TÁC GIẢ
TÁC PHẨM







. Tên thật : Trần Thị Thu Vân .
. Chào đời tại Huế, lớn lên tại Sài Gòn.
. Trước 1975 sinh sống tại Đà Lạt.
. Hiện đang ở San José, Californie, USA.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN

. Nước Chảy Qua Cầu (Bút Ký)
. Gã Cùi và Miếng Dừa Non (tập truyện)
. Một Truyên Dài Không Có Tên (I, II - tâm bút)
. Nhật Nguyệt Buồn Như Nhau (I, II -tự truyện)
. Tài Hoa Mệnh Bạc (I, II, III, biên khảo tiểu sử danh nhân)
. Trần Sa (tự truyện)
. Tài Hoa và Cô Đơn Như Một Định Mênh (tuyển tập tâm bút)
. Con Tằm Đến Thác Vẫn Còn Vương Tơ (tuyển tập tâm bút)
. Điệu Múa Cuối Cùng Của Con Thiên Nga (I, II, tuyển tập tâm bút)
. River of Time (bản Anh ngữ của Nước Chảy Qua Cầu, Trần Thy Hà chuyển dịch)














Tranh của cố họa sĩ Tạ Tỵ






(Trích "NƯỚC CHẢY QUA CẦU" )


Nếu còn đi hoài, biết đi về đâu?





"Bút ký NCQC của Trần Thị Bông Giấy đã từng được một NXB tên tuổi ở Tp Hồ Chí Minh đề nghị mua bản quyền in ấn. Dù sự việc không thành nhưng tác giả vẫn giữ nguyên bản đã được NXB này lược duyệt khi cho phép ban biên tập đăng tải trên Newvietart."




TỰA

Từ những ngày tháng mà cuốn bút ký Nước Chảy Qua Cầu chưa có tên gọi và còn là bao mẩu tâm sự, bao suy nghĩ, cảm xúc trùng trùng của kỷ niệm được ghi nhận lại bởi từng mảng thời gian bềnh bồng trôi giạt, tôi đã đắm chìm trong một không khí huyền hoặc, mê say và cảm động qua lời kể của Trần Thị Bông Giấy về đoạn đời năm năm phiêu bạt của nàng trong tư thế một nghệ sĩ vĩ cầm của một đoàn Cải Lương lưu diễn đó đây trên khắp quê hương, từ sau tháng 11/1975.

Tất cả những điều được kể hoàn toàn là chuyện thật, tại sao lại tạo ra được cái không khí huyền hoặc mê đắm đó? Đất nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh dài, tình trạng hỗn mang dâu biển bủa lên mọi cảnh đời. Nhưng trong mắt nhìn từ một tâm hồn mong manh mà hùng tráng của người nghệ sĩ, và xuyên qua những hỗn mang dâu biển đó, Trần Thị Bông Giấy đã nhận ra một thứ hạnh phúc thật kỳ dị: “Ly cà-phê sáng ở một thị xã buồn tênh xa lạ như là một miền cuối cùng của trái đất. Những bữa rượu nửa đêm về sáng sau giờ trình diễn với các người bạn nhạc sĩ khác trong đoàn. Bà cụ già bất hạnh bê từng hũ rượu đi bán dạo. Phiên chợ âm hồn bắt đầu họp vào lúc nửa đêm nơi một làng quê Việt Nam. Người bạn cũ gặp lại trong một thị trấn buồn tênh xa lạ. Người đàn ông ngồi uống rượu một mình trong không gian mờ ảo của chiếc quán khuya, bối cảnh thời đại như nhuộm lên thân hình ông sự cô đơn khốc liệt của một kiếm khách trên đường gió bụi...”

Mỗi mẩu chuyện là một viên ngọc đối với Trần Thị Bông Giấy. Gom tất cả những viên ngọc đó lại, Trần Thị Bông Giấy làm thành xâu chuỗi ngọc khác thường cho chính mình. Bởi đó, khởi đi từ những tâm sự được kể, những kỷ niệm nuối tiếc được nâng niu, tôi đã đề nghị Trần Thị Bông Giấy viết lại thành một quyển sách, một quyển bút ký. Biết đâu lại chẳng có người cũng muốn được chia xẻ với tác giả những hình ảnh, những mẩu chuyện tuy rằng đã có sẵn, luôn hằng hằng rải rác trên khắp cùng sông nước Việt Nam, nhưng cho dù đã sinh ra và lớn lên ngay trên quê hương mình, chắc hẳn trong chúng ta mấy ai đã được nghe, được thấy? Nhất là nghe, thấy từ vị trí một người nghệ sĩ phiêu bạt từ sau cuộc biến động lớn của quê hương?

Thời gian trôi đi. Đời người trôi theo dòng thời gian để mà lạc loài đến những không gian cũng biến động trong từng giây từng phút. Tương quan giữa con người với con người, giữa con người với thời gian và không gian thật là chặt chẽ. Đó là sự cùng trôi đi và mất tăm. Như nước chảy qua cầu. Tôi nghĩ, viết quyển bút ký này, Trần Thị Bông Giấy trước hết muốn giữ cho chính nàng, muốn làm không gian và thời gian ngưng đọng lại, để trong không gian và thời gian đó vẫn còn nguyên những người, những cảnh, những chuyện của kỷ niệm hiện tại và của cả một đời. Vì thế, văn chương không phải là mục tiêu khởi đầu của Nước Chảy Qua Cầu, của Trần Thị Bông Giấy. Văn chương chỉ tự nó thành tựu ở lúc tâm sự, kỷ niệm được tác giả viết xuống thành chữ, thành câu, sau khi đã là những chuyện kể. Những chuyện kể bềnh bồng trôi giạt...

Trần Nghi Hoàng

4 giờ sáng ngày 12 tháng 8 năm 1989

INTRODUCTION

The United States has gone through many stages in its attempt to come to terms with the legacy of the Việt-Nam War. In the immediate aftermath of the war, there was disbelief, anger, fingerpointing and grief. Then, for a while, there was silence. The pain of confrontation was repressed, delayed --but it could not be eliminated.

In order for healing to take place, we had to begin the processes of both individual soul-searching and a collective national conversation on Việt-Nam.

First in a trickle, then a torrent, writers and filmakers began to struggle with the issue of the war. Particularly through the medium of film, the issue was once again raised in public consciousness. The silence was replaced by dark, often wrenching films, The Deer Hunter, Coming Home, Platoon, Full Metal Jacket, each in their own way trying to struggle with the meaning of the war and its aftermath. For the most part, however, the pens and the cameras have belonged to Americans. We have never really heard the stories, the poems, and the cries of the Vietnamese people. As great a physical and psychic toll as the war took on the United States, the suffering of the Vietnamese was immeasurably greater. Its land, the precious earth from which the Vietnamese draw food and strength, is still pock-marked with craters, filled with mines and slowly recovering from the assault of poisons. Over a million people, many of them noncombatants, were killed. Prosthetic limbs are a common sight. And yet we have not really heard the people of Việt-Nam speak.

There is still another problem. To most Americans, "Việt-Nam" means "The Việt-Nam War". Because Việt-Nam has always been an object to us, a painful part of our story, its relevance is usually seen in terms of the twenty years of violence and mutual distrust that marked the relationship from the 1950's to the 1970's.

However, even if we see Việt-Nam simply in terms of war, we must realize that the Việt-Nam war was a war that extends back to the 50 years struggle with the French that began in the mid-19th century, and still further back to Việt-Nam's ongoing attempt to preserve its own identify in the face of a Chinese influence that was, by turns, philosophical, political, cultural and often military. In the words of one scholar, it has been a "2,000 year struggle".

Although war has had an enormous impact on Việt-Nam, Việt-Nam is much more than a battleground, a fact that many Americans are only beginning to discover. It is a country with a history of its own, a culture that has produced beautiful poetry and literature, and as we learn from the author, a musician able to bring notes to life through written words, rich traditions of music and opera.

Việt-Nam is also land, rice paddies and bustling cities, farmland and villages. And most of all, it is its people. People who are both in Việt-Nam rebuilding their country and their lives; and people who are scattered across the globe feeling, in varying degrees, either like citizens of new lands or an exiled people still waiting to return home. In order to understand, we must begin listening to their voices. Trần Thị Bông-Giấy's is a beautiful voice with which to begin this journey. Her perspective is shaped by time spent in three places, three cultures intertwined in a tragic story, now struggling to find reconciliation, Việt-Nam, France and the United States. Trần Thị Bông Giấy is an author who doesn't spend much time on explicit political statements, diatribes, arguments or theory. She is very much a writer of the particular and concrete, not the general and abstract.

Here is an intimate journal of meals shared and concerts remembered, of conversations, images, personal encounters --open this journal and both Việt-Nam and France come to you in all of their sights, sounds, textures and smells. She brings to us numerous people whose lives have been shaped, in many different ways, by the conflict. We see connections being made across cultural boundaries just as we see the divisions that still exist within them --Vietnamese, like Americans, still split passionately over the war. Her diary is filled with stories and characters that stay with the reader long after the book is put away.

The author's experience of Việt-Nam is particularly revealing, for she is describing the world she was away from for years and then returned to. There is an extra vividness that comes out of seeing one's old home with new eyes --it makes the experience both richer and more painful. But there are really two journals here --for she not only shows us Việt-Nam through the eyes of one who has returned, she also gives to us the experience of a Vietnamese making a life in Europe.

The author's personality shines through in the book. She is a fiercely proud and deeply sensitive woman; she is a person of tradition facing a world of change and uncertainty. Above all, she is an artist, and her words can be so lyrical that the line between prose and poetry begins to disappear.

In conversation, as in music, it is often the quiet but strong voice that holds one's attention. Trần Thị Bông Giấy's is such a voice. Slowly, through a moving story or memorable character here, a reflection on a poem or thoughts about an opera there, the motifs are woven; the piece comes together as a whole. The effect builds up as you keep reading, until you feel you have come to know this person and her country better.

True understanding can never occur between a subject and an object. It only emerges between two subjects. In order to understand the Vietnamese people, people whose lives are intertwined with ours, we must not simply talk about them --we must genuinely listen to them. We are very fortunate, then, that Trần Thị Bông Giấy's book has been translated into English-- and that the translation was done with such skill and sensitivity by her brightest former piano student, a twenty-year-old who is so close to her –Trần Thy Hà.

The book teaches us again an important lesson about literature --that while it is always about the unique and particular, it also speaks universally to all human beings; for in the voice of another, we hear back, in a new and powerful way, our own speaking about loss, struggle, and hope.

MARK BERKSON

PhD., University of San Francisco

SF. May 1998

LỜI GIỚI THIỆU
(TTBG chuyển ngữ)


Nước Mỹ trải qua nhiều giai đoạn trong sự cố gắng đặt để một thỏa thuận liên quan tới cuộc chiến Việt Nam. Trong cái hậu quả tức thời của chiến tranh, đã xảy ra rất nhiều những nỗi hoài nghi, giận dữ, đổ thừa và đau khổ. Sau đó, trong một lúc, là sự yên lặng. Nỗi đau đớn chạm trán được kềm nén, chậm hoãn -nhưng không phải là loại bỏ.

Để hàn gắn những mất mát thua thiệt tạo ra từ sau cuộc chiến, chúng ta phải bắt đầu tìm hiểu về cả hai phía tâm hồn cá nhân và những đàm luận chung trên vấn đề VN.

Thoạt tiên, với một tia nhỏ, và rồi cả một dòng nước lũ, những nhà văn và những đạo diễn khởi sự vùng vẫy với đề tài chiến tranh Việt Nam. Đặc biệt, qua môi trường phim ảnh, cái đề mục này lần nữa dậy lên trong ý thức hiểu biết quần chúng Mỹ. Sự im lặng được thế chỗ bằng những cuốn phim bi quan, đen tối, thường xuyên bóp méo sự thật (như The Deer Hunter; Coming Home, Platoon, Full Metal Jacket...) theo một đường lối riêng để cố gắng trình bày về chiến tranh Việt Nam và cái hậu quả của nó. Tuy nhiên phần lớn, những cây bút và phim ảnh đều thuộc về phía người Mỹ. Chúng ta chưa bao giờ thực sự được nghe những mẩu chuyện, những bản văn và tiếng kêu gào của người Việt Nam. Mọi thống khổ về thể chất và tâm lý do chiến tranh gây ra cho nước Mỹ thật sự đã không thể so sánh với những thống khổ mà người dân Việt Nam đã phải nhận chịu. Xứ sở của họ, vùng đất yêu dấu mà họ đã rút ra thực phẩm và sức mạnh thì vẫn còn bị rỗ hoa với các hố bom đại bác, những mìn đạn; và đang chậm chạp phục hồi từ sau các cuộc tấn công của chất độc.

Hơn một triệu người Việt Nam --trong số có rất nhiều người không từng tham gia quân đội-- bị giết. Những tay chân nhân tạo được lắp ráp là một cảnh tượng rất thường. Dù thế, chúng ta chưa từng thực sự được nghe tiếng nói của người Việt Nam về những điều như thế. Hơn nữa, lại còn có một vấn đề khác. Với đa số người Mỹ, “Việt Nam” có nghĩa là “Chiến Tranh Việt Nam”, bởi vì Việt Nam luôn luôn là một đối thể của chúng ta, một phần đau khổ của lịch sử nước Mỹ, biểu tượng bằng hai mươi năm chiến tranh dữ dội và sự ngờ vực lẫn nhau, xảy ra từ thập niên 50 tới thập niên 70.

Tuy nhiên, nếu chỉ đơn giản nhìn về Việt Nam qua hai chữ chiến tranh thì chúng ta phải nhận thực rằng cuộc chiến ấy đã kéo dài từ trước trong suốt 50 năm chiến đấu với người Pháp vào giữa thế kỷ 19, và còn lùi xa hơn trên những cố gắng duy trì các đặc tính riêng của nó trong sự đương đầu với ảnh hưởng Trung Hoa lần lượt trên đủ mọi mặt triết lý, chính trị, văn hóa và thường xuyên là quân đội. Theo lối nói của một học giả thì đó là một “cuộc chiến dài hai ngàn năm.”

Dù rằng chiến tranh đã gây nên một ảnh hưởng rất lớn trên Việt Nam thì đó không chỉ là một bãi chiến trường thôi mà còn là một nơi chốn lôi cuốn sự khám phá của rất nhiều người Mỹ. Một xứ sở với một lịch sử, một nền văn hóa riêng đã sản xuất ra những vần thi ca, những áng văn chương đẹp và những truyền thống phong phú về âm nhạc, kịch nghệ; điều mà chúng ta đã biết từ tác giả, một nhạc sĩ có khả năng mang những note nhạc vào đời sống qua ngã văn chương. Việt Nam cũng còn là một vùng đất với những ruộng lúa, những thành phố náo nhiệt, các nông trại và các làng xóm. Nhưng hơn hết, là con người Việt Nam. Những con người ở cả hai phía đang xây dựng lại quê hương và đời sống họ ngay trên xứ sở, và những con người tản mác ra trên toàn thế giới ở nhiều mức độ khác nhau, sống, như những công dân của vùng đất mới hoặc như những kẻ bị lưu đầy đang chờ đợi ngày trở lại quê hương. Để hiểu họ, chúng ta phải lắng nghe tiếng nói họ. Tiếng nói Trần Thị Bông Giấy là một tiếng nói đẹp biểu tượng qua cuốn bút ký này. Cái nhìn của tác giả được gọt bén bởi thời gian trải qua trên ba vùng đất -Việt Nam, Pháp và Mỹ-; ba nền văn hóa cuộn lẫn vào nhau, bây giờ đang tranh đấu để kiếm tìm một sự hòa hợp, qua một tác phẩm xúc động.

Trần Thị Bông Giấy đã không phí nhiều thì giờ trên những vấn đề về chính trị, những lời công kích dữ dội, những bàn cãi hay lý thuyết; mà chính là một nhà văn của sự thực tiễn và rất đặc thù, chứ không là của sự trừu tượng mơ hồ và đại thể.

Đây là một cuốn nhật ký thân mật nói về các bữa ăn được chia xẻ với nhau, những ký ức gợi lại theo các cuộc trình diễn, các mẩu chuyện trao đổi, các hình ảnh và các cuộc gặp gỡ cá nhân –mở cuốn bút ký này ra, cả hai vùng trời Việt Nam và Pháp cùng hiện ra trước mắt bạn với tất cả mọi cảnh tượng, những âm thanh, những xếp đặt và mùi vị của chúng. Tác giả đã mang đến cho chúng ta hàng loạt con người mà đời sống họ đã được va chạm và hình thành trong nhiều đường lối. Chúng ta nhìn thấy những liên hệ được cấu tạo suốt qua các ranh giới văn hóa, như thể nhìn thấy những phần đoạn còn tồn tại bên trong con người họ –người Việt Nam, cũng như người Mỹ, vẫn bị phân hóa một cách sôi nổi theo đề tài chiến tranh. Dầu vậy, cuốn bút ký Nước Chảy Qua Cầu với đầy những câu chuyện và các nhân vật sẽ lưu lại lâu trong lòng độc giả sau khi cuốn sách đã được gấp.

Những hiểu biết của TTBG về Việt Nam thì rất đặc sắc bởi vì tác giả đã trình bày một nơi chốn đã lìa bỏ nhiều năm rồi mới trở lại với nó. Có một sự sống động cực độ của một con người trong cái nhìn mới về một quê hương cũ-- điều vừa tạo thành cho tác giả một sự hiểu biết phong phú, đồng thời cũng là nỗi đau thương càng mạnh mẽ hơn. Ở đây, thực sự là có hai cuốn bút ký –bởi vì tác giả không chỉ phơi bày một nước Việt Nam qua đôi mắt của một kẻ đang trở về chốn cũ, lại còn cho chúng ta những hiểu biết về một công dân Việt Nam đang chấp hành một cuộc sống mới ở Âu Châu.

Cá chất nhà văn sáng tỏ suốt qua tác phẩm. Tác giả là một người cực kỳ kiêu hãnh và rất nhậy cảm. Một phụ nữ Việt Nam truyền thống đối diện với một thế giới đang thay đổi và không chắc chắn. Trên tất cả, Trần Thị Bông Giấy là một nghệ sĩ, và chữ nghĩa được dùng trữ tình đến độ những hàng viết giữa văn chương và thi ca biến mất cả đi.

Sự đối thoại trong văn chương –cũng giống như trong âm nhạc- đã thường xuyên có ẩn chứa một tiếng nói câm lặng nhưng rất mạnh mẽ, nắm bắt sự chú ý của độc giả. Tiếng nói của Trần Thị Bông Giấy đúng là tiếng nói như thế.

Dần dà, chỗ này là một câu chuyện cảm động hay một gợi nhớ về một nhân vật, chỗ kia là sự trầm ngâm suy nghĩ theo một bài thơ hay một buổi trình diễn nhạc kịch..., những chủ đề cứ thế đan thắt vào nhau, những mảnh đoạn cứ vậy kết hợp với nhau thành là một. Cái hiệu quả này cứ dâng lên mãi khiến bạn không thể ngừng đọc cho đến khi hiểu được rõ ràng về tác giả và xứ sở Việt Nam.

Sự thấm hiểu không bao giờ có thể xảy ra giữa một đối thể với một chủ thể, mà chỉ là giữa hai chủ thể. Để hiểu thực sự về người Việt Nam, những con người mà cuộc sống của họ đã từng cuộn quấn vào với chúng ta, chúng ta không thể chỉ trình bày đơn giản về họ, mà còn phải nghiêm trang lắng tai nghe họ. Với điều này, chúng ta đã rất may mắn bởi vì tác phẩm đã được dịch sang Anh ngữ một cách khéo léo và đầy xúc cảm bởi người học trò dương cầm sáng giá nhất của tác giả, một thiếu nữ 20 tuổi rất gần gũi với tác giả -Trần Thị Như Hà.

Tác phẩm đã dạy cho người Mỹ chúng ta một bài học quan trọng lần nữa về văn chương –cái điều không phải chỉ nói về sự đặc thù hay cá biệt thôi, mà còn trình bày rộng rãi ra với tất cả mọi người-- bởi vì từ tiếng nói kẻ khác, chúng ta có thể nghe lại được, bằng một đường lối mới hữu hiệu hơn, tiếng nói của chính chúng ta về sự thua thiệt, đấu tranh và niềm hy vọng.

MARK BERKSON

Tiến sĩ, Ðại học San Francisco.

San Francisco, May 1998.



BÀI 3


IV.


Liège (Belgique).

Có một điều rằng, từ ngày ra đi khỏi xứ, tôi chẳng hề có lấy một người bạn “thật sự là bạn”. Dù rằng tôi vẫn giao thiệp, vẫn gặp mặt nhiều người Việt Nam tại Paris, nhưng cái ý nghĩ tìm được một người nào đó để kết thành bạn thiết, quả thật vô vọng, xa vời. Dạo mới ra đi, có đôi lần tôi tự hỏi, người Việt Nam nơi xứ người đổi thay nhiều quá, hay chính tình cảm tôi đặt cho vai trò “một người bạn” còn cao quá đã khiến tôi không thể có bạn? Thì cả hai điều đều đúng trong kết luận khi ấy của tôi. Tôi không thể nào còn tìm được một người bạn để cùng chia một mẩu tâm sự, chia những cảm xúc của một buổi chiều khi hoàng hôn đang xuống. Sự cô đơn và thiếu thốn tình bạn, tôi nghĩ, là thực trạng chung của nhiều người Việt xa quê hương.

Bốn năm sau, cái nhìn tôi đã thay đổi. Một câu luận đề được làm từ khi còn bé cứ trở đi trở lại hoài trong óc: “Ta sẽ không bao giờ có được tâm hồn ta của buổi chiều hôm nay” (Jamais, nous n’aurons l’âme de ce soir). Câu văn thấm thía lạ lùng. Không phải rằng tôi hay những người Việt Nam khác thay đổi, mà chính là tất cả đã bị Thời Gian làm cho đổi thay đi.

Tháng 12/1978, hát Tân An, tỉnh Long An.

Lại một chuyến lưu diễn Miền Tây, mở đầu là năm ngày ở Tân An. Những chuyến đi làm rạc gầy thân thể, rớt rơi vật chất, nhưng kinh nghiệm và hiểu biết về quê hương trong tôi trở nên dồi dào, phong phú. Phải nhận là một may mắn lớn khi tôi gắn một phần đời mình vào cuộc sống Cải Lương. Những chuyến đi góc bể chân trời, những vùng đất xa xôi hẻo lánh, những bến xe, bến đò đầu ghềnh cuối bãi... từ đó đã giữ một vị trí quan trọng trong kỷ niệm để không bao giờ còn phải bị lãng quên.

Long An là tỉnh thứ nhất của miền đồng bằng Nam Bộ, hiện nay gồm tỉnh Tân An cũ, một phần tỉnh Chợ Lớn cũ và tỉnh Hậu Nghĩa gom chung lại; bắc giáp tỉnh Tây Ninh; tây giáp tỉnh Đồng Tháp; đông giáp thành phố Hồ Chí Minh, nam giáp tỉnh Tiền Giang.

Đời nhà Nguyễn, Long An được gọi là phủ Tân An gồm các huyện Cửu An và Phước Lộc, thuộc tỉnh Gia Định.

Khi Pháp mới đặt chân vào đất Nam Kỳ, dân chúng Long An chống trả quyết liệt dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng Nguyễn Trung Trực. Trận đánh tàu Espérance của Pháp là một chiến công hiển hách. Vào giữa trưa ngày 11/12/1861, Nguyễn Trung Trực cùng 150 chiến hữu bày mưu xông vào đốt chiến thuyền Espérance do Trung tướng Parfait chỉ huy tại Rạch Vàm Cỏ bên làng Nhật Tảo. Chiến công táo bạo này được dân chúng miền đồng bằng Nam Bộ lưu lại trong hai câu thơ:

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa

Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần.

Tân An là thị xã chính của quận Thủ Thừa, tỉnh Long An, nằm trên bờ hữu sông Vàm Cỏ Tây. Từ Sài gòn đổ về Mỹ Tho, qua khỏi cầu Bến Lức là thuộc tỉnh Long An. Nơi đây nổi tiếng về quả khóm (còn gọi là quả thơm), trái to, dài, ngọt lịm. Có quả nặng đến 3, 4kg. Miền Nam có nhiều trái lành cây ngọt, nhưng hễ nói đến khóm là người ta nghĩ ngay đến khóm Bến Lức, Tân An.

Trong Long An còn có trường Sư Phạm và lăng mộ cụ Nguyễn Huỳnh Đức, một vị công thần đời nhà Nguyễn và cũng là Tổng trấn Gia Định thời vua Gia Long (1816). Cả hai đều nằm trên đường Quốc Lộ 4 hướng tay phải từ Sàigòn đổ xuống Miền Tây.

… … …

Cứ mỗi điểm hát, ban ngoại vụ đoàn có nhiệm vụ liên lạc, sắp xếp chỗ ở cho nhân viên. Vì vậy, cả tổ Tân Nhạc được chỉ định lưu lại trong ngôi nhà ngói của hai ông bà đã gần bảy mươi tuổi. Tâm tình người dân ở đây khác hẳn dân Sàigòn dù rằng hai nơi chỉ cách xa nhau chừng 45 cây số. Trầm lặng, hiếu khách và rất hiền hòa, hai ông bà đã tạo được rất nhiều dễ chịu cho chúng tôi. Đêm khuya về, chúng tôi vẫn được bà cụ nấu sẵn cho nồi cháo lòng lót dạ. Ban ngày không hát, các người bạn kéo nhau đi câu cá tra trong một cái hồ rộng phía sau hè, còn tôi lại mê cái bếp củi nên cứ quanh quẩn với bà cụ già nơi đó. Sự ấm áp tỏa ra từ ánh lửa, hòa lẫn với nỗi dịu dàng trên đôi mắt cụ làm cho tôi không muốn rời xa. Những chùm tỏi khô treo lủng lẳng trên thành vách tạo nên một hình ảnh êm đềm thân mật. Không khí gia đình phô bày rõ nét qua màu đen ám khói của những cái chão, cái nồi. Và trước ánh lửa chập chờn, tôi được bà kể cho nghe không biết bao nhiêu là chuyện... Từ chuyện anh con trai độc nhất của hai ông bà chết trận mười năm cũ, đến chuyện con heo nái sau chuồng vừa mới đẻ một lứa sáu heo nhỏ đêm qua...

Ngồi trong căn bếp nhìn ra sau hè cả một bầu trời buồn tênh ảm đạm, tôi thấy lòng mình rung cảm mênh mang. Loài dân du mục nào cũng ôm trong tim một niềm ước mơ thật lớn, mong tìm đến những vùng đất hứa, nơi con người lâu ngày lãng du, thèm khát một mái nhà cỏ, một bóng mát để thương nhau, để gầy dựng niềm tin cho nhau. Điều quan trọng là phải từng sống qua cuộc đời du mục. Đoàn lữ hành lượt thượt băng qua dãy sa mạc tưởng chừng không bao giờ dứt. Những trận bão cát làm kinh hãi cả vật lẫn người.

Với tôi, qua suốt mười năm phiêu bạt, ở những lúc tình cờ bất chợt, tôi vẫn mê nhìn cái bếp lửa hồng có ngọn củi gầy bốc thơm mùi khói. Và tôi cho rằng đó là biểu tượng gần nhất của một vùng đất hứa muôn đời trong trái tim tôi.

Liège (Belgique).

Những người bạn Âu Châu làm tôi thoải mái duy nhất ở một điểm: âm nhạc. Ngoài ra là hết! Thực mà viết, Daniel và Claudia vẫn thường quan tâm đến đời sống kinh tế của tôi; cũng như Jean-Luc và Michel vẫn hỏi han về vùng quê hương cách xa nửa vòng trái đất ấy. Nhưng những điều này, tôi nghĩ, chỉ là những lưu tâm trong sự giao tế. Một nỗi thân mật vừa đủ, không mang tính cách thâm trầm của một tình bạn tâm giao.

Buổi tối, sau khi trở về từ phòng thâu thanh, chúng tôi cùng ngồi uống trà quanh lò sưởi. Ai nấy đều lặng im riêng lẻ theo những nỗi niềm. Ngoài trời, tiếng gió rít mạnh. Các cánh cửa sổ lung lay dao động. Thỉnh thoảng, tiếng rơi của một cành thông nhỏ dội trên mặt đất, khô khan.

Tự dưng, tôi không nghĩ mình đang ngồi bên lò sưởi nơi một vùng trời cách xa quê hương đến hàng vạn dặm... Đâu đây tưởng chừng như thật thơm mùi khói thông trong căn bếp Dalat năm nào... Thời gian đâu có nghĩa gì với những cảm xúc tràn trề như thế và không gian xa xôi đâu dễ làm tan biến trong tim những kỷ niệm một thời. Quá khứ và hiện tại như cùng hòa lẫn với nhau, làm ngất ngây hạnh phúc. Thứ hạnh phúc qua thật mau, tưởng như chưa hề đến!

Tháng 12/1978. Lưu diễn Tân Thạch.

Trên Quốc lộ 4 từ Sàigòn đổ về Miền Tây, đến tại cây số 76 sẽ gặp ngã ba Trung Lương. Tất cả các loại xe chạy về miệt Hậu Giang đều dừng lại tại đây dăm phút, nửa tiếng trước khi tiếp tục lộ trình miền dưới. Ở đây, các quán cơm nằm san sát, mỗi quán có một vẻ quyến rũ mời mọc riêng đối với khách đường xa. Từng con heo quay da vàng béo ngậy được treo lủng lẳng trước cửa quán, cạnh bên là những hũ dưa chua, những lọ tỏi ngâm giấm sắp bày la liệt. Rồi lại cơm, lại cháo, cá nướng, chim quay... món nào cũng có, món nào trông cũng hấp dẫn đẹp mắt cốt sao cho khách vừa lòng.

Tuy nhiên, đến tại ngã ba Trung Lương mà không mua mận Trung Lương là một điều rất thiếu sót. Những quả mận Hồng Đào mặt ngoài mơn mởn có những lằn gân đỏ chạy dọc từ cuống xuống, được trưng bày trong những chiếc thúng đan bằng tre, bên dưới lót lá chuối. Màu xanh của lá lấp ló chung quanh màu hồng của mận, gợi nên một sự hòa hợp dịu dàng dễ làm xiêu lòng khách. Mận Hồng Đào có loại đặc ruột, có loại bộng ruột. Nhưng dù đặc hay bộng thì nó vẫn rất ngọt lịm và dòn rụm. Đi đường xa mệt mỏi, thêm những hôm trời nắng ráo, ghé Trung Lương cắn một quả mận Hồng Đào thì cầm bằng như được uống một ly nước dừa mát rượi. Ngoài ra còn có loại mận da người xam xám, xanh xanh, mùi vị chua chua, chát chát. Loại mận này mà chấm với nước mắm đường, hoặc với mắm ruốc dằm ớt bột thì phải kể là tuyệt!

.. .. ..

Trong bến Tân Thạch, đoàn dừng rạp ngay trên một bãi đất trống, chung quanh là những bụi tre um tùm rậm rạp. Cứ mỗi cơn gió tạt ngang, những bụi tre đong đưa qua lại, tạo nên một thứ âm thanh u hoài man mác, như tiếng ru của mẹ hiền ngày thơ qua các câu ca dao buồn bã:

“Ầu ơ, gió đưa bụi chuối sau hè

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ...”

Tôi và hai người bạn nữa trú lại trong căn nhà lá của một bà già gần 70 tuổi được chúng tôi gọi là dì Bảy. Chiến tranh đã làm dì mất đi hai người con trai lớn. Còn cô con gái út lấy chồng xa, mãi dưới miệt Tân Châu, ít có dịp về thăm lại quê xưa. Vì vậy, ngày ngày dì chỉ thui thủi với đàn gà, luống rau trồng sau chái lá. Dì kể, những khi có đoàn hát về ngang Tân Thạch là dì Bảy vui hẳn lên bởi vì lại có thêm người ở chung trong nhà, cho dù chỉ là dăm bữa...

Từ khi còn bé, tôi đã nghe yêu đặc biệt dáng dấp và khuôn mặt của một bà già không quen biết. Lớn lên chút nữa, tình cảm này biến dạng theo khuôn mặt của bà ngoại tôi, của mẹ tôi và của rất nhiều bà già Việt Nam khác tôi đã gặp trong đời. Đó là bà già bán rượu đế vẫn đi ngang nhà tôi mỗi ngày, lúc mười một giờ ba mươi phút. Một bà cụ yếu gầy, dáng dấp mỏng manh.

“Rượu đế đây, rượu đế Hốc Môn đây!” qua giọng rao của bà đã làm tôi xúc động ngay từ lần đầu thấy bà đi qua cửa sổ. Sự xúc động này, tôi nghĩ, phát sinh từ nỗi so sánh trong cái đầu trẻ thơ hồi ấy. Chị bán hàng chè đậu xanh, thím bán tàu hủ hay ông lão bán mía hấp, ai đi qua xóm tôi cũng đều cất tiếng rao lanh lảnh. Chỉ bà bán rượu là không. Giọng bà khàn quá, nhỏ nhẹ quá. Mắt bà lại lòa nữa, một tay cầm cây gậy dò đường, một tay xách cái tĩn dựng rượu. Dạo ấy, mới 7 tuổi mà tôi đã biết rằng rượu đế là thứ không phải để dành cho con nít. Vì vậy, tôi vẫn tiếc thầm sao bà lại không bán chè bán xôi để tôi có dịp mua, có dịp cùng bà làm quen.

Trong mắt tôi, bà bán rượu đế rõ ràng là một người già lão. Da mặt bà nhăn nheo, đôi mắt chết, nhưng khuôn nét thì rất hiền lành, tội nghiệp. Có một lần, dừng lại chuyện trò với mẹ tôi nơi đầu ngõ, bà kể rằng đã từ dưới tận Long Xuyên, tản cư lên Hốc Môn với ba người con trai nhỏ. Rồi ba người con lớn lên, đi lính, chết cả. Còn lại một mình, bà lấy rượu từ các lò rượu lậu ở Hốc Môn, đi bộ khắp hang cùng ngõ hẻm rao bán, làm kế sinh nhai.

Hai năm trôi đi, bà vẫn cứ đúng 11 giờ rưỡi trưa đi qua xóm tôi với giọng rao “Rượu đế đây, rượu đế Hốc Môn đây!” nghe thật xa vời uẩn. Lưng bà còng hơn một chút, cái tĩn đựng rượu trong tay hình như nặng hơn đối với bà. Còn tôi, như một thói quen thân ái, cứ đúng 11 giờ rưỡi trưa là lại ngó mông ra ngoài cửa sổ. Tôi kiên nhẫn chờ bà đi qua, như chờ một điều bí mật nào mà tôi tìm hiểu hoài vẫn không ra.

Thêm một năm nữa. Bà vẫn đi qua xóm tôi lúc 11 giờ rưỡi trưa, nhưng bây giờ không còn bán rượu đế, mà lại biến hình thành một người hành khất. Bà đã gầy yếu lắm rồi, đôi mắt mù hẳn, nên có lẽ vì vậy mà chẳng ai cung cấp rượu cho bà? Giờ đây, đôi tay bà nhẹ tênh khi chỉ còn phất phơ một cây gậy trúc. Và giọng rao “Rượu đế đây, rượu đế Hốc Môn đây!” ngày nào, bây giờ đổi thành câu van lơn “Ông đi qua, bà đi lại, cho tôi xin chén cơm đỡ lòng!” nghe buồn như khóc.

Verviers (Belgique).

Tôi đáp xe lửa từ Liège đi Verviers để tìm lại hơi hướm kỷ niệm xưa. Bốn năm trước, sau khi rời Việt Nam, Verviers là thành phố đầu tiên tôi cư ngụ. Thời gian một tháng ấy vẫn còn đau buồn quá trong trí nhớ. Một giấc mơ dữ mà khi tỉnh dậy, tôi vẫn mãi thấy lòng u ám bâng khuâng. Tôi không quên được cái lúc ngồi trên phi trường Amsterdam, thủ đô nước Hòa Lan, để chờ chuyến bay qua Bỉ. Mới 8 giờ rưỡi sáng mà tưởng như buổi chiều sắp tắt. Lần đầu tiên, tôi mới có một chút ý niệm về thời gian và không gian ở Âu Châu. Tâm trí lúc bấy giờ chỉ là quay cuồng nhớ thương ánh nắng chan hòa của vùng quê hương biền biệt. Ôi! Quê hương giờ đây nghìn trùng xa cách, đã vĩnh viễn mất đi trong mắt nhìn.

Và rồi tôi đến Verviers. Thành phố buồn tênh ấy đã chứng kiến không biết bao lần tôi mất ngủ, bao đêm trở giấc, tôi bật dậy vội vàng. Những giòng tâm sự tuôn tràn ra trên giấy. Những giòng đau khổ về một vùng trời phương Đông xa xôi bên kia trái đất, nơi tôi đã chào đời, đã sống và lớn lên với muôn vàn kỷ niệm...

Bốn năm sau trở về chốn cũ, đứng trên dốc cao nhìn xuống ngôi nhà tôi đã giấu nỗi u hoài của mình thời gian thứ nhất, lòng sao thật ngậm ngùi ray rức. Cái gì rồi cũng bị xóa mờ theo năm tháng. Vậy mà nỗi đau của bốn năm trước, thời gian sao chẳng giúp nguôi ngoai? Nỗi đau vẫn còn ắp đầy trong tâm thức. Và tôi vẫn nhớ, vẫn thương, vẫn khóc thầm theo vùng nắng ấm chan hòa của quê hương trong mọi giấc mơ... Mãi mãi...

Cuối tháng 12/1978, hát ở Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Tiền Giang là tỉnh thứ hai của vùng đồng bằng sông Cửu Long, bắc giáp tỉnh Long An thuộc khu vực sông Vàm Cỏ; tây giáp tỉnh Đồng Tháp; đông tiếp giáp với cửa Soài Rạp và biển Nam Hải; cả mặt nam là sông Tiền, bên kia bờ là tỉnh Bến Tre. Kể từ sau 1975, tỉnh Tiền Giang gồm hai tỉnh Gò Công và Mỹ Tho cũ gom chung lại.

Từ Tân Thạch, đoàn trở ngược qua phà Rạch Miễu để dừng bến tại Cái Bè, một trong sáu huyện của tỉnh Tiền Giang. Sân khấu lộ thiên được dựng tại sân banh.

Trong đoàn hát, nhiệm vụ của tổ Tân Nhạc là hòa tấu các bài bản tân nhạc một giờ trước khi mở màn và ở các lúc đổi màn. Ngoài ra là đệm nhạc tuồng. Phần đệm nhạc này không nhất thiết cả bảy người cùng có mặt. Tùy theo đoạn tuồng hay sự biểu lộ tình cảm của nhân vật mà một hay hai nhạc khí tấu lên một câu ngắn để phụ họa cho hợp tình hợp cảnh lúc đó. Vì thế, so với tổ Cổ Nhạc phải ngồi suốt từ đầu đến cuối để đệm theo các điệu ca của diễn viên, tổ Tân Nhạc tương đối nhàn hơn.

Đêm hát Cái Bè, khán giả ngồi chồm hổm phía sau giàn Tân, Cổ Nhạc nhìn lên sân khấu. Trời tháng Giêng dương lịch đã nhuốm lạnh, báo hiệu sự sắp trở về của mùa Tết Nguyên Đán. Trong màn I của vở Phụng Nghi Đình, cô đào Út Bạch Lan sắm vai Vương Doãn, viên quan Tư đồ nhà Hán, năm 191 sau công nguyên, mượn tay một thị nữ tên Điêu Thuyền, dùng kế mỹ nhân tiêu diệt tên loạn thần Đổng Trác. Có một lúc cô đã gào lên hai chữ “Điêu Thuyền” thật lớn. Tiếng gào nghe sao bi thiết, diễn tả nên không biết bao nhiêu nỗi ưu tư của một vị trung thần trước thế cuộc đảo điên thời ấy... Lập tức, cả tâm hồn tôi rúng động. Chỉ trong một giây, tôi “cảm” được cái đẹp lạ lùng của nghệ thuật Cải Lương.

Không phải bây giờ, mà đã từ 13 năm trước, tôi và giới Cải Lương đã từng có cơ duyên tao ngộ. Là bạn thân cùng lớp trong trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn với cô con gái thứ nhì của soạn giả Năm Châu và nữ nghệ sĩ Kim Cúc, tôi được cô bạn nhờ chơi nhạc đệm trong vở hát Sân Khấu Về Khuya của ông Năm Châu thời gian ra mắt đầu tiên. Đây là một vở tuồng xã hội nên phần nhạc đệm được trích ra từ các đoản khúc cổ điển Tây Phương có âm điệu buồn áo não. Tuy nhiên, ý niệm về loại nhạc đệm trong một tuồng Cải Lương từ dạo ấy đã có trong tôi.

13 năm xưa, với tôi, Cải Lương là một thế giới vô cùng xa lạ. Dẫu rằng trong suốt ba tháng trình diễn vở Sân Khấu Về Khuya tại các rạp Sàigòn, tôi vẫn đến chơi nhạc mỗi tối, vẫn có dịp chuyện trò cùng các đào kép trong đoàn Thanh Minh, vẫn được cô đào Thanh Nga lừng danh tên tuổi gọi là “cưng” như đã gọi cô bạn, vẫn được soạn giả Năm Châu và anh kép Thành Được nổi tiếng đưa về mỗi khuya sau khi tan hát; nhưng thật sự vẫn có một cái hố không tên nằm chắn trrong óc để tôi nghĩ rằng không bao giờ tôi và họ có thể đến gần với nhau.

13 năm sau, tôi lại có dịp gặp các khuôn mặt xưa, thêm những khuôn mặt mới, trong cùng một môi trường sống. Nếp nghĩ của tôi đã sai bởi vì ngày nay trong tôi thật đã có một thay đổi lớn. Tôi ưa thích các vở hát Cải Lương, thân cận gần gũi hơn với các con người Cải Lương. Tôi say mê cái đời giang hồ đây đó. Trên hết, tiếng gào bi thiết của nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan trong đêm hát Cái Bè vẫn suốt đời còn vang dội trong ký ức tôi.

Bruxelles (Belgique).

Đọc trong tác phẩm Jean Christophe của Romain Rolland(1) những vần thơ hay quá:

... Vì có những lúc anh yêu em

Em cảm ơn anh

Và em ước mong rằng ở nơi khác

Anh sẽ được sung sướng hơn...

(... Fur die zeit wondu g’liebt mi hast

Da dank’i dir schon

Undi wunschi dass dir’s anderwo

Bener mag geh’n...)

Tháng 1/1979, hát Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Cai Lậy là một vùng tương đối trù phú thuộc tỉnh Tiền Giang, một ngã ba nằm trên Quốc lộ 4, rẽ mặt vào Mộc Hóa (Long An), rẽ trái sẽ vào Ba Dừa (Cai Lậy). Khi gần đến chợ có một tòa thánh thất Cao Đài kiến trúc rất đẹp, cũng nằm trên Quốc lộ 4.

Đoàn dựng rạp tại chợ Phú Kiết thuộc huyện Cai Lậy. Nơi đây, hơn một trăm năm trước, vào ngày rằm tháng 4 năm Ất Hợi (1875), ông Thủ Khoa Huân, vị anh hùng lãnh đạo phong trào kháng chiến chống Pháp nổi lên ở vùng Cai Lậy, đã bị giặc hành quyết.

.. .. ..

Tháng đầu năm mới, tôi thường bắt gặp nhiều hơn những mối buồn sâu xa trong hồn mình. Mỗi chiều trước giờ hát, ngồi trong một quán cà-phê nhỏ bên cạnh rạp với người bạn chơi trompette, nhìn những chiếc lá vàng bay là đà trong gió, mối buồn này càng lan rộng ra thêm. Ngọn gió tháng Chạp gần Tết nơi một huyện lỵ xa xôi như có mãnh lực bóp xiết trái tim trong biết bao niềm nghĩ ngợi. Tôi nghĩ đến những người bạn đã chết, những người bạn đã vượt biên ra đi và những người bạn đang còn trong các trại cải tạo..., rồi lại nghĩ đến mình, một note nhạc điếc, ù lì, câm lặng!

Đôi lúc tự nhủ “Phải làm một cái gì!”, nhưng rồi chẳng biết làm gì. Cứ mỗi chuyến lưu diễn trở về lại hay là mất thêm một người bạn nữa. Chân trời xa xăm nào đã cuốn lôi bước chân họ? Hay ngọn sóng nào trên biển Nam Hải vẫn còn ngàn đời ru giấc ngủ bạn tôi? Không thể biết được. Chỉ biết rằng tôi đã nghe thật buồn, trái tim như bị đục thêm một lỗ nhỏ khi nhận tin một người bạn rời xa vùng quê cũ dấu yêu.

Có khi tự hỏi “Tôi có muốn ra đi hay không?” Thì câu trả lời vẽ hình ngay nỗi cô đơn trên xứ người làm tôi sợ hãi. Hình ảnh một người đàn bà Việt Nam mỏng manh mặc áo dạ, quấn khăn choàng, bước đi trong làn tuyết dày đặc một mùa đông nào đó nơi vùng Bắc Âu, Tây Âu làm tôi ái ngại. Vậy mà tại sao tôi lại buồn khi biết được bạn bè đã ra đi gần hết?

Ngẫm cho cùng, suy nghĩ cho rốt ráo, tôi hiểu được nỗi mâu thuẫn của mình. Quê hương biểu tượng là bà mẹ già đau khổ,

(… Lược 2 dòng…)

Sự độc ác đẩy tôi đến chỗ kháng cự và muốn lánh xa. Nhưng giọt nước mắt của mẹ già cũng khiến tôi chùng lòng không ít. Mối mâu thuẫn cứ vậy mà vò xé trái tim triền miên trong những đêm mất ngủ. Và rồi tình cảm nào sẽ thắng? Đó là điều tôi chưa thể biết được trong hiện tại lúc này.

Bruxelles.

Thư viết cho Hạnh.

Hạnh thương nhớ,

Lâu lắm rồi em mới viết về cho Hạnh, xin Hạnh đừng buồn. Bấy lâu, tâm hồn em ủ rủ quá, tưởng chừng không còn hơi sức để trỗi dậy. Vì thế, thư từ cho bạn bè Việt Nam, em cũng không viết nữa. Con người em không bạc, và trong tim, bản chất phụ phàng không có vị trí. Em vẫn nhớ đến Hạnh, đến tất cả những liên quan cũ trong hơn ba mươi năm sống. Và, những nỗi nhớ này, em chôn giấu xuống tận đáy tim.

Giai đoạn bốn năm qua, em thất bại trên nhiều mặt của đời sống. Tuy nhiên em vẫn không cho phép mình gục ngã. Em quan niệm, cuộc sống giống như cái bánh xe khổng lồ quay mãi không ngừng, và con người là những sinh vật bị cuốn theo dòng quay ấy. Nếu dừng lại chỉ một giây thôi, con người tức thì sẽ bị nghiền nát. Vì thế, em phải trỗi dậy bằng tất cả hơi sức. Và, trong sự trỗi dậy ấy, em vẫn dành một góc tâm hồn cho kỷ niệm cũ càng ba mươi năm. Em khổ, một phần là do em đã trân trọng kỷ niệm nhiều quá. Nhưng em bằng lòng điều ấy, bởi, đó là tất cả những gì trong cuộc sống, em chưa mất.

Hạnh ạ,

Trong lá thư vừa rồi, em rất thích tư tưởng “an phận” của Hạnh. Suốt đời, em không làm được điều “an phận” nên rất ngưỡng mộ sự an phận của bất cứ ai. Suốt đời, em chỉ là kẻ lội ngược dòng sông, hễ cứ trồi lên lại bị đẩy cho tụt xuống. Giờ đây, có lúc nào nhìn một người để cho con nước cuốn xuôi, cũng là một điều thích thú. Nhất nữa người ấy có liên hệ với mình, mình đỡ bận tâm hơn về họ.

Hạnh thương nhớ,

Em rất buồn khi biết được nỗi tan vỡ trong đời sống Hạnh mà không chia xẻ cụ thể được. Dẫu vậy, em vẫn an lòng bởi biết rằng trong trái tim bạn mình đã cưu mang cả một nghị lực mạnh mẽ. Hạnh là một nghệ sĩ thì sự đau khổ càng điểm tô thêm cho nghệ thuật, chứ không là hủy diệt. Vả lại, việc gì cũng phải có lúc kết thúc của nó. Khác chăng, trong nỗi cuối cùng ấy, con người có còn giữ được ấn tượng, kỷ niệm đẹp về nhau hay không mà thôi. Em nghĩ vậy, Hạnh ạ.

Cho em hôn bé Thương Thương. Thân ái.

Tháng 1/1979.

Từ Cai Lậy, đoàn di chuyển qua Long Định về hướng ngã ba Trung Lương, cũng thuộc tỉnh Tiền Giang.

Long Định là một huyện lỵ khô khan. Phố xá chỉ là hai dãy nhà nằm hai bên đường Quốc lộ 4. Đoàn dựng rạp trên một bãi ruộng hoang nằm sát đường quốc lộ. Nơi đây xa nhà dân nên việc ăn ở của nhân viên đoàn qui tụ lại trong cùng một vị trí rộng. Mọi người chia nhau theo từng nhóm từng tổ, dựng chỗ ngủ ngay trên mặt đất quanh sân khấu.

Đêm đang độ mùa trăng. Sau giờ hát lúc nửa khuya, bãi ruộng hoang sáng lên một màu ngà huyền hoặc. Cái sàn gỗ dùng làm sân khấu đứng trơ vơ với những tấm màn nhung lộng gió bay phất phới, chính là bộ mặt thật của đời nghệ sĩ. Đó đây vang rền tiếng ễnh ương, ếch nhái. Từng nhóm người quay quanh các chiếu rượu riêng biệt. Những cái mùng giăng ra mỗi nơi một chiếc, tạo nên một không khí ấm áp lạ lùng.

Cái xã hội nhỏ này, càng ngày tôi càng nghe thân thiết; trong đó, đa số con người sống bình dị với không một ước mơ nào khác ngoài sự cầu mong cho đêm hát có thật nhiều khán giả. Mộng bình thường chỉ là như vậy, cạnh bên vài thú tiêu khiển khiêm nhường, đơn sơ.

Gần như tôi chưa hề nghe ai trong đoàn nói lên ý muốn bỏ quê hương ra đi. Không phải vì sự tốn kém làm cho họ không dám nghĩ đến, mà đúng hơn là họ không màng tới điều ấy. Với những diễn viên lớn, tôi ít chuyện trò giao thiệp. Nhưng với tất cả các anh em công nhân, tôi đều tiếp xúc. Vẫn nghe họ thở than về giá sinh hoạt đắt đỏ, về chuyện vợ yếu con đau. Và họ có buồn, có tỏ ra ưu tư, nhưng chỉ một đêm hát đầy nghẹt khán giả là những nỗi ưu tư này biến tan gần hết!

Anvers (Belgique).

Một câu của Goethe(2) đọc được trong một tác phẩm của Thomas Mann(3) : “Không có lối nào dẫn vào đời sống một cách chắc chắn cho bằng đi qua nghệ thuật. Và cũng không có lối nào thoát khỏi đời sống một cách chắc chắn hơn bằng đi qua nghệ thuật.”

Tháng 1/1979, hát Vĩnh Kim, còn gọi là Chợ Giữa, thuộc huyện Long Định, tỉnh Tiền Giang.

Năm ngày ở Vĩnh Kim thật là êm ái. Gần hai phần ba nhân viên đoàn trú lại trong một ngôi trại. Mỗi người lấy hai cái băng ghế dài đâu lại cạnh nhau thành một chỗ ngủ. Đêm đêm tan hát, những cái băng xếp hàng song song này lại biến thành “nơi họp chợ” ồn ào, có khi kéo dài tới sáng. Sau lưng trại có con lạch chảy ngang, chúng tôi thường đến đó tắm rửa, giặt giũ. Con đường đất len giữa các bụi tre, dẫn ra nơi dựng rạp, êm đềm, mát rượi như các con đường trong truyện thần tiên.

Buổi sáng trong năm ngày lưu lại đây, tôi thường đến ngồi bên bờ sông thật sớm. Có một thứ xúc cảm lạ kỳ lan khắp châu thân. Một nỗi êm đềm bò lên trên từng sớ thịt. Chung quanh tôi, tiếng tre rì rào các mẩu chuyện ngàn đời không dứt. Dưới làn nước trong vắt, từng đàn cá đủ màu, nô giỡn lăn lăn.

Rồi lại buổi chiều ngồi trước rạp uống ly cà-phê, nhìn những người dân quê hiền hòa qua lại, bên tai vang lên một bài ca Vọng Cổ từ chiếc máy phóng thanh gắn trên cột điện, tôi đã không ngờ chiến tranh có lần đi đến tận đây. Nơi đây êm đềm, nên thơ quá! Vậy mà nơi đây cũng đã có một xã nhỏ tên gọi Thuộc Nhiêu, chiến tranh đã giết đi gần hết những người đàn ông, trai tráng trong xã. Còn lại chỉ là trẻ thơ và phụ nữ, năm tháng mỏi mòn chiếc bóng cô đơn.

Năm ngày ở Vĩnh Kim là vậy. Trái tim thì dạt dào cảm xúc nhưng đôi mắt lại không đủ rộng để thu cho hết biết bao cảnh sắc dịu dàng của Vĩnh Kim.

CÒN TIẾP ...




© Cấm trích đăng lại nếu không được sự đồng ý của tác giả .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC