ở Phan Rang tự xưng vương, giữ 1/5 đất cũ Chiêm Thành. Đất Chiêm Thành còn lại, chia thành ba nước: Đại Chiêm, Hoa Anh và Nam Phan.
Thạch Bi Sơn là ranh giới Đại Việt thời hậu Chiêm Thành. Vùng đất từ đèo Cù Mông đến núi Thạch Bi các chúa Chăm Pa vẫn duy trì đến đời chúa Nguyễn Hoàng.
Năm 1611. Chúa Nguyễn Hoàng đem quân vào đánh Chiêm Thành, lấy phần đất từ đèo Cù Mông đến núi Thạch Bi, đặt Phủ Phú Yên.
Năm 1627- 1651. Pô Rome xưng vương. Vợ thứ ba của Pô Rome là công chúa Ngọc Hoa con gái chúa Nguyễn Phúc Nguyên.
Năm 1653. Bà Tấm đem quân đánh Phú Yên, bị quân chúa Nguyễn Phúc Tần đánh đuổi đến sông Phan Rang. Đất Chiêm Thành giới hạn từ phía Tây sông Phan Rang trở vào.
Năm 1692. Bà Tranh đem quân đi cướp phá. Năm 1693, bị quân chúa Nguyễn Phúc Chu đánh bại. Bà Tranh bị bắt, giam tại Hòn Chén, năm 1694 mất. Chúa Nguyễn Phúc Chu đổi Chiêm Thành Quốc là Thuận Thành Trấn, rồi Bình Thuận Phủ.
Năm 1694. Quý tộc người Chăm Ốc Nha Đát và tướng người La Vũ (sử Việt ghi là người Mãn Thanh) A Ban phản công, đánh bại quân chúa Nguyễn.
Năm 1695. Chúa Nguyễn Phúc Chu cầu hòa với quân đội Chăm, lập lại Thuận Thành Trấn vương, phong Kế Bá Tử làm Trấn Vương, cai trị Thuận Thành Dân (người Chăm và các dân tộc miền núi Cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên – Đông Nam Bộ)…
Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh kiên nhẫn liệt kê những vương triều, gắn với tên những ông vua nước Chăm Pa- Hoàn Vương- Chiêm Thành, biết họ mang dòng máu, tế bào Mẹ Việt. Đó là cội nguồn sinh ra Văn hóa Tượng Lâm- Chăm Pa- Chiêm Thành, thoát Văn hóa Hán hội nhập với Văn hóa Ấn Độ cổ.

Đêm Hồ Gươm văng vẳng tiếng hát ru:

Xoay xở Quyền/ Tiền Đèn Cù
Máu đào Mẹ Việt trở nên kẻ thù
Huyền Trân ngà ngọc ngu ngơ
Dâng thân hàn gắn bãi bờ Tổ Tiên

(… Còn tiếp ...)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 22.11.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn