Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (11)



Bắc Thuộc Lần 2

Người Việt Thoát Hán Lập Nước Chăm Pa






Nửa cuối thế kỷ II. Phần đất cực Nam quận Nhật Nam của Giao Châu trở nên khó trị. Dân Tượng Lâm liên tục nổi dậy chống nhà Hán. Huyện Tượng Lâm là nơi tranh chấp thường xuyên giữa nhà Hán và dân bản địa.

    Năm 190. Khu Liên, người ở Tượng Lâm nổi lên giết thứ sử Chu Phù, chiếm huyện thành. Năm 192. Khu Liên giết huyện lệnh (huyện trưởng) lên cai trị. Khu Liên cắt một phần đất cực nam của quận Nhật Nam- huyện Tượng Lâm, lập vương quốc riêng. Hậu Đường Thư gọi là Lâm Ấp Quốc.
    Nhà Hán gọi các dân tộc bản địa ở Quảng Châu, Quảng Đông, Giao Châu là dân Bách Việt. Họ coi người Lâm Ấp cũng là dân Bách Việt (người Việt cổ) là một trong những Tổ Tiên của các dân tộc Việt Nam ngày nay.
    Năm 137. Các quan đô hộ nhà Hán gọi quân khởi nghĩa ở Tây Quyển (Quảng Bình ngày nay) là "rợ Khu Liên".
   “Lơ thơ dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông rợ mấy nhà” (Thơ Bà Huyện Thanh Quan)
    Như vậy Khu Liên còn có thể là tên gọi chung những người không cùng văn hóa với người Hán ở phía nam Giao Chỉ, là một trong những tộc người Bách Việt ở Giao Chỉ.
    Quận Nhật Nam- Một vùng đất Giao Chỉ của người Bách Việt. Bắc thuộc lần II, dân Việt tại Nhật Nam đã quật khởi, tự tách ra, lập nước Chăm Pa (sau này là Chiêm Thành).
    Sử liệu Tàu xác nhận Tượng Lâm là phần đất ở vùng cực nam quận Nhật Nam, trực thuộc quyền cai trị của Giao Châu thời Bắc thuộc, ngày nay là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (có tài liệu cho là đến tận cửa Đại Lãnh, Phú Yên).
Văn hóa Tượng Lâm & Văn hóa Chăm Pa
    Tượng Lâm là nơi tập cư của nhiều nhóm người xuất thân từ nhiều nền văn hóa khác nhau, tạo nên sự pha trộn văn hóa tự nhiên giữa các giống người, thời hoang sơ.
    Đó sự hòa trộn văn hóa giữa nhóm Việt tộc sơ sử (văn hóa Đông Sơn), các nhóm người Indonesia di cư ( văn hóa Indus) và Cổ Mã Lai (văn hóa Sa Huỳnh). Sau có thêm người Hán (văn hóa Khổng- Mạnh) từ phương Bắc di cư xuống, và người Môn-Khmer (văn hóa Óc Eo- Phù Nam) từ Tây Nam đi lên. Cuối cùng là những nhóm Malaysia-Polynesia (văn hóa Mã Lai-Đa Đảo hay Nam Đảo) từ biển tràn vào, đầu Công nguyên. Thế kỷ II. Một số thương nhân Ấn Độ đến đất Tượng Lâm buôn bán và truyền nền Văn minh, Văn hóa Ấn Độ cho dân Tượng Lâm.
    Quy luật sinh tồn. Nhóm người mạnh hơn, đã chinh phục và đồng hóa văn hóa những nhóm người yếu. Ngày nay, khoa học đa ngành: khảo cổ, lịch sử, di tích, di chỉ, thần phả, tâm linh, điêu khắc, kiến trúc… sẽ xác định nền Văn hóa thuộc nhóm người nào đã biến hóa, cùng sáng tạo Văn hóa Chăm Pa huyền bí.
    Lịch sử nước Tàu khẳng định người Chăm Pa là một trong những Tổ Tiên Bách Việt. Đất Trời Chăm Pa thuộc Đất Giao Chỉ.
    Theo chúng tôi, không thể thiếu cội gốc của nền Văn minh Việt cổ trong nền văn hóa Chăm Pa (Thiên Địa Nhân hợp nhất, Kinh Dịch, Văn minh lúa nước, Thờ sinh thực khí phồn thực, Đạo Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát, nghề đúc Trống Đồng, nghề rèn vũ khí, nghề gốm, lò nung gạch…) giao thoa cùng Văn hóa Ấn Độ cổ.
    Chúng ta tiếp tục tìm kiếm và chứng minh điều đó, trong đời sống người Chăm và những di tích, di chỉ Văn hóa Chăm… những Tháp Chàm sừng sững bên bờ Biển Đông hôm nay.
    Đặc biệt Đạo Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát của Bách Việt hơn 5000 năm trước, hòa hợp với tín ngưỡng Ấn Độ cổ.
    Bên Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh, tôi bất ngờ tìm thấy Tổ Tiên Việt, từ đất nước Chăm Pa. Tổ Tiên Việt bùng vỡ, thoát Tàu, lập nước Chăm Pa (Chiêm Thành) sáng tạo nền Văn hóa Chăm Pa diệu huyền tỏa Tinh cầu.
    Luận điểm mới của chúng tôi về Văn hóa Chăm Pa là:
    Người Việt thoát Hán, lập nước Chăm Pa, là một biến cố lịch sử kỳ diệu. Vương quốc Chăm Pa, dân vui sống cùng thiên nhiên, tự do, dân chủ, yêu thương, bình đẳng, hiền hòa, không bị Hán hóa, đã bừng sáng tạo nền Văn hóa Chăm Pa, đến nay còn bí ẩn với nhân loại. Đó là sự gặp gỡ giữa hai nền văn minh Việt cổ và Ấn Độ cổ tại bán đảo Đông Dương.
Dân Việt ở Tượng Lâm thoát Hán
    Mùa hè năm 100. Hơn 2.000 dân Tượng Lâm phá đồn, đốt thành, giết quan quân Hán. Chính quyền đô hộ Hán phải mang quân của các quận huyện khác đến dẹp. Từ đó, nhà Hán không dám ức hiếp thô bạo dân Tượng Lâm. Tàu đặt Tượng Lâm dưới quyền cai trị trực tiếp, do một binh trưởng sứ cầm đầu, nhằm thu thuế và nhận phẩm vật triều cống (vàng, bạc, sừng tê giác, ngà voi, móng chim ưng, hương liệu, vải lụa) càng nhiều càng tốt. Do những lãnh chúa địa phương thay nhà Hán thu của dân.
    Theo sử liệu Tàu Hậu Hán thư, Lưu Long truyện, Mã Viện truyện, người huyện Tượng Lâm luôn chống nhà Hán cai trị.
    Năm 136. Khoảng 1.000 dân Tượng Lâm nổi lên chống Hán, đánh chiếm huyện Tượng Lâm. Họ đốt thành và giết huyện trưởng. Năm sau thứ sử Giao Chỉ Phàn Diễn phải điều hơn 10.000 binh sĩ từ hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân xuống đàn áp, nhưng thất bại. Thay vì đi dẹp loạn, đoàn quân này lại phối hợp với dân quận Tượng Lâm chống Hán và chiếm đóng một số thành quách khác trong quận. Quân Đông Hán phải rút khỏi Tượng Lâm.
    Năm 138. Giả Xương, quan thị ngự sử nhà Hán đi sứ phía Nam, đã cùng với các quan thái thú trong quận Nhật Nam gom quân, dẹp những cuộc nổi loạn ở Tượng Lâm. Sau gần một năm, tất cả đều thất bại. Họ bị quân địa phương bao vây hơn một năm. Từ đó nhà Hán chỉ tin dùng quan quân nước Tàu đưa xuống.
    Năm sau Hán Thuận Đế sai tướng Cổ Xương huy động 40.000 quân ở các châu Kinh, châu Dương, châu Duyên, châu Dự xuống đàn áp loạn Tượng Lâm. Cổ Xương bị quân nổi loạn đánh bại, nhà Hán sai Lý Cố mang viện binh tiếp trợ, nhưng Lý Cố viện các lý do để hoãn binh. Cuộc tiến quân bị dừng lại.
    Những kế sách của Lý Cố là ly gián nội bộ những người nổi loạn bằng cách mua chuộc những lãnh chúa địa phương nhằm làm suy yếu tiềm lực của dân quân Tượng Lâm. Tránh can thiệp bằng quân sự vào những tranh chấp cục bộ của người Tượng Lâm. Người lãnh đạo Tượng Lâm để cho người Tượng Lâm chọn lấy, Thiên triều duyệt. Quan cai trị Tượng Lâm phải là một lãnh chúa thần phục Thiên triều.
    Nhà Hán phong Trương Kiều làm thứ sử Giao Chỉ và Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân. Trương Kiều đã thu phục được hàng chục ngàn dân thường của Nhật Nam và Tượng Lâm qui thuận Hán triều.
    Năm 144. Dân quận Nhật Nam và huyện Tượng Lâm lại chống Hán, bị thứ sử Hạ Phương đánh bại.
    Năm 157. Chu Đạt cùng dân chúng Cửu Chân giết huyện lệnh Cự Phong và thái thú Nghê Thức, giành quyền.
    Sự kết hợp tự nhiên giữa dân hai quận Cửu Chân và Nhật Nam gây cho nhà Hán nhiều bối rối. Ngụy Lãng- Đô úy quận Cửu Chân chỉ huy quân Hán phản công quyết liệt, giết hơn 2.000 dân Cửu Chân. Phe nổi loạn phải chạy xuống phía nam chiếm quận Nhật Nam và chống trả.
    Trong ba năm (157- 160). Khoảng 20.000 người dân Tượng Lâm tiến đánh quân Hán và chiếm nhiều huyện khác của Nhật Nam. Năm 178. Lương Long cầm đầu khởi nghĩa chống quân Hán, chiếm được nhiều vùng đất từ Giao Chỉ đến Hợp Phố và từ Cửu Chân đến Nhật Nam. Năm 181. Hán Vương cử Lã Đại mang quân sang đánh dẹp.
    Đời Hán Sơ Bình (190-193). Nhân nội tình nước Tàu rối loạn, dân Tượng Lâm cùng dân hai quận Cửu Chân và Nhật Nam, vùng dậy đánh đuổi quân Hán, thắng lợi.
    Năm 192. Tiểu vương quốc Chăm Pa đầu tiên phía bắc ra đời, tên gọi Lâm Ấp, do Khu Liên lãnh đạo. Tiểu vương quốc này mở đầu cuộc đấu tranh giành độc lập của người Kinh ở phía Bắc và phong trào thống nhất vương quốc Chiêm Thành ở phía Nam.
Các triều vua Lâm Ấp & Hội nhập Văn hóa Ấn Độ
    Vương quốc Lâm Ấp đã tồn tại từ năm 192- 605, tại vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Nam. Nước Lâm Ấp là thời khởi đầu nước Chăm Pa độc lập.
    Thời kỳ đầu, kiến trúc Lâm Ấp qua di tích và hiện vật khảo cổ cho thấy ảnh hưởng Tàu nhiều hơn ảnh hưởng Ấn Độ. Sau đó, thương nhân và tu sĩ Ấn Độ bắt đầu giao tiếp dần với người Lâm Ấp. Những người Ấn này đã truyền cho giới quí tộc địa phương Văn minh và Văn hóa của họ, và cả cách tổ chức xã hội.
    Tổ chức xã hội của người Ấn mang tính phân quyền cao hơn, hợp với nếp sống của người bản địa, được giới thượng lưu địa phương ưa chuộng. Người Ấn ít dùng bạo lực để áp đặt văn hóa hay uy quyền chính trị của mình trên những xã hội khác, kém hơn, mà để các thân hào bản xứ tự nguyện làm thay, sau khi hấp thụ văn minh và văn hóa của họ.
    Khu Liên qua đời. Chữ Phạn trở thành chữ viết chính thức. Các bi ký tìm được trong thời này đều khắc bằng chữ Phạn. Quốc thư trao đổi của Lâm Ấp với nước Tàu được viết bằng chữ Phạn, thay chữ Hán. Thời cuối Lâm Ấp (đầu Chăm Pa), Văn hóa Ấn Độ trở thành Văn hóa chính của vương quốc. Ấn Độ giáoPhật giáo được truyền bá.
    Các vị vua thời kỳ này, đều ghép tên mình với một thần linh, thường là với Shiva (còn gọi là Isvara) để độc quyền cai trị. Uy quyền vua thể hiện qua lọng màu trắng mà dân thường không được dùng.
    Cuộc cưỡng bức Văn hóa Tàu cai trị, với người Bách Việt vùng Tượng Lâm thất bại. Người Tàu chịu thua, gọi tên nước mới này là Lâm Ấp thay tên Hồ Tôn Tinh hay Tượng Lâm như trước kia thuộc Giao Chỉ, và giữ quan hệ “láng giềng tốt” để thu nhiều của triều cống.
    Theo sử Tàu, lãnh thổ vương quốc Lâm Ấp là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, phía nam huyện Lô Dung ( Thừa Thiên-Huế ngày nay). Đường thư nói Lâm Ấp từ huyện Tây Quyển (Quảng Bình) trở xuống. Đại Nam Nhất Thống Chí nói Tượng Lâm là Bình ĐịnhPhú Yên. Thủy Kinh chú cho biết thủ phủ Lâm Ấp lúc đầu không biết ở đâu, sau được biết đặt tại Khu Lật (Huế ngày nay), phía nam có sông Lô Dung (sông Hương) chảy qua.
Vương triều Lâm Ấp thứ nhất (192- 336)

    Theo sử Tàu (Lương thư) khoảng 220- 230, con cháu Khu Liên gửi phái bộ đến thống đốc Quảng Đông và các thái thú Giao Châu (Lã ĐạiLục Dận) triều cống và quan hệ ngoại giao.
    Năm 248. Khởi nghĩa Bà Triệu. Nhà Đông Ngô cho Lục Dận làm An Nam hiệu úy, tức thứ sử, sang Giao Châu dẹp loạn. Dẹp xong Bà Triệu, Lục Dận đem quân xuống chiếm Khu Lật, bắt hàng ngàn thợ khéo tay dâng nhà Đông Ngô. Năm 260. Những vùng đất bị quân Lâm Ấp chiếm đóng đều bị lấy lại. Nước Lâm Ấp lại thuộc về huyện Tượng Lâm.
    Khu Liên chết. Năm 270. Cháu ngoại của ông là Phạm Hùng lên làm vương.
    Dưới thời Phạm Hùng, lãnh thổ Lâm Ấp được nới rộng tới thành Khu Túc, cạnh sông Gianh ở phía bắc. Phạm Hùng chinh phục và thống nhất các tiểu vương quốc khác nằm trong các dải đất dọc duyên hải miền Trung. Sau hơn 10 năm chinh chiến (271-282), Phạm Hùng bị quân nhà Tây Tấn đánh bại. Năm 283. Con là Phạm Dật lên ngôi. Năm 284. Phạm Dật gửi sứ bộ sang Tàu cầu hòa. Lâm Ấp được hòa bình. Phạm Dật trị vì 52 năm.
Triều vương thứ hai (336- 420)
    Phạm Dật chết năm 336. Tể tướng Phạm Văn cướp ngôi. Phạm Văn người gốc Hoa quê Dương Châu, bị bán làm nô lệ cho một quan cai trị huyện Tây QuyểnPhạm Tương.
    Thời Phạm Văn, kỹ thuật luyện sắt (rèn kiếm, đúc lao) đạt tinh túy. (Nghề rèn đúc vũ khí tinh xảo của Lâm Ấp là tiếp nối người Bách Việt thời Bát Bộ Kim Cương). Phạm Văn đưa Văn minh Ấn Độ vào đời sống. Cải tổ hệ thống quan lại theo khuôn mẫu Ấn Độ. Xây thủ phủ tại Khu Lật (hay Thành Lồi- Huế). (Xây thành đắp lũy bằng đất, đá và đất nung là tiếp nối Văn minh lúa nước sông Hồng của người Bách Việt).
    Năm 340. Phạm Văn xin nhà Đông Tấn cho nhập quận Nhật Nam, gồm các huyện Tây Quyển, Ty Canh, Chu Ngô, Lô Dung và một phần đất phía nam quận Cửu Chân là huyện Hàm Hoan vào lãnh thổ Lâm Ấp. Nhưng không được.
    Phạm Văn tấn công Nhật Nam, chiếm huyện Tây Quyển, giết thứ sử Hạ Hầu Lâm, lấy mũi Hoành Sơn (nam quận Cửu Chân) làm biên giới phía bắc, xây lại thành Khu Túc (cạnh sông Gianh).
    Từ đó phần đất từ đèo Ngang trở xuống thuộc về Lâm Ấp. Từ đó phía bắc đèo Ngang là nơi xảy ra những trận tranh giành giữa Lâm Ấp và Giao Châu trong suốt hai thế kỷ IV và V.
    Năm 349. Nhà Đông Tấn phản công. Quân Lâm Ấp bại trận. Phạm Văn chết. Con là Phạm Phật lên thay.
    Phạm Phật được cho là người mở đầu vương triều Gangaraja (Bắc Chiêm Thành). Phạm Phật tấn công quân nhà Đông Tấn tại Nhật Nam và vây thành Cửu Chân. Năm 351. Quân Lâm Ấp bị đánh bại, chạy về phía tây tại Lãng Hồ, huyện Thọ Lãnh (Thanh Hóa). Thành Khu Túc bị chiếm, ranh giới được thiết lập lại tại huyện Ty Canh gần sông Nhật Lệ (Quảng Bình).
    Năm 359. Quân Đông Tấn chiếm huyện Thọ Lãnh và đánh bại quân Lâm Ấp tại vịnh Ôn Cấn, chiếm thành Khu Túc. Phạm Phật xin hòa và gửi người sang Tàu triều cống (372 và 377). Phạm Phật mất năm 380. Con là Phạm Hồ Đạt thay.
    Phạm Hồ Đạt được cho là vua Dharmamaharaja, hiệu Bhadravarman, người sáng lập vương triều Gangaraja. Dưới thời Phạm Hồ Đạt, Phật giáo Tiểu thừa phát triển mạnh, nhiều nhà sư từ Ấn Độ sang truyền đạo. Thành Khu Lật (Huế) vẫn là trung tâm chính trị, đổi tên Kandapurpura, nghĩa là Phật Bảo Thành vì có nhiều đền đài và hình tượng PhậtShiva.
    Phạm Hồ Đạt xây thêm một trung tâm tôn giáo mới tại Amavarati, tức thánh địa Hào Quang (nay là Thánh địa Mỹ Sơn, một thung lũng cách Đà Nẵng 70 km về phía tây). Nhiều đền thờ đạo Bà la môn được xây dựng tại Mỹ Sơn để thờ thần Shiva và tượng Linga. Ngôi đền đầu tiên được xây bằng gỗ vào cuối thế kỷ IV, mang tên Bradresvara, kết hợp giữa tên vua Bradravarman I và thần Isvara (hay Shiva).
    Thế kỷ IV trở đi lãnh tụ chính trị và tôn giáo tại Lâm Ấp là một. Thờ Thần tức thờ vua. Vua thay mặt Thần Shiva cai quản muôn dân. Shiva vừa là thần bảo hộ xứ sở vừa là vị thần giữ đền (Dvarapala) để dân chúng đến thờ phụng và dâng lễ vật.
    Năm 399. Phạm Hồ Đạt chiếm quận Nhật Nam, giết thái thú Khổng Nguyên, tấn công quận Cửu Đức, bắt sống thái thú Tào Bính, bị quân của thống chế Đỗ Viện đánh bại, phải rút về dưới đèo Ngang.
    Năm 413. Phạm Hồ Đạt chiếm Nhật Nam. Thủy binh đổ bộ vào Cửu Chân đốt phá các làng xung quanh. Thứ sử Đỗ Tuệ Độ mang quân nghênh chiến, chém Phạm Trân Trân (con Phạm Hồ Đạt) và tướng Phạm Kiện, bắt làm tù binh hơn 100 người, trong có hoàng tử Na Neng. Tất cả đều bị chém đầu. Phạm Hồ Đạt trốn vào rừng sâu, mất tích. Triều đình Lâm Ấp tiếp tục triều cống Tàu.
    Triều đại Bhadravarman do Phạm Tu Đạt cai trị. Từ 413- 420, con cháu Phạm Hồ Đạt tranh ngôi vua. Nội chiến khắp nơi. Năm 413. Địch Chớn, con Phạm Hồ Đạt là đạo sĩ Bà la môn, được triều thần đưa lên ngôi vua, hiệu Gangaraja ( sông Gange bên Ấn Độ).
    Năm 415. Quân Lâm Ấp vào cướp Giao Châu. Năm 420. Tuệ Độ đánh Lâm Ấp. Địch Chớn đam mê văn hóa Ấn Độ muốn nhường ngôi cho em là Địch Khải để sang Ấn Độ sống những ngày cuối đời. Địch Khải sợ bị triều thần ám hại, dẫn mẹ chạy trốn vào rừng. Ngôi báu nhường cho Manorathavarman, cháu Địch Chớn.
Triều vương thứ ba (420- 530)
    Năm 420. Con cháu Tể tướng Thiếu Lâm ám sát vua Manorathavarman, đưa Văn Địch em cùng mẹ khác cha của Địch Chớn thay, hiệu là Phạm Dương Mại I. Ông bị chết sớm, trong cuộc tấn công của quân Đông Tấn. Con là thái tử Đốt, được nhà Đông Tấn phong vương năm 421, hiệu Phạm Dương Mại II.
    Nhân loạn bên Tàu, nhà Lưu Tống lật nhà Đông Tấn. Năm 431. Phạm Dương Mại II dẫn hơn 100 chiến thuyền tấn công các làng ven biển tại cửa Thọ Lãnh, Tứ Hội Châu Ngô (quận Nhật Nam Cửu Chân) bị đánh bại. Quân Tống chiếm thành Khu Lật. Dương Mại II chạy trốn ra Chiêm Bất Lao ( Cù Lao Chàm- Quảng Nam).
    Năm 433. Phạm Dương Mại II xin thâu tóm đất Giao Châu về cai trị. Vua Tống không chịu. Chiến tranh lại xảy ra.
    Năm 443. Vua Tống Du Long phong thống chế Đàn Hòa Chi làm thứ sử Giao Châu. Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp. Phạm Dương Mại II chạy thoát ra cửa Tượng Phổ. Quân Tống tăng nhiều đội tượng binh, tổng phản công, nhưng bị thua.
    Đàn Hòa Chi cướp rất nhiều vàng bạc, châu báu, tượng đồng và đập phá rất nhiều đền đài. Sử Tàu (Tống thư) chép Đàn Hòa Chi lấy được nhiều tượng vàng (mười người mới ôm xuể), đem nấu chảy được hơn 10 vạn cân (40.000 kilôgam vàng).
    Từ đó nước Tàu biết Lâm Ấp có nhiều vàng, mỗi khi có dịp là tiến quân đánh cướp.
    Phạm Dương Mại II chạy trốn về phía nam, chinh phục luôn các tiểu vương phía nam, hợp nhất với phía bắc. Năm 443. Phạm Dương Mại II về lại Khu Lật, mất năm 446. Đất phía bắc Lâm Ấp bị đẩy lùi về huyện Lô Dung (Thừa Thiên). Con cháu Phạm Dương Mại II tranh quyền.
    Năm 455. Con Phạm Dương Mại II là Phạm Chút (Phạm Thần Thành) lên ngôi. Trung tâm chính trị vẫn tại Khu Lật. Trần Thành xây thêm một trung tâm văn hóa và tôn giáo mới tại Amaravatithánh địa Hào Quang (Mỹ Sơn- Quảng Nam). Vương quốc Lâm Ấp được nới xuống phía nam, phía bắc và cao nguyên phía tây. Phạm Trần Thành mất năm 472. Lâm Ấp không có vua.
    Năm 484. Một người Phù Nam tên Phạm Đăng Căn Thăng (con vua Phù Nam Jayavarman tị nạn tại Lâm Ấp) cướp ngôi, cầm quyền gần 20 năm. Năm 492. Con Phạm Trần Thành là Phạm Chư Nông, giết Căn Thăng giành ngôi. Phạm Chư Nông chết đuối năm 498. Con cháu trị vì đến năm 527.
Triều vương thứ tư (529- 757)
    Năm 529. Vikrantavarman mất. Không người kế tự. Luật Đa La Bật Ma (dòng dõi Địch ChâuVikrantavarman là cháu) lên làm vua, hiệu Rudravarman I. Năm 577. Luật Đa La Bật Ma mất, con là Prasastadharma thay, hiệu Phạm Phạn Chi. Thời Phạm Phạn Chi, văn hóa Lâm Ấp tỏa rộng Đông Nam Á.
    Năm 598. Nhà Tùy chiếm Lâm Ấp, chia thành ba châu: châu Hoan (Tỷ Cảnh), châu Ái (Hai Âm) và châu Trong (Khương).
    Năm 605. Nhà Tùy cướp Lâm Ấp. Nước Lâm Ấp diệt vong. Vua Phạm Phạn Chi lưu vong về phía Nam, dựng quốc gia riêng, xây thành phố Sư Tử (nay là Trà Kiệu, cạnh sông Thu Bồn, huyện Duy Xuyên- Quảng Nam). Đây là thời quá độ giữa Lâm Ấp và Chăm Pa. Một người Tàu ghi, người Lâm Ấp "mắt sâu, mũi thẳng và cao, và tóc đen và xoăn" vừa ưa thích ca nhạc, nhưng cũng hiếu chiến. Phạm Phạn Chi xây lại đền Bhadrecvara bằng gạch ở Mỹ Sơn. Ngôi đền thời vua trước bằng gỗ đã bị cháy.
    Những năm 620. Các vua Lâm Ấp cử nhiều sứ thần sang nhà Đường, xin nô lệ Tàu. Vua cuối cùng của Lâm Ấp chết khoảng năm 756. Năm 877. Nước Tàu gọi Chăm Pa là Hoàn Vương.
Hà Nội Thu 2014.
Đêm Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh.
Trăng xa vọng về tiếng hát Huyền Trân:
Tổ tông Bách Việt Tiên Rồng
Văn minh lúa nước sông Hồng, rộng xa
Đầu Lĩnh Nam, cuối Tượng Lâm
Tầu hóa- Phản Khổng, đâm ra tan đàn.

(… Còn tiếp ...)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 06.11.2014.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC TRONG VIỆT VĂN MỚI

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn