Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Về Làng




14-

Người ta đã dần quên câu chuyện năm xưa, khi chồng đi bộ đội xa nhà, trong giây phút lỡ làng, cô nào đó đã mang thai . Việc có thai ngoài ý muốn hồi ấy bị dư luận lên án gay gắt lắm. Người ta đồn thổi, thêu dệt những tình tiết phạm tội, nhưng thật trớ trêu, chính những người đồn thổi ấy, lại qua sự tưởng tượng thèm muốn cảnh ân ái để mà nói cho hả sự thèm khát của mình, rồi đổ tất cả lên đầu người đã “hủ hóa”
Cứ nghĩ đến cái phút có đôi có lứa, “loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan” ai cũng thèm vì lòng vả cũng như lòng sung, nữa là cái cảnh “cả làng vắng bóng đàn ông đã nhiều năm nay”. Nhưng khi nghĩ đến cái bụng to lên vì sự cả nể của mình trước con mắt giễu cợt của mọi người thì họ lại buồn bã nén lòng, khóc thầm trong đêm vắng.
Chỉ có Thới là đã vượt qua tất cả, không ai cắn răng chịu đựng mãi khi bom đạn hàng ngày vẫn dội xuống xóm làng, trai gái trong thôn không biết sẽ chết lúc nào. Người đàn ông ra trận ngày càng nhiêu, có người đã có con, có người mới lấy vợ và cũng có người chưa biết đàn bà con gái là gì. Tất cả ngồn ngộn sức sống, đi qua mặt Thới vào chiến trường, ai cũng có một điều tâm sự, khiến đoàn quân không dám liếc ngang khi qua chỗ đông người. Các cô gái làng bạo dạn nhìn họ, ao ước được một lần chung sống trước khi họ đi vào cõi chết, nhưng đã có lần nào được như ý.
Vào một đêm không trăng, có một đoàn quân đi qua làng bất ngờ nghỉ lại. Trong đêm tối, những người con gái hậu phương hối hả chuyền tới bộ đội bát nước chè nóng , củ khoai, củ sắn mới luộc và cả cái khăn mặt để lau mồ hôi. Chao ôi. Những cái khăn mặt thấm đẫm mồ hôi và bụi bậm, thế mà các cô gái làng chuyền tay nhau hít hà cái hơi đàn ông nồng nàn mùi hôi nách, mùi mồ hôi dầu mà thèm nhớ. Con vật khi động tình hít hơi nhau, con người cũng vì hít hơi nhau mà thèm muốn Trong bóng đêm, Thới tìm được một cánh tay chắc khỏe, ram ráp chai ở bàn tay, run rẩy khi cô kéo bàn tay ấy ấp lên ngực mình. Một phút giây hoan lạc chia sẻ nỗi đau cô đơn để ngày mai anh thanh thản ra trận, em cũng yên lòng ở hậu phương trồng lúa trồng khoai. Đoàn quân chỉ dừng lại một giờ, nhưng trong cái thời gian vàng ngọc ấy đã có hai người lén tớí góc vườn rậm rạp, trải lá làm nệm , gấp gáp trao nhau thân thể mà không cần giao uớc, không cần biết đến ngày mai sẽ ra sao.
Đoàn quân đã ra đi, không ai biết phiên hiệu của họ, tất cả chìm vào bí mật, nhưng có một điều mà người lính để lại thì mỗi ngày một hé lộ. Thới nén bụng cho chặt, cố tránh xuất hiện trước đám đông người và cô đã bắt đầu sợ . Cái dư luận tàn ác ở quê nghèo đã và đang như con dao lăm le chém vào nỗi vui sướng của mỗi con người. Cô tránh tất cả, nhưng không thoát một cập mắt đang lặng lẽ theo dỗi mọi diễn biến tâm lý, sức khỏe của cô, lặng lẽ tìm hiểu và tha thứ. : đó là bà mẹ chồng.
Đã có mấy người con ra tiền tuyến, bà hiểu nỗi lòng của từng thằng con trai và đứa con dâu. Bà biết chỉ có Thới là người táo tợn, nó dám lầm điều mà nó cần đến. Bởi thế khi thấy con dâu có điều khác lạ bà bình tĩnh theo dõi với nỗi lo : nói ra thì khổ tất cả : đau lòng đứa con đi trận xa nhà, khổ nỗi con dâu xấu hổ làm liều. Bà cụ khẽ khàng gập con dâu định lựa lời khuyên bảo, nhưng Thới đã mạnh dạn trả lơi :
- Vâng, con đã có thai rồi đấy, Con đẻ thì con nuôi vậy. Bà không phải lo.
Câu trả lời của con dâu làm bà lặng người, cái giận dồn lên mặt, nhưng mình giận nó điều gì bây giờ. Cùng là đàn bà với nhau, bà mẹ hiểu ở đời ai cũng trải qua cái điều thèm muốn ấy. Chỉ có điều là xử sự ra sao trước miệng thế dân làng, Nghe phong thanh có đoàn bộ đội ra Bắc an dưỡng, bà tung tin con Thới đi gập chồng rồi nhanh chóng thu xếp cho con dâu đi xa một chuyến. Họ có gập nhau hay không, đã ăn ở với nhau chưa. Ai mà biết được trong mấy ngày ấy, họ làm gì với nhau, nhưng khi trở về, cô Thới công khai phơi bày cái bụng, hồ hởi nói cười trước mọi người về cái sự thành công của mình.
