Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





TRÍCH NHẬT KÝ






         Ngày 13 tháng 11 năm 1960
 
         Năm lớp 7 Trường phổ thông cấp 2   Trần Phú thị xã Hải Dương
 
   Đây là lần đầu tiên đi gặt  ở nông thôn, xa thị xã Hải Dương.
   11 giờ 30  ngày chủ nhật 13 tháng 11 năm 1960  ở nhà tới Trường tập trung để đi gặt ở một xã bên sông thuộc huyện Kim Thành- một huyện nằm dọc đường số 5 - ở đọan   Hải Dương đi Hải Phòng.
   Học sinh chúng tôi rất háo hức trong chuyện này.  Coi được chọn đi gặt là một vinh dự, ai không được đi cảm thấy “hững”.   Kỳ này đi có them những bạn năm ngoái không đi là Hanh, Bảng, Cẩn …  và Khắc Thành năm nay mới vào học.  Hòang nài xin mãi lại không được đi vì phải ở nhà làm Bích báo (báo tường), vẽ bản đồ cho Tổ Địa lý v.v.
   Trường Trần Phú nằm trên trục đường từ Bưu điện ra ga.  15 giờ đi bộ khỏang 300 mét thì tới ga.   Tất cả lên tầu ngồi tập trung ở một toa, mạnh ai người ấy ngồi.   Hôm nay tầu cũng khá đông, không còn ghế nào trống.
   Chiều nay trời quang đãng, ngồi trên tầu trông thấy rất rõ  dãy núi Đông Triều.  Ruộng ở hai bên đường tầu có chỗ không cấy, nước ngập..  Có chỗ lúa đã gặt gần hết.   Tầu tới ga Tiền Trung dừng lại một phút.  Rồi tiếp tục chạy qua cầu Tiền Trung – cầu này có 2 nhịp.   Đến ga Lai Khê, tất cả học sinh xuống tầu, xếp hang kiểm tra quân số.  Ra khỏi sân ga, dđòan học sinh đi hướng Đông Triều , đi qua chợ đến đầu làng  rẽ vào một con đường lát gạch.  Giữa làng có Trường cấp 2 – trường này có sân tương đối to, hai dãy nhà được xây từ thời Pháp (trước là Trường cấp 1 thời Pháp).  Đi một vòng nữa thì tới Trường cấp 1 thôn Thượng Vũ.  Trường này xây ngay trên nền chùa  ngày xưa, trong sân còn một số bia đá.  Hai bên là hai giếng hình chữ nhật. Trong sân có cây đa cổ thụ, dưới gốc cây có một phiến đá to.  Học sinh xếp hang theo các tổ Quyết Thắng, Thống Nhất, Tự Do, Bình Đẳng để nghe Bí thư Đảng ủy nói qua tình hình nơi đây.  Sau đó nghe thầy Phác căn dặn đôi điều.  Về nơi ở thì trời đã sẫm tối.  Đi đói, nên dở cơm nắm ra ăn sao ngon thế.  Ăn xong thu dọn đi ngủ.   Tổ Quyết Thắng gồm Hồng, Hiền, Lâm, Thơm.  Hiền làm tổ trưởng. 
 
         Thứ bảy, ngày 25 tháng 11 năm 1961
         Đi gặt ở thôn Nga Hoàng, xã Cẩm Hoàng, huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương
 
   Lúa vàng, những cây lúa nặng trĩu bông, hạt vàng óng ánh dưới nắng. Những trận mưa rào xối xả làm chúng nằm dạt trên mặt nước của cánh đồng bị ngập úng. Hạt thóc vàng óng nằm dưới ánh mặt trời, nhưng ở trong nước ngập úng nên chúng mọc mậm.   Cả cánh đồng lúa chín của  thôn Nga Hoàng, xã Cẩm Hoàng  nằm trong nước ngập úng.
   Vì vậy xã Cẩm Hoàng, huyện Cẩm Giàng đã đề nghị xin một vài cơ quan đoàn thể về gặt giúp.    Đúng lúc đó, Trường cấp III đã đề nghị Tỉnh ủy cho ghọc sinh nghỉ đi gặt giúp dân. Tỉnh ủy thỉnh thị lên Bộ và được Bộ Giáo dục đồng ý và đã ra lệnh khắp ngành giáo dục nơi nào cần gặt giúp  thì nghỉ học gặt giúp dân.
   Nga Hòang là một thôn đông đúc dân cư. Hợp tác xã thôn Nga Hoàng chia làm 7 xóm. Trong đó có một xóm ở ngoài Trại.  Trại là nơi chỉ có những khoảng đất nổi lên như những con bơn.  Nhà, vườn của dân ở trên những gò đất nổi, chung quanh là ruộng nước mênh mông.
   Nga Hoàng nằm giáp giới với thôn Gia Lương của tỉnh Bắc Ninh, dân thôn này theo Công giáo. Thôn có một nhà thờ tương đối lớn.
   Sáng thứ ba, 21.11.1961, hai  xe vận tải chở học sinh và thầy cô giáo của Trường cấp III Hồng Quang  đi gặt giúp dân (đợt đi này tính cả đi về là 4 ngày). Lớp 8C của mình chia làm 3 tổ.  Hồng, Hải, Hiến, Cường, Tập sát nhập vào lớp 9 D và gặt giúp dân ngoài Trại (xóm 7). Nông dân vùng này gặt lúa cả bằng liềm lẫn hái.  Dân sống ngoài Trại ra khỏi nhà là xuống thuyền nan.   Cái đặc biệt của chuyến đi gặt giúp dân lần này là đi và về bằng thuyền nan. Lần đầu tiên được ăn ấu non.   Thầy Cừ và thầy Đạt phụ trách đợt đi gặt giúp dân.
 
   Giữa làng có Trường cấp 2 – trường này có sân tương đối to, hai dãy nhà được xây từ thời Pháp (trước là Trường cấp 1 thời Pháp).  Đi một vòng nữa thì tới Trường cấp 1 thôn Thượng Vũ.  Trường này xây ngay trên nền chùa  ngày xưa, trong sân còn một số bia đá.  Hai bên là hai giếng hình chữ nhật. Trong sân có cây đa cổ thụ, dưới gốc cây có một phiến đá to.  Học sinh xếp hang theo các tổ Quyết Thắng, Thống Nhất, Tự Do, Bình Đẳng để nghe Bí thư Đảng ủy nói qua tình hình nơi đây.  Sau đó nghe thầy Phác căn dặn đôi điều.  Về nơi ở thì trời đã sẫm tối.  Đi đói, nên dở cơm nắm ra ăn sao ngon thế.  Ăn xong thu dọn đi ngủ.   Tổ Quyết Thắng gồm Hồng, Hiền, Lâm, Thơm.  Hiền làm tổ trưởng. 

 TRỞ LẠI VIỆC BÚT  NGHIÊN
               
         Gia Lương, Hà Bắc, ngày 20.9.1967   lúc 9 giờ sáng
 
   Trường Bồi dưỡng ngoại ngữ- nay là Trường Đại học ngoại ngữ Thanh Xuân Hà Nội, sơ tán về Gia Lương Hà Bắc.
   Gia Lương cách thị xã Hải Dương khỏang chừng trên dưới 20 km.  Ở thị xã ra đê đò Hàn, rồi cứ thẳng mặt đê đi về hướng Nhà máy nước, qua Nhà máy nước đi tiếp là đến Văn Thai- đây là nơi người ta chuyên nấu rượu bằng gạo nếp – đồng thời là quê của bác rể Phạm Nguyên Thâu, có thời gian bác là Phó chủ tịch tỉnh Nam Hà- kiêm Gíam đốc Sở thương nghiệp, sau chuyển về Hà Nội làm Vụ trưởng Vụ nội thương của Ủy ban kế hoạch nhà nước.   Cứ dọc thẳng đê tới gần Lục đầu giang – nơi gặp nhau của sáu con sông – rẽ xuống chân đê là làng Lôi Châu, huyện Gia Lương tỉnh Hà Bắc.   Đây là vùng đất bồi rất phì nhiêu.  Dân ở đây ngoài trồng lúa, còn trồng hành và tỏi.    Dân phần nhiều từ khắp mọi nơi tụ tập lại  ở khu đất bãi phù sa để canh tác sinh sống nên sinh hoạt không thuần nhất.   Gặp ngày phiên chợ những vùng xung quanh thì trong làng hay bị mất cắp gà, chuối buồng.  Cảnh sáng sớm có người ra sân đằng hắng giọng rồi “cất tiếng ca” muôn thưở thường là:
       “… ông tổ ông tiên
       Ông tiền bà hậu
       Ông cậu bà cô …”
được “đưa ra tế”  ở đầu “bài ca”.  Bài ấy kết thúc bằng những lời tục tĩu của dân hàng tôm hàng cá.  Sinh viên chúng tôi thường tranh thủ dạy sớm học bài nên  thỉnh thoảng được nghe ca, vì vậy thuộc bì bõm vài lời.  Có khi dạy từ hai, ba giờ sáng.  Vừa mới nghe tiếng soạt một cái  hay nghe tiếng gà định kêu nhưng bị vặn cổ nên chỉ nghe tiếng “ọoc, ọoc, ọoc” thì chỉ lát sau là nghe có người “ca”.
 
                                                  *
         Lôi Châu, Gia Lương, Hà Bắc, 20.9.1967

   Một ngày mưa tầm tã, liên miên.  Có lẽ cơn mưa kéo tới và hình dáng của nó đã có từ chiều hôm trước.   Mưa rơi tí tách, lộp độp suốt đêm hôm trước và cứ như vậy tới sáng.
   Sau chặng đường dài của những ngày qua- lo xin đi học, bây giờ tôi mới thấy cái thoải mái của cuộc đời đi học, nhưng trạng thái tâm lý thì đang ở trạng thái bất bình thường, vì “dầu dãi gió mưa” của cuộc sống đã trôi qua, nó đang ở thời kỳ chuyển từ lao động sản xuất sang  ngồi một chỗ học.  Nhịp điệu sống hàng ngày phải thay đổi cho thích ứng với môi trường đại học- có nghĩa là đồng hồ sinh học phải thay đổi, và điều đó đã gây ra trạng thái lúc nào cũng lâng lâng, thỉnh thoảng có sốt nhẹ trong thời gian mấy tháng.
   Tất cả mọi sự trên đời đều bị ràng buộc bởi một sợi dây vô hình.  Muốn – không muốn - điều đó không thể được và cũng có thể được.  Những lúc này thấy đời trôi qua như những trang truyện.  Có khi đời lại có bước ngoặt và bước ngoặt này đánh dấu cả một sự chuyển mình – một sự thay đổi cả về thể chất  và tinh thần.
   Tới Lôi Châu, Gia Lương Hà Bắc, cảm giác đầu tiên mà tôi thấy,  đó là cảnh yên tĩnh của thôn quê, cảnh đầm ấm vui trẻ của đời sinh viên, và tôi tự nhắc mình là tôi đã tới nơi để học tập – nơi tu luyện để trở thành người thực sự có ích.
 
         Ngày 21.9.1967

   Ngày đầu tiên sinh hoạt học tập với lớp Đức văn.
   Sáng tới hội trường học tập chính trị với toàn thể 4 lớp Nga văn, một lớp Trung văn và lớp Đức.
   Đây là buổi giảng của thầy Thanh- giáo viên chính trị. Thầy dạy bài “Chính sách dân vận” – một chính sách quan trọng- thực hiện được việc này tốt thì mới học tập tốt được.  Điều này thật khó khăn, nhưng cuối cùng bắt buộc phải thực hiện được.
   Điều rất thấm thía là tới đây mình cảm  thấy được dạy dỗ từng ly từng tí, từng nếp sống- cách đi đứng-xưng hô.  Đây mới là tập thể có tổ chức cao.
   Trong khi cả tập thể sống rất hồn nhiên với lứa tuổi thanh xuân huy hoàng còn mình thì luôn luôn trầm tĩnh suy nghĩ.  Hôm nay là ngày thứ ba ở Trường, nhưng vẫn chưa có nhà ở chính thức mà vẫn ngủ ở giường chú Bình.  Đây là một điều cần suy nghĩ, bản thân đã tự không hài lòng với mình về việc này, nhưng việc giải quyết lại là người khác, mà người ấy lại không nhiệt tình lắm. Cán bộ lớp: Tĩnh là lớp trưởng. Tuất và Hy lớp phó.
   Lớp Đức là một lớp có nhiều nam. Trong số 26 người thì có 7 nữ, còn lại là nam giới. Chưa có ai ngoài hai mươi tuổi, chỉ riêng có mình là nhiều tuổi nhất lớp- 23 tuổi- đồng thời là người trầm lặng nhất-Người công nhân đầu tiên tới lớp để học, mà là công nhân đã đi làm 3 năm.
   Tòan lớp nhìn kỹ có lẽ chỉ có hai người khổ người nhỏ, còn lại tương tự như mình cả.  Một tập thể nhỏ có 26 người nhưng cũng đã có nhiều nét sinh hoạt khác xa nhau.
   Mình là người tới lớp muộn nhất (19.9.1997) trong khi có những người  tới tập trung tại trường ngày 25.8, còn nói chung  là tới trường ngày 5.9.  Qua 10 ngày lao động. Ngày thứ hai vừa qua thì bắt đầu vào học tập chính trị.
   Ở trường này giáo viên giảng dạy nói chung còn rất trẻ, nên những ngày đầu tiên tiếp xúc mình nhiều lúc tưởng chừng đấy cũng là sinh viên như mình thôi- Nhưng có một điểm  đáng chú ý là cách ăn mặc nói chung (của các thầy cô giáo) trông rất đẹp mắt và rất khỏe
   Đã lâu lắm. Có lẽ từ ngày thôi học ở Trường Hồng Quang thị xã Hải Dương tới nay (hay có thời gian ngắn ở Phòng Địa chính vẽ sơ đồ ruộng đất) sinh hoạt mấy ngày nay  mới lại ổn định như thời học sinh .
   Bắt đầu từ sáng nay mình ăn cơm theo tổ và lớp. Nhóm mình gồm Tuyên , Hy, Hợi, Bảo, Hồng.
   Mặc dù chỉ mới là những buổi học tập chính trị  nhưng không khí vui trẻ của lớp cũng đã phát triển rất tự nhiên. Cả lớp đã học chung bài hát “Vàm cỏ đông”.
Đặc biệt toàn lớp không có ai là đảng viên, đồng thời chưa có ai không phải là đoàn viên.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 19.11.2014.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA LƯƠNG VĂN HỒNG TRONG VIỆT VĂN MỚI