. Oái ăm thay, con trai cụ đã sớm trở về. Vài tháng sau Thới trở dạ sinh con. ơn trời, thằng bé thiếu tháng mà khỏe mạnh đáo để. Nhà đang hiếm con trai, được thằng cu này hẳn là ai cũng yên lòng. Chỉ có người lính là không bằng lòng, hàng ngày nhìn đứa trẻ, nghĩ đến câu đùa quái ác “thằng tráng men” anh muốn đập phá tất cả. Kẻ nào đã đúc nên thằng bé này, nó là kẻ quen trốn khám tuyển nghĩa vụ quân sự, nép sau gấu váy đàn bà. sống hèn nhát ở hậu phương hay nó cũng là người lính như mình ? Cô Thới cũng không bao giờ biết được bố thằng bé là ai, chỉ biết ngây ngây nhìn chồng mà cầu xin. Giữ đứa trẻ làm đầu con trong nhà thì không được vì anh còn phải giải quyết bao nỗi khúc mắc : tình vợ chồng, vai vế trong họ, vai vế trong xã hội... Mỗi lần nghĩ đến, anh lại đau đáu nhìn vào khoảng không mênh mông tìm câu trả lời . Bà mẹ sau ngày đón con về, mừng vui, buồn bã lẫn lộn , Một tối, bà gọi con dâu đến , nhẹ nhàng noi:
-Mẹ Thới ạ, bây giờ bố nó đã về, chắc bố nó không chịu nhận đứa trẻ này là con đâu,. Tình ý thế nào thì con đã biết, Bây giờ để giữ được chồng, giữ được gia đình trọn vẹn thì mẹ nó nên mang thằng bé cho nhà nào hiếm hoi ở xã bên , Như thế vừa được phúc, vừa rảnh rang thân phận . Thằng bé cũng đã cứng cáp rồi, chọn người tốt mà cho nó gửi thân, đừng quyến luyến nó lâu hơn. Nếu mẹ nó không nghe lời, thì vợ chồng ắt phải chia tay, anh nó thừa sức lấy vợ khác, nhưng còn cô thì mang tiếng cả đời
Từ đó, thằng bé đuợc giao về nơi xa lạ, vợ chồng người lính như cất một gánh nặng, họ đã cùng nhau xây nhà, sinh con và dựng vợ gả chồng cho từng đứa. Những nỗi đau thời chiến tranh được khỏa lấp, câu chuyện cô Thới đã được quên đi, và lớp trẻ không bao giờ được nghe ai kể lại..
Có một người không quên chuyện cũ, còn mang nỗi hờn cho đến ngày nay lại chính là đứa con được cho đi. Đứa trẻ được một gia đình nghèo nhưng hiếm muộn đón về nuôi. Hai vợ chồng già vui sướng đặt tên con trai là Bính, kỷ niệm năm Bính được Trời cho thằng bé. Năm ấy, vẫn còn là chế độ bao cấp, cha mẹ nuôi đã già, công điểm chỉ đáng vài lạng gạo mỗi ngày nhưng ông bà cố gắng ăn nhịn để dành nuôi con. Mười năm sau, ông bà đều về trời, người ta chỉ cho thằng bé tìm về làng
Nhưng có ai hiểu được hoàn cảnh gia đình mẹ ruột nó lúc này, bà đã sinh thêm hai con. Câu chuyện đã qua mười năm, có ai dại dột nhận lại một đứa bé sinh thành bởi một lần tội lỗi để gây nên nỗi bất hòa trong gia đình. Vì thế, đã nhiều lần bà Thới trông thấy con nem nép đầu ngõ mà vẫn tảng lờ, không dám bứoc ra dù là để bố thí bát cơm chút gạo. Chỉ có cô em bà Thới là biết thằng bé đã về, không quản nhà mình nghèo, cô đón thằng bé về nuôi như một cử chỉ nhân đạo
Đã qua nhiều năm, thằng Bính năm xưa đã là một thanh niên từng trải, biết đi chợ Lạng Sơn, biết buôn bán, có của ăn của để, ơn trả nghĩa đền, anh tìm về làng cũ nói với bà dì “ Con mời dì đi chơi Lạng Sơn mấy ngày, nếu dì thích sang Bằng Tường con cũng đưa dì đi . Công lao của dì đối với con to lắm, Dù chỉ vài tháng nuôi con trong cảnh nghèo cơ cực , xẻ nửa bát cơm của các em cho con ăn, điều ấy con vẫn mang trong dạ ” Dì nhắc đến mẹ nó, nhưng Bính chỉ nói bâng quơ :
- Người ta sao chỉ thỏa ý mình mà không nghĩ tới hậu quả. Đã sinh ra con, thì dù hoàn cảnh đưa đẩy thế nào, cũng nên có câu hỏi thăm, có bát cháo cứu bần. Sao họ chỉ muốn đảy con đi cho khuất mắt, mà trẻ thơ đã làm gì nên tội.
Trong lòng bà Thới vẫn còn đó một mối hận, Ai đúng, ai sai, và ai đã gây nên chuyện. Phải chăng đều do cuộc chiến tranh đã phá vỡ hạnh phúc các gia đình. Năm xưa, khi trao con cho người khác, bà đã chấp nhận từ bỏ tự do riêng mình để mưu cầu một cuộc sống hạnh phúc trong hòa bình, Khi thằng bé lê lết tới đầu ngõ, không phải là bà không biết, nhưng đành cắn răng tránh mặt vì lúc đó nếu chỉ vì lòng nhân đạo mà nhận thằng bé có nghĩa là bà tự phá bỏ tất cả. Bà chỉ có một nỗi ân hận sao ngày đó, thời gian không dài thêm chút nữa, để bà biết được quê quán của bố nó , để bà có gan bế thằng bé về quê mới, nhưng cái đêm hôm ấy, chỉ có gấp gáp trao thân, có đâu thời gian mà thổ lộ đôi lời.
Bà cũng biết dì đã cưu mang con mình, nhưng không có gan lén sang giúp đỡ. Nào ai đã hiểu cho bà. Hãy tha thứ cho mẹ , hãy hiểu đời một chút con ơi.

15-

Dời căn nhà tạm trú, Kim không biết mình sẽ đi về đâu. số tiền nhà mang đi dã gần hết. Con gái quê ra Hà Nội , lạc vào quán net, tiền nào cho đủ. Buồn chán, cô lại vào một quán nét bên đường, . Mở chekmail, lướt qua bảng nickname gập lại tên của những bọn choai nhưng ra vẻ dầy dạn phong trần điên loạn : nào là “ông hoàng điên loạn” , “gã lang thang” “hiến dâng vì tình” “bướm đêm ” ...những cái tên đã trở thành nhàm chán mà đêm nào, nơi nào cũng gập. Chợt lẫn trong đó có một cái tên lạ “Góc trời xa” . Linh cảm thấy đây là một cái tên có bầu tâm sự cần thổ lộ, Kim gõ phím :
- Xin chào Góc Trời Xa. ở đâu mà xa xôi thế.
- chào em, anh là người xa quê. Em đang ở đâu.
- Thế là chúng ta hợp nhau rồi, anh có thể nói chuyện vài phút được không? .
Họ quen nhau và miên man trao đổi cho tới khi chủ quán báo đã hết giờ, Kim dừng tay , hẹn gập lại vào những ngày sau . Càng chát càng say mê, họ không gọi nhau theo mật khẩu mà đã gọi nhau theo tên thật , âu yếm và thân mật Kim biết anh là con trai một gia đình trong làng Mây đang lao động ở Ng, cô cũng tự giới thiệu về mình. Người bạn tin cô, trao đổi địa chỉ gia đình, nhờ đến thăm và báo tin cho biết, Để cẩn thận, Kim yêu cầu Luân (Góc Trời Xa) ngày x cũng điện thoại về nhà để “giới thiệu em với hai bác”
Cả nhà ông Hai Đĩnh đang ngồi chơi, chợt có tiếng chào to ngoài sân “cháu chào hai bác” . Một cô gái đi xe máy màu xanh, dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt dễ coi đã bước vào đến thềm. Hai vợ chồng già chưa biết người này là ai thì cô đon đả lên tiếng :
-Thưa hai bác, cháu là Kim, bạn của anh Luân nhà ta. Hôm nay, anh Luân bảo cháu đến nhà báo tin hai bác không đi xa, trực ở nhà chờ anh gọi điên thoại về nói chuyện với gia đình.
Lâu rồi nay có tin của con trai nên ông bà Hai vui vẻ, sốt sắng tiếp khách. Cô khách cũng lân la trò chuyện chờ tiếng chuông điện thoại reo. Qua lời kể của ông bà, cô được biết Luân đi Tây đã gần mườì năm , chưa lần nào về thăm nhà nên cha mẹ rất mong nhớ, mà điều lo nhất là việc anh ta 30 tuổi rồi chưa lấy vợ, có cháu để hai cụ yên lòng.
Tiếng chuông điện thoại reo vang, ông Hai vội cầm ống nghe và tươi nét mặt khi nhận ra giọng nói của thằng con trai. Anh hỏi thăm sức khỏe cha mẹ, xin lỗi vì chưa thu xếp về được. Luân kể lể nhiều nỗi khó khăn nơi đất khách quê người, nên vốn liếng cứ thu gom lại đổ bể. Ông bố ngắt lời con, an ủi rồi trao ống nghe cho vợ. Bà run run cầm điện thoại gọi “ thôi thì giàu hay nghèo con nên thu xếp về quê, ở Việt nam bây giờ có chí vẫn làm ăn được Mẹ đã yếu sức lắm rồi, con cứ nấn ná mãi sợ mẹ không kịp gập con khi nhắm mắt đâu” Chợt anh hỏi : “Mẹ ơi, cô Kim có dến nhà ta không” Bà mẹ vui vẻ nói “ nhờ cô ấy báo tỉn trước nên bố mẹ không đi đâu mà ngồi chờ con đấy” Nghe bà nói đến đây, Kim cầm máy gọi to “Anh à, em đang ở tại nhà anh đấy. Anh có nghe mẹ nói gì không. anh về đi, anh mà không về thì em sang tận nơi bắt anh về ” Họ cười rúc rích với nhau khiến bà mẹ cũng vui vẻ nói theo “Con nên về để mẹ còn lo vợ cho mày, gần 30 tuổi rồi, lêu lổng mãi sao được” .
Hôm sau, ông bà và các con bàn việc gọi thằng em về. Nó không về thì phải có người sang tận nơi ép nó cùng về. Mà cái cô Kim này cũng đẹp người, nhanh nhẹn đấy, chúng nó đã quen nhau rồi thì nên để cho nó đi. Ra nước ngoài là phải qua biết bao cửa ải, chi phí nhiều triệu đồng, tiền ở đâu bây giờ. Cả nhà lo lắng, chưa biết giải quyết ra sao thì Kim đến. Lần này cô mang theo thực phẩm để biếu gia đình, rồi săng sái cùng bà vào bếp, Bà Hai cảm động nói với Kim “nếu cháu thực lòng với thằng Luân thì hai bác quyết lo cho cháu đi tìm nó về, Chỉ kẹt đồng tiền hiếm quá, bán cái gì thêm bây giờ.” Biết thóp gia đình đã chuẩn bị gần đủ, Kim nói :
-Bác không phải lo nhiều, cháu yêu anh ấy thì cháu có trách nhiệm Bố mẹ cho đồng nào thì hay đồng nấy,còn thiếu đâu chúng con sẽ lo.

Được lời của Kim, ông bà Hai như trút được gánh nặng, ông hối hả các con dồn tiền, hẹn Kim ngày đến nhận để lên đường sang Ng đón Luân về. Số tièn hàng nghìn đô la sáp trao vào tay một người lạ khiến con gái cả suy nghĩ. Cô hỏi bố mẹ “Thế ông bà đã biết Kim là con nhà ai, ở chỗ nào, chả lẽ mình nhận con dâu mà không biết chút gì về bên nhà gái hay sao?” Câu hỏi của con gái làm ông bà giật mình, ngay lần Kim đến sau ông đã vội vàng hỏi : “ này cháu, ông bà thân sinh có khỏe không? Nhà cháu ở chỗ nào để chúng tôi đến chơi.”
Kim sững người, đang thao thao câu chuyện đi nuớc ngoài cô chuyển giọng nói “cháu sắp đi công tác xa nên chưa thể ra nước ngoầi, xin hai bác hãy đợi vài tháng nữa cháu trở về sẽ bàn tiếp”
Rồi trơn như một con lươn, cô lảng tránh mọi chuyện, xin phép ra về. Câu chuyện cô gái lạ định lừa ông bà Hai chẳng mấy chốc lan ra cả xóm, nhiều người đến hỏi thăm, ông bảo “thì thằng con tôi nó điện thoại về giới thiệu đấy chứ ”
Chỉ có mấy cô gái trẻ hiểu rõ tình yêu qua mạng có nhiều uẩn khúc, họ khúc khích bảo ông Hai “ Chắc là anh chị chát nhau !” Ông tức tối nói : “Giá mà tôi biết internet tôi cũng chát một cái để cho cái thằng ngố ấy biết, sao mà nó dễ tin người đến thế” Cả nhà tức tối, chỉ có cô chị bình tĩnh nói với cha mẹ “Đây cũng là một kinh nghiệm bố mẹ ạ. Thôi thì chuyện gia đình của nó, hãy đợi ngày nó về, đừng có nhận dâu nhanh chóng mà dễ bị lừa đấy.”

16-

Mấy ông già về hưu đã chán ngấy cảnh đánh chắn đỏ đen sát phạt, họ thường tìm đến nhà nhau để chơi vài ván cờ tướng, đọc nhờ một bài báo. Cứ tưởng cái mặt ao thu ấy sẽ lặng lẽ nước trong, nhưng không ngờ cũng có khi chao động
- Ai bán nhôm nhựa giấy báo vụn không ...
Những người nông dân từ các xứ Đông, Đoài, Nam, Bắc trong ngày nông nhàn, họ đi khắp nơi để tìm kiếm tương lai. Cần mẫn, lam lũ họ đi từ làng nọ đến làng kia, ời ời tiếng rao , đến nỗi có người nói :
` - Rao vừa thôi, còn gì đâu mà bán.
Đúng là các gia đình đã bỏ bớt những đồ vật cũ trong quá trình “lên đời”. Có khối thứ đáng giá nhưng bị nhạt mầu, sai mốt nên đành chịu phận bị bỏ đi không thương tiếc Người mua đồng nát nếu tốt số vớ được hàng đó, cũng đủ trang bị một gia đình
Họ có cuộc sống theo chương trình : đi mua hàng các nơi, tìm về một điểm để bán lại, ăn cơm quán, ngủ nhà trọ, ky cóp từng đồng để gửi về quê nuôi gia đình. Ai cũng tưởng cuộc sống của họ không có điều khác biệt , nhưng không ngờ trong đám người mua đồng nát ấy cũng có kẻ “nổi sóng” Có một cô đồng nát trong quá trình hành nghề, đã tìm ra một điều kỳ diệu : đó là tại các gia đinh, thành thị cũng như nông thôn họ có thừa đồ dùng nhưng lại thiếu cái sự mát mẻ trẻ trung. Đã mấy lần đến cái chốn ấy mua báo cũ, cô trở thành người quen của các ông già về hưu. Cô được các bác giao cho pha chè, rót nước mời mọi người có mặt. Cô cũng được phép ngồi lỳ ở đó để nghe lỏm câu chuyện từng gia đình , dần dà cô hiểu bác A sống độc thân, bác B có vợ nằm bệnh viện, bác C tuy có cợ con nhưng tính tình còn hoa lá, Hiểu như vậy, cô cũng có động thái riêng đối với từng bác, khi thì âu sầu chia sẻ, lúc thầm thì hối thúc hoặc năn nỉ lòng thương, cứ như thế cô đã thành người của hội cờ từ bao giờ.
-Nhà bác có báo cũ không ạ ?
Mấy ông đang đánh cờ ngảnh lại chỉ ông C nói “ông này chỉ có báo hại” Ông “báo hại ”đưa mắt nhìn cô đồng nát, thấy sao mà hôm nay cô ta xinh thế. Mặt bầu, mắt bồ câu, chắc hẳn là con nhà lành. Ông nhìn cô ta ,vẻ si mê đờ đẫn lộ rõ, cô đồng nát cũng nhận ra đối thủ, vội rót chén nước bưng mời ông. Không biết là cố ý hay vô tình mà cô để đầu ngón tay trẻ của mình chạm vào đầu ngón tay già làm ông già tươi lên.như cây được tưới
-Đúng là tôi chỉ có “báo hại” ai mua tôi bán đấy.
-Nhà bác có gần đây không ạ, cháu theo bác về mua cái báo hại vậy
Các ông ham đánh cờ vẫn để hết tâm trí vào bàn cờ, không biết rằng ông báo hại đã nắm bàn tay trẻ trung mà bấm vào lòng tay ra hiệu. Họ rút khỏi cuộc chơi, không quên để lại một câu chào :
-Chào các ông, tôi về lo cơm trưa cho các cháu.
Cô đồng nát ý tứ thu dọn ấm chén rồi dắt xe đạp theo, khi hai người sóng bước bên nhau, cô nói nhỏ “Bác cho cháu tiền ăn trưa nhé” . Ông già hỏi lại “thế cô ăn cao cấp hay ăn quán bình dân ” – “ Bác cho cháu bao nhiêu tùy bác” cô nhỏ nhẹ trả lời. Ông báo hại nhanh chóng phác một phép tính: món hàng này rẻ thật, chỉ một bữa cơm là xong. Ông rút ví đưa trước cho cô tiền ăn trưa, và hỏi “lúc nào cháu đến” Cô trả lời gấp gáp “Trưa nhé” . Một ngọn gió xuân đã thổi bừng ngọn lửa sinh lực mà bấy lâu ông tưởng nó đã tàn
Cô đồng nát đến thật. Mừng quá, ông đưa tay đỡ cô ngồi, tranh thủ lướt tay trên bộ ngực căng nở. Bỗng nhiên cô ta không vui, mà lại nghiêm nghị “Cháu đến nhà bác để mua báo cũ, vì bác hẹn nên cháu phải vòng lại. Mệt quá. Không có báo thì đừng bảo cháu đến, bác tưởng cháu dễ dãi như người ta à?” Như bị dội gáo nước, ông “báo hại”
ngồi lui ra, lúng túng, đôi mắt vẫn đờ đẫn ngắm cô. Chờ cho “thuôc” ngấm, cô hàng quan sát nhà cửa rồi nói :”Bác cho cháu cái áo nhé”. Lại có điều kiện đưa ra. Nhưng là áo thời trang bày bán tại siêu thị hay áo cũ hàng siđa bày trên hè phố, ông cười hì hì bảo cô “thì cô đang mặc áo đấy, có cởi trần đâu mà đòi mua áo mua mới”
-Nhưng mà ngày mai em phải về quê, có cái áo mới chả đẹp hơn sao. Ông cho em nhé.
Đột nhiên, cô đổi ngôi xưng hô tấn công ông già, ông già cũng trả lời sắc sảo “thì cô đã cho tôi được cái gì mà mà tôi đổi trao được, Thì ra cô không hiền như tôi đã tưởng. ”
- Cháu biết ý bác rồi, nhưng hôm nay ban ngày ban mặt thế này, nhỡ người nhà bác về, bắt gập thì chết, Bác đợi hôm khác, cháu từ quê lên thẳng đây, không mang theo xe đạp thồ hàng cồng kềnh, bác đưa cháu đến chỗ nào cũng được, nhưng hôm nay thì không được đâu nhé.
Cô đồng nát đứng lên, vươn vai, lộ ra trước mắt ông lão một cái bụng trắng có cái rốn thâm và he hé một chút bầu vú căng tròn. Ông lão như choáng ngợp, níu vào tay thì thào : -Này , dừng lại đã, ừ sẽ có áo đẹp. Có ngay đấy.
Ông chợt nghĩ tới cái tủ quần áo đủ kiểu và sắc màu của vợ và con gái, Chúng nó có nhiều quá, mất đi một cái có ai biết đấy là đâu
Người con gái đạp xe ra ngõ, cập mông trùm kín yên xe, nhún nhảy theo chân đạp
. Tiếng rao “Nhôm nhựa, giấy báo cũ bán không...” kéo dài và xa dần.

17-

Chuyện đất đai trong làng rồi cũng đến lúc lắng đọng, những ông bà bán đất lên nhà mới nay cũng thành chuyện quá khứ, nhưng ở làng Mây có một ông lại thường hay kể mãi một câu chuyện về một thời xa hơn, đó là Truyện Kiều
Ông Bùi vốn là một lão nông, trình độ học vấn có hạn, nhưng ông mê đọc truyện Kiều lắm. Ông kể rằng ngày còn trẻ, đã mua hai thếp giấy về chép lại Truyện Kiều, dòng dã nửa tháng mới xong. Thuộc Kiều đã đành, ông còn biết những câu chuyện vịnh Kiều rất lý thú, Nghe tin như vậy, ông Tân tìm đến và ghi được : .
Ông Bùi kể rằng :
- Làng Vạn Phúc có một ông thợ dệt giỏi lắm, Tết năm ấy không hiểu ông bực bội điều gì đã to tiếng chửi cả lý dịch. Lý trưởng trói lại dẫn lên trình quan. Việc đến tai Tổng đốc Hà Đông là Hoàng Trọng Phu. Ông này tuy mến tài người thợ, nhưng về lý thì không thể tha, nên đã bắt phạt phải nộp 20 tấm lụa tôt, Người nhà đã mang lụa đến nôp, nhưng ông thợ vẫn chưa được thả.
Một buổi, quan Tổng đốc đi dạo trong công sở, khi đi qua khu giam giữ phạm nhân, chợt nghe có người vịnh Kiều :

Có quan Tổng đốc trọng thần
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao
Rõ ràng của dẫn tay trao
Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi

Hoàng Trọng Phu dừng lại nghe xong, vội về văn phòng ra lệnh tha người thợ dệt làng Vạn Phúc.
- Xưa có một sinh viên văn chương đọc Kiều rồi mê Kiều, ngày đêm tương tư ôm ấp hình bóng Kiều, thành ra phát ốm,thuốc nào cũng không khỏi. Gia đình tìm nhiều thày thuốc đến chữa đều không kết quả, cuối cùng có một bà lão đến xin chữa. Gia chủ dẫn bà lang vào gập bệnh nhân,sau khi cho nguời nhà ra ngoài, bà lang nói chuyện với bệnh nhân về Truyện Kiều. Càng nói càng hay, anh sinh viên lấy làm tương đắc, chợt bà lang hỏi :
- Anh thấy tôi có hiểu Truyện Kiều không ?
- Dạ, thưa bà, bà hiểu truyện Kiều lắm ạ
- Anh mê Kiều, tôi hiểu Kiều, thế là tương đồng,tương đắc, vậy ta lấy nhau nhé.
Bệnh nhân giãy nảy nói với bà lang :
- Thưa bà, cháu làm sao lấy bà được, bà hơn cháu đến 60 tuổi, kết hôn sao được.
- Vậy thì Truyện cô Kiều do cụ Nguyễn Du sáng tác đến nay cũng hơn 300 năm lẻ, Tôi mới 82 tuổi mà anh không dám kết hôn, vậy sao lại đòi lấy người đã hơn 300 tuổi. Ta phải hiểu rằng cô Kiều là một người do văn học tạo ra, không phải là người thật. Là người tỉnh táo trong xã hội ta phải phân biệt cái thật và cái không thật, đừng có mơ tưởng hão huyền nữa.
Nghe bà lang giảng giải, anh sinh viên nọ bẽn lẽn nhận ra sự hoang tưởng của mình. Tự nhiên khỏi bệnh tương tư.

18-

Làng nào cũng có các di tích lịch sử đình,chùa, đền , miếu. Làng Mây cũng vậy, hàng năm có hội đình, có cả hội chùa, Ngày giỗ sư tổ của chùa chính là ngày hội làng, được các tín vãi trang trọng chuẩn bị.
Từ đầu tháng, sư thầy đã nhắc các tỳ khiêu ni, các tín vãi chuẩn bị làm lễ giỗ Tổ, vị sư đã tu luyện ở chùa, gieo hạt trồng cây phúc cho làng từ mấy trăm năm trươc. Bây giờ làng Mây đã khác, chùa cảnh khang trang, từ nhà tam bảo đến nhà khách đều xây gạch, bố trí “trùng thiềm điệp ốc” cũng là từ nhân quả mấy đời các vị tổ sư kế tiếp nhau làm nên.
Chùa làng tọa lạc bên bờ hồ nhỏ, từ ngoài đi vào có một con đường gạch lat, tường hoa xây thấp chia rõ hai bên : bên vườn cây cảnh và bên ao bán nguyệt thả hoa sen hoa súng, dưới ao, sen tàn khô lá, thế mà hoa sen vẫn thắm hồng. Tam quan chùa xây theo kiến trúc cổ, nay trùng tu lại, có nâng cao gác chuông để treo được ben chuông , bên khánh. Chiều chiều, cùng với cùng với tiếng gõ mõ tụng kinh của sư thầy trước tòa tam bảo, có một ni sư nghiêm trang lên gác chuông thỉnh một hồi ba tiếng. Tiếng chuông chầm chậm ngân nga rung lên trong cảnh chiều, tia nắng hoàng hôn nhạt lại, dời khỏi vài nóc nhà cao cho đến khi hết hồi chuông thì cũng là tắt nắng. Nhà nhà trẻ con gọi nhau, người lớn nhắc “Chiều rồi, chuông chùa đã thỉnh”

Côn việc chuẩn bị cho ngày giỗ Tổ vẫn tiệm tiến mà đâu ra đấy, theo việc đã bàn, nhà chùa cho người đi mua thực phẩm, mua gạo, bày bàn ghế và tuyển chọn các tín nữ biết nấu cỗ chay lên chùa làm gíúp. Trong khi đó, các tín nữ trong dội Dâng Hương đến nhà nhau bàn định. Mỗi người mỗi việc, thế mà các bước đã xong.
Ngày giỗ Tổ đã tới, từ sáng sớm các tín vãi cùng nhà chùa tụng kinh Dược Sư rồi chia nhau vào việc. Đón khách trước Tam quan chùa là các cụ cao tuổi mặc áo dài nâu, quân lụa đen, tràng hạt đeo dài trước ngực, chắp tay thành kính đốn chào, Nhà chùa chỉ có một lời chào chung, đó là niệm Phật hiệu : “A di đà Phật” Hai bên chân thành chào hỏi, chân thành đón tiếp, mừng rỡ găp nhau như thân thiết đã từ lâu, các già tiếp nhau, giao đãi bằng một bài kể hạnh , hỏi thăm chúc tụng. Bài ca theo thể thơ lục bát, đặt lời nôm na, sau mỗi câu, các tín vãi đế một tiếng “A di đà Phật”
Ngay từ lúc pha chè tiếp khách, các tín vãi làng đã hát một vàì câu khiêm tốn, mời mọc các vị khách :

Nghiêng tay em hái chè ngâu
Chè thơm phưng phức ra mầu ô long.
Em vụng pha nên chén nước nhạt nồng
Hạt ngọc rơi xuông, nước Trời chứa chan
Em coi chén nước như thể chén vàng
Em mời chư vị hai hàng cùng xơi

Người làng sùng bái đạo Phật, không riêng gì nữ giới mà hầu như cả làng đều theo, nên ngày giỗ sư Tổ, các vị nam nữ trong làng đến chùa đông lắm. Người dân tin vào đạo Phật là tin vào giáo lý nhân quả, tránh điều ác, làm việc thiện, tạo nên sự yên bình trong làng.
Gần trưa, người đến dự lễ đã đông, thấp thoáng qua tán lá bưởi màu lục biếc những tà áo dài nâu đi qua, đi lại. hoặc ngồi xuống bậc thềm nói chuyện với nhau chờ hưởng lộc chùa, Lộc chùa là cỗ chay, ngày lễ này không ai được từ chối không ăn. người ta cho rằng ăn cỗ chay nhà chùa là có phúc lớn, được thưởng thức hương vị chay tịnh từ nguyên liệu hoàn toàn là thực vật làm ra. Ai nấy đều cảm nhận được sự tinh túy của nghệ thuật ẩm thực trong nhà chùa.
Tan tiệc, mọi người nán lại hồi lâu rồi mới chia tay, ở cửa tam quan, các cụ gìà thân thiết tiễn nhau. Họ đọc bài ca “Trả nón” :
Tuổi cụ nay đã thanh nhàn
Cụ đi lễ Phật vội vàng làm chi
Em xin gửi nón cụ về
Không nhầm, không lỗi, em ghi rõ ràng.
Em nay là vãi chùa làng
Xin mời quý khách đường xa vãng chùa
Chùa làng đã có từ xưa
Em mời quý khách vãng chùa làng em
Đường đi nhẹ bước cảnh tiên
Phúc lộc Phật tiền nhẹ bước an khang

Nón này chính thực nón Chuông
Trời Phật đưa đường, các cụ tới đây
Cụ ra về, em xin nắm tay
Năm sau xin đến chùa này gập nhau.
A di đà Phật

Cứ sau mỗi câu “kể hạnh”, các già lại niệm Phật hiệu, thành ra ngay tại tam quan chùa, cuộc tiễn đưa dằng dai với nhau, bịn rịn với nhau chẳng nỡ dời tay.
Những sinh hoạt lễ hội ở nông thôn, dù to hay nhỏ, dù là ngày lễ của Chùa hay ngày hội của Đình , đều có tác dụng tập trung dân, có sinh hoạt văn hóa dân gian, có kết chạ. Ngưòi làng Mây đến chùa, mang lòng thành bái Phật cũng là để mong tìm nơi nương tựa trong đời sống tâm linh, và các vị sư chú trọng đến điều này. Giỗ Tổ chùa làng, năm nào cũng tổ chức, cũng là lời gọi con dân về với quê hương.

19-

Chiều mùa thu, những thửa ruộng ngoài đồng đã gặt, gốc rạ lô nhô như những cụm que cắm rải, đây đó đã có nhà làm đất, trồng mầu. Nhà Hoa ở cuối xóm, hôm nay đong người hơn thường lệ. Vợ chồng, con gái, con trai và bà mẹ già đang ngồi bàn tính, không khí nặng nề hệ trọng
-Thì bố mày nói đi chứ, tôi đi vắng liệu ông có lo được không? Cũng không ai thích bay nhẩy gì đâu, nhưng ở nhà khốn quá, treo liềm thì cũng nghỉ ăn. Luá má mang tiếng được mùa nhưng bán thóc cho ai, bán rau cho ai, để có tiền chi đủ các khoản đóng góp.
Cái An ngồi bên mẹ, chợt hỏi
- Thế mẹ lên thành phố thì ăn, ở, làm việc như thế nào. Dễ người ta đón mẹ như khách quý đấy.
Ông chồng vẫn ngồi im lặng, điếu thuốc lào trên tay cứ vê vê chưa đặt vào nõ, ông nói ;
-Khó nghĩ quá, khó nghĩ quá. Mẹ mày dồn tôi vào bước này trả lời một tiến sao được. Người đàn ông đáng ra phải bôn ba kiếm sống, nuôi vợ, dựng nhà, chứ ai lại để đàn bà đi nuôi chồng như nhà này,
-Tôi vẫn biết thế, nhưng tôi đã hỏi nhiều người rồi. Ông lên thành phố mà coi, chợ lao động đầy những trai tráng. Họ còn đứng ế suốt ngày, vậy ông cao tuổi, đi lên để làm gì, hút thuốc vặt cho người ta xem chứ ?
- Thế bà đi lên đấy làm gì được nào ?
- Chẳng phải bàn, thứ nhất là chúng tôi buôn thúng bán bưng, quẩy gánh rau quả bán rong,hoặc là đi ở nấu cơm, rửa bát, chăm sóc người già, gánh nước tưới cây cảnh, ,việc gì mà không làm được. Người thành phố bận việc suốt ngày, có người đỡ chân tay cho họ, giúp họ rảnh rang buôn bán dễ không đắt hay sao?
Mẹ chồng ngồi im lặng nghe con cháu luận bàn, nhưng biết nói sao bây giờ, chỉ thương con trai xưa kia đi chiến đấu, con dâu ở nhà lam lũ cùng bà, vượt qua mấy đận Mỹ nó ném bom vào làng, cái nhà dột nó cũng trèo lên dọi lại, chung thủy đợi chồng về. Bây giờ hòa bình sung sướng thì nó lại đi xa vì miếng cơm manh áo. Thằng Hòa, con An đang tuổi ăn học, đứa ở trường Huyện, đứa ở trường Xã, học gì mà đóng góp nhiều quá. Không có tiền thì không thể noi gì hơn, không có tiền thì gieo trồng cây gì, nuôi con gì cũng không được. Nửa đời ngưòi rồi laị phải chia xa, bà cụ cứ nghĩ đến lại tủi thân, khóc thầm. Bà nói :
- Bà nói thế này vợ chồng mày nghe hay không thì tùy. Tao đã già, bố nó lại mang thương tật , các cháu thì đang tuổi học, Trồng cái cây cũng phải có phân có gio, chưa kể nuôi một người nên tấm nên món, Vậy mẹ nó đã nghĩ kỹ chưa, chưa nghĩ kỹ thì chưa nên làm. Tao nghe nói bây giờ trên thành phố nó “loạn lạc” lắm, nhiều người đi làm ở thành phố rồi bỏ luôn cả gia đình, chẳng sợ tai tiếng danh giá gì, chạy theo đồng tiền, quên hết quê hương. Mẹ nó cũng chưa phải là già, vậy có đi xa cũng phải giữ mình.
Câu nói thật của bà mẹ khiến hai vợ chồng nhìn nhau bối rối. Đúng quá, anh đã mang về vết thương chiến tranh, tuổi càng cao thì bệnh càng nặng . Công việc ngày thường do một tay chị tháo vát, nay chị đi xa ai sẽ lo đây. Thằng Hòa đang học lớp 11, còn một năm nữa mới ra trường, con An cũng vừa thi xong bậc tiểu học, đang lăm le vào Trung học cơ sở, chúng nó chưa đứa nào làm ra tiền. Đã đành ngày mùa, chúng nó cũng xốc vác như mọi trẻ nhà khác nhưng đồng tiền kiếm được khan quá. Cái gì cũng theo thời, cũng cần tiền, chỉ có một cách (hai vợ chồng không thấy mẹ nói ra nhưng họ hiểu rõ : phải có một giải pháp đó là ra thành phố kiếm ăn)
Bác Hoa trầm hẳn giọng, nói như nấc :
- Mẹ biết cho con như thế là quý lắm, thật tình không ai muốn vợ chồng phải xa nhau. Đêm mưa ngày nắng, anh ấy trở bệnh ai nguời coi soc. Ngày rằm mồng một bà muốn đi chùa ai người đi chợ mua hương hoa . Nhưng con không thể cứ bán mặt cho đất, bán lưng cho Trời mãi để kiếm lấy cái giá nông sản nghèo như vậy. Con đã hỏi các chị trong thôn ta , họ lên thành phố ngủ nhà trọ, ăn cơm bình dân chắt bóp mỗi tháng cũng dành được ba bốn trăm gửi về gia đình để đóng học cho con, mua phân bón nhàn lắm. Tôi đi vắng thì ruộng nhà ta bố nó không phải lo, tôi đã nhờ người giúp rồi.
- Hay là con xin thôi học, đi làm cùng mẹ.
Thằng Hòa từ nãy đến giờ vẫn ngồi im, nay mở miệng lại bàn lùi làm bác Hoa quay lại vằn mắt lên :
- Anh phẩi nhớ , thời buổi bây giờ cần người có học, không cần người có sức. Chúng tao còn tính cho mày thi vào Đại học hay Cao đẳng chuyên nghiệp đấy, nên không có chụyện nghỉ học. Mà tôi cũng nhắc : vợ chồng tôi chỉ trông vào anh, nếu tôi đi vắng, anh ở nhà đàn đúm không giúp đỡ bà , không chăm sóc bố, thì anh đừng có trách tôi.
- Thôi không bàn nữa, coi như đã thành nghi quyết rồi, cứ thế mà thi hành. Bác trai quen tính ở bộ đội, nói một điều dứt khoát như vậy, Cả nhà đi ngủ, nửa đêm, bác Hoa rón rén sang giường chồng thủ thỉ :
- Tôi đi vắng, ông ở nhà, thân đàn ông mà thiếu người đàn bà chăm sóc biết ông sẽ vất vả lắm.Nhưng mình có thương em thì xin gắng chịu, chúng mình vì các con mà hy sinh vậy. Bác trai đặt tay lên ngực vợ nói đùa : - Thế ngày xưa bom đạn ai bảo cứ cố chờ người ta, bây giờ bắt người ta chờ lại chứ gì ?
- Em nẫu cả ruột mà mình còn đùa cho được
- Thì có mất đi đâu mà sợ, chúng mình còn hơn cái thời chiến tranh, lúc nào cần đi xe buýt về là xong. Thôi, ngủ đi nào. Đêm chìm vào yên lặng.

20-

Có một đám cưới mà ông Tân đã được mời, người mẹ cô dâu nói thật “gia đình chúng em gập bước không hay, em một mình nuôi con, nay cháu lớn đi lấy chồng, em mời các ông các bà, các bác đến dự cho đông đủ, để cháu nó đỡ tủi thân.”
Nguời làng nói chuyện với nhau : nhà Hoa thế mà chỉn chu, không những nó lo được gả chồng cho con, lại còn lôi được anh chồng bỏ đi xa cũng phải về cùng tổ chức cưới con, Có câu chuyện ấy thật không , chúng ta đến đám cưới sẽ rõ.
Đám thanh niên đi chặt mấy tàu lá dừa vác về làm cổng chào, một cậu hoa tay vẽ lên đấy chữ Vu Quy (gái về nhà chông), lại chăng dãy đèn nhấp nháy, suốt đêm vui sáng cả một cái ngõ nhỏ. Tấm phông nóc màu xanh che kín cái sân, chung quanh căng riềm hồng tạo nên vẻ ấm áp của ngày cưới , ai đó đã đưa đến tăng âm và loa, âm thanh rộn rã làm vui
Ông Tân đến dự, sự có mặt của ông khiến nhiều người đặt câu hổi, ông Cả giẩi thích : ông Tân đây là người trong thành phố, về nghỉ tại nhà tôi đã mấy tháng nay, nhân ngày vui của cháu nó, tôi rủ ông cùng đi cho biết cưới ở nông thôn có khác cưới ở thành phố không .
- Quý hóa quá. Ông đã đến chơi mừng cho cháu , thật là hân hạnh lắm.
Người ta chỉ cho ông Tân biết một ông già đội mũ berê , áo sơ mi trắng ngối xế bên và giới thiệu : đấy là bố chấu Hằng . Ông ta về làng sau gần hai mươi năm bỏ vợ con đi tỉnh khác làm ăn, lập gia đình mới, nay về nhà, ông có vẻ ngượng trước mọi người.
Ông Cả ghé tai ông Tân nói “làng tôi có tục lệ cưới gả cho con thì hai bên bố mẹ phải có mặt, trừ nhà nào thất lộc, mất cha hoặc mất mẹ thì thôi, chứ còn người sống dù ở nơi nào chăng nữa cũng phải về cùng chung tay lo cho con cái. Đám cưới này, nhà trai có yêu cầu ông bà cùng có mặt để trao dâu nhân rể , vì vậy ông ta mới chịu về làng đấy.
Nhà trai đến trong tiếng ồn ào vỗ tay chào đón, chú rể mặc complet sẫm, trông như một thanh niên trong thành phố, ôm hoa bước vào, ngượng nghịu đứng giữa sân. Các ông bên nhà gái gọi lớn : “Bố Hằng đâu, ra mà nhận boa của con rể” Lúc bấy giờ ông bố mới bước ra nhận hoa của con rể rồi lúng túng không biết đưa cho ai, ông đặt lên bàn thờ. Nhà gái gọi cô dâu ra mắt. Hôm nay cô gái quê cũng mặc áo cưới theo mốt , tóc búi, váy ba tầng, để trần đôi vai , được hai bạn gái dìu ra . Người hai họ ồn ào chúc mừng ngày hôn lễ, nhà nhà nhận dâu, nhận rể. Ông bố bước đến con gái, cẩm động nói :
- Hôm nay là ngày vui của con, Bấy lâu nay bố ở xa không có thì giờ chăm sóc cho con, nay con đã lớn, đi làm dâu nhà người, bố cho con chút qùa, con nhận đi cho bố vui lòng.
Ông lấy ra một cái hộp nhỏ, nhắc sợi dây chuyền vàng đeo vào cổ con gái. Bàn tay người bố đã hơn mười năm xa vắng, nay chạm vào cổ con gái làm cô rưng rưng muốn khóc.
Chứng kiến cảnh này, hai họ đều vui. Họ nhà gái thì hả hê vì bố nó vẫn nhớ đến con, họ nhà trai thì mát mặt, hãnh diện bởi đám cưới này có bố, có mẹ cùng lo.
Nỗi vui như chờ dịp để bột phát, bên nhà trai hối thúc chụp ảnh, một ông săng sái dọn chỗ để hai vợ chồng con đến bên bố mẹ rồi hô “chụp đi” Đèn lóe sáng, họ ngồi bên nhau vì các con nhưng mắt mỗi người nhìn một hướng.

Dâu đã về nhà trai, ông Tân gặp ông đạo diễn chụp ảnh hỏi đùa :
-Anh bố trí cho họ chụp ảnh như vậy có gây tác hại gì không?
-Ông bảo tác hại gì nào ? Có ép họ sống chung cũng không thể được nữa rồi vì cả hai người đều có gia đình riêng. Tôi bố trí họ chụp ảnh chung như thế là để cho con cháu nhớ rằng chúng nó vẫn có cha có mẹ ,
-Vậy nếu bà vợ xa kia xem ảnh, bà ấy nói gì ?
- Nói cái gì đây? Cái Hằng là đứa con chung của hai người, thì việc hai người chung tay lo cho con là điều thường tình . Anh chị ấy có ăn ở với nhau đâu mà bà ấy ghen.
Rồi ông ta tinh quái nhìn ông Tân nói tỉnh bơ : “ Tôi chỉ buộc họ bằng một sợi rơm trong cái giờ phút đó thôi, cái sợi rơm ấy không bền đâu, họ dứt đứt ngay thôi mà. Ông đừng lo”

... còn tiếp ...  


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 18.11.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn