Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        Chương 1.



 KKhoác tay nải nâu lên vai, Cải khẽ khàng:

- Bố mẹ ở nhà khoẻ ! Con đi !
Bà mẹ níu hờ tay Cải, muốn lưu giữ thêm hình bóng con mình. Ông bố im lặng, vê thuốc lào cho vào nõ, châm đóm qua chiếc đèn chai. Ngọn lửa bung lên. Nghĩ thế nào, ông dụi đóm trong bát điếu, nhìn ra.
Cầm theo chiếc đòn gánh tre đực thửa từ mùa trước dựng sẵn bên cột vách, Cải bước ra. Con đường nhập nhoà sương. Sương tháng năm trong lành. Trăng nhoà nhoà phía trời tây. Tiếng gà rộ lên lúc xa lúc gần. Côn trùng rỉ rả quanh con đường vắng, đầm đìa sương sớm.
Cải nhanh nhẹn bước đến chỗ hẹn ngay đầu cầu Ốc. Từ xa, đã nghe tiếng Ao:
- Thằng Đá đâu?
- Nó chưa ra à?
Hai đứa căng mắt nhìn. Loáng thoáng qua làn sương đục, bóng người chạy gằn.
- Thằng Đá đấy!
Ba đứa khoác tay nải, líu ríu trên đường lên tỉnh. Cải vác đòn gánh trên vai. Tang tảng sáng, bọn chúng lẫn vào đám người xuôi ngược.
Mặt trời ló ra, dần dần lên cao. Nắng đổ lửa xuống đầu. Con đường rải đá, rải đất, nhấp nhổm những ổ gà. Bụi bốc theo bước chân. Mồ hôi bắt đầu đổ ra, thẫm màu trên lưng áo gụ.
Hai bên đương, lúa đã gặt xong, trơ gốc rạ. Dấu tích đốt đồng để lại đen thui. Lác đác bóng người cày. Làng thôn lùi dần. Nam Định tấp nập, cơ man người. Quần cộc, quần dài, áo nâu, áo the, cởi trần…đủ cả. Bọn trẻ không còn nhanh nhảu cất bước nữa. Chúng cắm cúi đi, không ai cất lời. Nước bọt đã đặc dẻo dính trong miệng. Mồ hôi khô rồi lại ướt, ướt rồi lại khô. Thằng Ao lên tiếng:
- Nghỉ đã chúng mày ạ. Dễ hơn chục cây rồi.
- Thôi! Cố qua phố, vào đến làng hãy nghỉ. Ăn uống xong đi tiếp. Chập tối tới thôi! - Thằng Đá cất giọng.
Phố xá cửa nhà dần dần lùi xa. Thấp thoáng những lùm tre quấn quýt, lả ngọn vào nhau. Những vườn ngô đã bẻ bắp, cây xác khô. Những luống khoai lang mỡ màng phun lá. Những thửa ruộng đang đợi cày.
Cả bọn chọn mô đất, nằm duỗi dài căng cứng chân tay cho đỡ mỏi, lần lượt mở tay nải. bên trong có bộ quần áo vá chằng, chai nước và mo cơm gói lá chuối. Một gói nhỏ bằng hai ngón tay cũng bọc lá, đựng muối vừng. Cải giở bọc lá đựng khoảng non hai bát cơm độn khoai lang khô nấu nhão. Đưa lưỡi dao bài vào cắt, nắm cơm vỡ rời. Cải bốc ăn. Cả bọn chẳng hơn gì. Nắm cơm thau tháu như nhau, chưa kịp nhìn kỹ đã hết. Chai nước mưa múc từ chum vại, uống còn non nửa. Nằm nghỉ chốc lát, Cải giục:
       - Đi cho sớm.
     Mặt trời ném lửa. Nắng chang chang. Ba đứa trước sau đều che nắng đốt bằng cành cây bẻ vội trên đường. Gió còn ngủ ở đâu đó. Cây cối lặng phắc. Những bước chân uể oải mong chóng đến nhà chủ. Nóng bức cướp đi gần hết sức lực và nhiệt tình của chúng. Mới vừa mười lăm tuổi đầu, chúng sống triền miên trong khổ nghèo túng thiếu. Mặc không đủ ấm, ăn chẳng đủ no.
Chập tối, chúng xiêu vẹo dạt vào nhà Lý Nghiêm. Hẹn trước từ vụ mùa năm ngoái, bọn trẻ bớt nhút nhát. Nghe thưa gửi và ý định của chúng, e hèm một cái cho có khí thế, Lý Nghiêm cao giọng:
  - Chúng mày đâu?
  Tiếng “dạ”. Một con nhỏ chạy lên.
       - Đưa xuống dưới nhà bếp. Dọn chỗ ăn nghỉ cho chúng nó.
   Quay sang phía “chúng nó”, ông sẵng:
       - Sáng mai. Mày- ông chỉ vào Ao- Đi cày! Biết cày không?
       - Dạ ! Cháu đã…
      - Được rồi! Còn chúng mày- Ông chỉ vào Cải, Đá- đi cuốc ruộng ngoài bãi sông cho ông! Chỗ đất lầy ven bờ ấy!
Những tiếng dạ đồng thanh. Tiếng con ở, tiếng người làm thuê vừa mừng rỡ, vừa chiếu lệ.
      Lý Nghiêm làm xã trưởng Hoàng Long (Nam Trực). Nhà mười lăm mẫu ruộng. Hai vợ chồng đều trên dưới năm mươi. Ở làng quê lúc ấy đã là bậc cao niên, hiểu biết. Hiểu biết đồng áng mùa vụ. Sáu đứa con. Bốn gái đã lấy chồng. Trong huyện lị này thôi nhưng phận dâu con phải chăm bẵm lam lụng, săn sóc vun quén nhà chồng. Hai con trai. đứa hai mươi, đứa mười tám. Bằng sào bằng với rồi mà còn trẻ dại, có lớn chưa có khôn. Cả hai thằng ngấp nghé tìm vợ mà vẫn lông bông lêu lổng. Lý Nghiêm thuê người làm, cấy cày gặt hái trông nom đến lúc lúa vào bồ. Ngô khoai vào góc nhà gậm giường. Đứa ở thổi cơm dọn dẹp, cám bã lợn gà. Thằng lo lắng canh giữ. Thằng cắt cỏ trông trâu. Đứa bếp núc mang cơm cho người làm đồng xa. Lý Nghiêm chân thật hiền hậu. Bà lý sắc sảo hơn, chạy chợ, mua rẻ bán đắt, tiếp tế cho kẻ ở người làm những khi vào vụ. Ông bà là người phúc đức. Giàu có tuy chưa nhất nhưng cũng ít người trong làng xã bì kịp. Với bấy nhiêu điều, ông được cử làm lý. Công việc cũng ít. Dân chưa làm loạn. Năm hai kỳ thúc thuế, vất vả với làng với xã, thu thóc thu tiền và tụ tập đánh chén, đánh bài bạc tổ tôm. Ít việc nên ông giữ được nếp nhà. Gắn bó sâu sắc ruộng đồng, bàn chân sục bùn trên bốn mươi năm. Vài vụ gần đây, ông mới nghỉ, guốc cao quần dài, áo the khi làng xã có việc. Thường ngày ông áo vá quần nâu đi quanh quẩn thôn làng, đôn đốc việc đồng việc bãi. Ăn no mới có sức làm việc thổ mộc. Vì thế, người làm thuê nhà ông, dù gạo xấu nhưng bụng no.
Năm trước, Đá theo bố làm thuê khắp rẻo đất ven sông trong đó có nhà ông. Năm nay bố không còn nhưng nhớ hồi trong tết, Đá nghe bố hứa với Lý Nghiêm, khi vãn việc nhà sang làm cho ông. Đá rủ Cải Ao cùng đi. Đêm nay, thằng ở chỉ chỗ ngủ cho chúng bên góc bếp. Bếp là nơi dành cho kẻ ăn người làm nên rộng rãi bằng mấy nhà Cải. Lùa chiếc đòn gánh vào chân giường, nó hồ hởi:
       - Thế là tốt rồi? Ăn xong, đi ngủ luôn. Mai còn làm.
Tối một lúc lâu. Đang tháng năm thế là đã muộn, nhà mới lên đèn ăn cơm. Tiếng nhộn nhạo, nói năng cồn cào mãi mới chịu lắng.

      Đã sang tháng bảy. Cấy cày vãn việc. Một tối, ông lý cho gọi ba đứa lên:
      - Giờ việc đồng bãi đã hết. Ông trả công cho các cháu. Ông gửi lời thăm hỏi, chúc gia đình mọi sự bằng an. Các cháu ra chỗ bà nhận tiền. Cháu nào muốn làm tiếp, ông sẽ đưa sang Thuận Vi. Người ta đang cần chuyên chở, thu hái hoa quả. Cuối năm các cháu trở lại làm cho ông.
  Quay sang phía bà, ông nhẹ nhàng:
       - Bà xem! Tính toán đầy đủ cho chúng nó.

      Thuận Vi trước kia thuộc Nam Định, nằm ở hữu ngạn sông Hồng. Do thiên tai sạt lở, bồi đắp dịch chuyển, đất từ hữu ngạn đưa sang tả ngạn. Người đầu tiên phát hiện, di dân ra đấy là người dòng họ Nguyễn Đình. Ông đưa dân khai phá, lập ra làng Gòi sau đổi thành Thuận Vi. Ông tên là Nguyễn Đình Lan tri phủ huyện Vĩnh Lại, người kiên quyết đưa làng về tỉnh Thái Bình. Dân đã lập đền thờ để ghi sự tích. Làng Thuận Vi gần bến đò Tân Đệ. Đất Thái Bình là hòn đảo với ba bề bốn bên sông ngọt biển mặn. Thuận Vi như một cù lao cạnh hòn đảo ấy. Mùa lũ, làng trở thành ốc đảo mênh mang phù sa, tách biệt với xung quanh. Nhà nhà lại tách biệt với nhau bằng dòng nước ngoằn ngoèo, sâu ngập cây sào. Dân di chuyển, sinh hoạt bằng thuyền thúng, ăn ngủ trên nước. Dân làng bãi, quanh năm đội thồ hoa trái vườn nhà mang bán tận phương xa. Đất phù sa màu mỡ. Nhiều loại cây trái nổi tiếng. Táo trở thành sản vật ngon có tiếng khắp vùng. Quả to như cái chén, ăn giòn ngọt. Dân truyền đời cho nhau, luyện tập từ bé nên quen đội nặng. Đàn ông, đàn bà đội thúng chồng ba chồng năm. Ông bà cha mẹ đội. Con cái cháu chắt đội. Vì thế, người Thuận Vi thường thấp mập. Họ đầu đội nặng, chân cất bước, nói kể thao thao hay đứng cùng nhau dưới chồng thúng, chuyện trò lặt vặt, truyền tin về giá cả các chợ hoặc lời đồn thổi đâu đâu. Trẻ nô nghịch, tay bợt bạt, nước ăn hoẻn các kẽ chân. Từ tờ mờ đất, người xuôi kẻ ngược với những chồng thúng quả đầy như mâm bánh tết nhấp nhô bập bềnh trên đầu về các chợ xa. Những đò mủng lững thững như đồi như núi đỏ vàng, trộn đầy hương sắc.
- Chúng mình chỉ quen cày cuốc. Giờ đã đến mùa mưa. Cuốc cày làm được gì trên mảnh đất sông nước nhiều hơn đồng bãi ấy.
Nghe lời Cải, cả bọn không sang Thuận Vi. Ăn xong bữa cơm tươm tất hơn mọi ngày, chúng lên chào, xin phép ông bà trước, sáng mai về sớm.

       Mỗi đứa được ba hào rưỡi. Công làm suốt hai tháng trời với người chủ tốt. Lặn tiền vào đáy túi đã được khâu rút chần trì cẩn thận, cả bọn cuốc bộ trên con đường gồ ghề, lồi lõm mới ngày nào còn phơi dày rạ rơm. Lúa mới cấy, đỏng đảnh dầm chân trong nước. Một cái quán sơ sài bên gốc đa đầu dốc, lác đác người. Cải giục Đá và Ao vào, uống nước, làm mỗi đứa một củ khoai vừa đi vừa ăn, về nhà cho sớm sủa.
   Bọn trẻ ào vào, mua nước uống, chợt nghe tiếng:
       - Chúng mày đi đâu thế này?
       - Ơ Bào! Sao lại nở đây?
      Thằng Bào không nói, kéo tay Cải dẫn vào một mé quán. Nó là con ông Đục- một người từ lâu trở thành anh hùng danh giá nổi tăm nổi tiếng trong xóm ngoài làng.
      Nghe lời hiệu triệu Cần vương đánh thức hào khí bừng bừng trong người, Đục bỏ làng, bỏ vợ và đứa con nhỏ ở nhà, đầu quân theo cụ Hoàng giáp vào nam, đánh tây mũi lõ, da trắng như người bạch tạng. Nói đến ông, cả làng đều vị nể. Hơn chục năm phiêu bạc, ăn gió uống sương, giường chông chiếu cỏ, ông trở về làng. Tháng trước tháng sau, ông kéo Bào ra mỏ làm phu. Dễ đến sáu năm rồi.
      Bào là bạn cùng tuổi cùng lứa với Ao, Đá, Cải. Chúng thân thiết với nhau như người nhà vì cùng làng. Dẫn cả bọn đến chỗ ông già khắc khổ nhưng khoẻ mạnh, Bào nói với bố:
        - Đây là…
        - Mấy đứa lớn chừng này cơ à? Làm được nhiều tiền không? - Ông hỏi mà không chờ chúng trả lời: - Bây giờ làm gì?.
Chốc lát, mặt trời đã ngả. Gió cũng lộng hơn. Ông Đục dẫn giải:
       - Không có việc gì hệ trọng với gia đình các cháu đâu. Có muốn làm mỏ thì theo bác. Bố con bác lại ra ngoài đó đây. Làm mỏ gửi tiền về cho cha mẹ, giành tiền mà cưới vợ. Thằng này có vợ chưa?
        - Chưa ạ!
    - Thế thì tốt. Lớn rồi. Chim phải bay, phải sống nhờ cánh của mình. Bố
mẹ chúng mày có sống mãi đâu mà đòi bám khố.
      Ông Đục đã ngoài năm mươi dẫn bốn đứa trẻ đi bộ ra mỏ. Năm cái bóng dăng rải trên đường, thập thững bước. Không một ai biết đây là lớp lứa đầu tiên làm nên lịch sử vùng mỏ khổ đau tăm tối và oai hùng rạng rỡ suốt những năm tháng sau này.

      Một túp lều thấp, lợp lá cỏ ganh dưới tán cây si rộng. Bốn bên tuềnh toàng. Ba bề vách làm bằng thân róc ken dày dựng lửng, cao khoảng gần mét. Một phía trống trơn làm chỗ ra vào. Xung quanh là những tấm liếp bằng lá tre rừng xếp chặt, có thể nâng lên hạ xuống dễ dàng che mưa che nắng bởi cây gỗ chống. Ngang đầu, người ta gác thanh tre, treo những nải chuối chín. Trên chiếc chõng tre làm bàn có mấy chiếc bát úp. Dăm bảy quả ổi, dăm bảy bắp ngô, vài ba khúc sắn luộc chỉ cạo bỏ vỏ cát đặt ngay trên mặt chõng. Một bó mía cây dựng ngay bên góc lều. Bà chủ người to béo, gương mặt phúc hậu, miệng móm mém ngồi phía sau, phe phảy quạt lá gồi. Gần sát vách, một nồi nước ngô, một nồi nước vối. Trong và xung quanh nền, những phiến đá dày tự trồi lên, do người ta khuân về, đặt san sát làm chỗ ngồi. Khách lúc đông lúc vắng. Bà chủ mới ngoài sáu mươi, vừa bán hàng vừa mau chuyện. Xa hơn chút nữa, rừng rậm rạp đầy bí ẩn. Con đường đất đến đây rẽ thành hai ngả chả biết chạy từ thế giới nào sang thế giới nào. Thường khi đến đây, người ta dừng lại nghỉ, mua bán hỏi han.
      - Các bác cứ chờ đây. Sáng mai hẵng đi. Đi sớm, nhanh chỉ chiều mai là tới mỏ. Họ thi nhau mở tầng mở lò, đang cần người. Nhà nước bán cho Pháp vùng đất ấy rồi. Ở đây, chờ đông đông hãy đi. Gặp cướp thì khổ đấy. Khối người bị chém, bị treo cổ rồi. Toàn người đói quá tụ tập làm cướp thôi. Gặp gì cướp nấy. Đói ăn vụng túng làm liều đấy mà. Các bác cứ chờ, đông đông hẵng đi.
      Người ta nghe lời bà, tụ tập lại. Từng tốp từng tốp xa gần, chung quanh quán. Những gương mặt vêu vao, hốc hác, trĩu nặng ưu tư. Khách đến ăn uống những thứ mang theo rồi mua nước uống. Ai cũng một hai bát sẻ đôi sẻ ba. Lâu dần, người ta gọi nơi này là quán bà Nước. Chung quanh lều, tự nhiên thành điểm dừng. Sáng sáng, người đến từ hôm trước nhộn nhạo ra đi. Quán vắng teo. Cả một vùng yên tĩnh, hoang vắng. Gần trưa, lác đác người rồi đông dần, đông dần đến chập tối, đến đêm khuya rồi lại vắng ngắt vào sáng hôm sau. Ngày dăm ba chục người, ngày chẳng có ai. Nhiều người đến nhưng ít người mua. Bà cũng chỉ bán đến lúc nhọ mặt người. Bà tháo khoán nước ngô nước vối, dọn hàng vào trong núi. Muồn muộn sáng hôm sau, thằng cháu trai hơn mười tuổi gánh cho bà đôi nồi nước. Bà ngồi như thế, nói luôn mồm. Nếu vắng khách, bà nửa thức nửa ngủ.
Ông Đục đưa bọn trẻ đến lều bà Nước. Mặt trời ngàn ngạt hơi lửa. Nhận ra khách quen, bà đon đả:
   - Vào uống hớp nước. Ông đi ngay chứ ạ?
       - Không! Riêng con chẳng ngại nhưng còn bọn trẻ. Lần này khổ nhớ đời. Vận đen đeo bám nặng lắm, chả biết bao giờ hết, bà ơi! Bà cho con chục khoai, vài bát nước.
      Bà Nước cầm gáo làm bằng ống bương to đã được cưa một đầu, đục lỗ, đút chiếc que dài xiên qua làm cán. Từng bát nước ngô màu vàng đục. Mấy đứa trẻ làm một hơi. Ông Đục cầm bát lên, lại đặt xuống:
       - Bà cho con mượn cái điếu. Bao nhiêu tiền hả bà?
       - Ông cho xin hai trinh… chỗ quen biết…
  Trả tiền, hút xong điếu thuốc lào, ông Đục cầm bát nước lên, uống chậm rãi:
  - Chúng bay ra kiếm chỗ mà nằm. Con đi bà ạ!
     Đất rừng. Trời chóng tối. Tìm chỗ đặt lưng xong, ông mở bọc khoai lang, chia mỗi người một củ. Năm củ còn lại, ông buộc vào túi vải. Chiếc đòn gánh của Cải trở thành thanh gối đầu. Năm củ khoai lang nhanh chóng hết veo, kể cả vỏ.
Mệt quá ngủ được ngay nhưng qua nửa đêm, Cải đã tỉnh. Khí núi mát lạnh dù mới vào thu. Những tiếng động lạ, tiếng hú, tiếng tru, tiếng gầm, tiếng rú của thú núi vọng về nghe rờn rợn. Bất giác, nó lần tay nắn nắn túi, tay nải. Bộ quần áo mới, hai vỏ chai đựng nước.

      Nhờ người cầm tiền về đưa bố mẹ, luồn hai xu còn lại vào đáy túi, Cải cùng mấy đứa theo ông Đục ra mỏ. Chiếc tay nải quàng vai nhưng cơm không nước hết nên nhẹ hẳn. Cây đòn chắc nịch trên vai. Cải biết phải xa cái làng Phú Ôc rất mực yêu thương mới mong ngày mọc mũi sủi tăm lên được. Gian khổ ngập ngụa phía trước nhưng sức lực tuổi trẻ, chả sợ gì. Năm bác cháu lầm lũi đi. Ông Đục nói đi nhanh dăm ngày là tới. Nhưng ở đời dự định một đằng, ông trời tính một cách. Chẳng ai rõ thế nào.
      Qua đò Tân Đệ, mỗi người mất một trinh. Đi quãng mười lăm cây số nữa, trời nhá nhem tối. Tốp người rảo chân, cố vào trung tâm Thái Bình nhưng không nổi đành tìm bóng cây vạ vật bên đường. Gió mơn man xua tan cái nóng cuối hè như nung như nấu. Nửa đêm, mưa như trút. Trú dưới tán cây, lúc đầu họ còn tránh né sau rồi co cụm vào nhau, chịu những đợt nước dội. Mấy đứa trẻ rét run. Ông Đục cứng bóng vía hơn, lúc động viên, lúc doạ nạt, nâng đỡ tinh thần bọn trẻ. Nước chảy như thác, nhìn không thấy đường. Hàng cây đứng dầm chân xoay đảo trong nước chảy... Mấy người không còn chỗ nào ướt thêm được nữa, run lên thành tiếng. Cải chống chiếc đòn vào gốc cây, tựa lên…Nước chảy theo đòn thành dải như người đái. Tiếng cây đổ, cành gẫy, răng rắc, loạt xoạt, rầm rầm. Ông Đục nhìn trời, lòng ngổn ngang lo toan. Tại ông mới ra cơ sự thế này. Mặt ông nhoè nhoẹt nước. Cặp mắt ngầu ngầu chỉ chực lồi ra, chẳng biết nhìn gì trong ánh chớp loé lên. Chợt ông quát:
  - Chạy ngay đến bức tường kia!
      Những bóng người vừa chạy vừa ngã trong mưa xiên nước chảy, trong nhoáng nhoàng ùng oàng sấm chớp. Ngôi nhà xây thấp, cửa quay về phía nam, không sát đường nên chẳng mấy ai chú ý. Mấy bác cháu đứng nép mái hiên. Nước vẫn chảy thành dòng trước mặt nhưng người không bị ướt thêm nên cũng đỡ. Trời sáng dần. Mưa vẫn rộ lên ào ào từng đợt. Con đường hiện ra, cuồn cuộn, đục ngầu ngầu. Ông Đục men theo tường, tìm thấy cửa, đứng chờ chủ nhà dậy. Chủ nhà là ông Đà. Tâm sự dài dài mới biết họ đã cùng theo cụ Hoàng giáp vào Quảng Ngãi đánh tây hơn ba mươi năm. Do quân đông khác đội, chưa biết nhau. Giờ đã gặp, thành thân thiết. Ông Đà cũng nghèo, giật gấu vá vai. Thằng Bào, thằng Ao bị cảm, người nóng như chảo đặt trên bếp. Ông Đà đội mưa, xin ráy dại, ngải cứu, tía tô xông, lấy nước vôi đánh cảm cho. Mưa vẫn không dứt như muốn cầm chân mấy bác cháu. Ông Đà bàn:
      - Thế này bác ạ! Tôi đưa bác với các cháu đi vớt củi trên Bo. Mưa về. Sông đặc củi. Người ta mua, vớt, kéo những khúc gỗ, giường tủ trôi. Bác cháu làm. Người ốm để ở nhà, tôi nom dắng cho.
       Người nhôn nhao kín bãi. Sông đen đặc những gỗ, cột kèo, cành cây khô, cây tươi, tranh tre, rều rác. Người ta ào xuống nhận, giằng giữ, lôi kéo, vớt lên trong tiếng thét, tiếng la. Mấy bác cháu vần khuân lên bờ. Những chỗ gần, người ta trước, tranh cãi nhau ỏm tỏi. Mấy bác cháu phải kéo nhau lên chỗ xa. Người trông, người lôi, người chuyển. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng “ối!”. Phát hiện một xác chết trôi, nổi lập lờ. Mấy tay táo gan, lội xuống đón chặn, dìu kéo vào gần bờ. Chúng xúm lại. Kẻ cướp khăn túi, người lột quần áo, vàng bạc mà cái xác còn đeo. Chốc lát, xác trần chả còn gì. Chúng đẩy ra cho tiếp tục trôi về nơi vô định. Trưa ăn trên đống gỗ vớt, nhoe nhoét bùn. Ba bốn ngày sau, mưa ngớt. Nắng chang chang. Gỗ tre cây cành vẫn còn trôi dạt nhưng Ao, Bào đã bớt, đi lại được. Mấy bác cháu chào ông Đà ra đi. Nhờ mấy ngày bán gỗ củi vớt được cho ông Thả nên quen biết nhau. Ông Thả cho mấy người theo bè qua Bo, lại cho đi nhờ được đoạn xa, đến lối rẽ về Duyên Hà…
       Nắng như tải lửa xuống đường. Họ cứ đi như thế. Gặp sông hẹp thì bơi, lội. Sông rộng mới phải đi đò. Ngủ nhờ, ngủ đường, ngủ chợ. Không ai nhớ đã vượt qua bao sông ngòi như thế, dặt dẹo bước vào Hải Phòng.
Vào Hải Phòng, trời đã khuya nhưng ánh đèn thắp sáng hơn cả ban ngày. Mấy bác cháu chọn mãi được chỗ nằm dưới gầm cầu. Chưa ấm chỗ, chợt tiếng la, tiếng thét, tiếng chân chạy rầm rập. “Cướp! Cướp! Bắt lấy nó!”. Người chạy, người đuổi thình thịch lao trước mặt. Mấy bác cháu đứng dậy. Ngực thúc như trống làng. Bọn trẻ tam tinh thất tán, bị cuốn theo. Kẻ chạy đã đông, đều mã tấu gậy gộc. Người đuổi còn đông hơn, có cả súng gậy, dao phay, dao chém. Cuốn theo một chặp, mấy bác cháu mới tụ lại được. Aó sống tuột hết. Tiền đem theo cũng mất. Tài sản mấy người chỉ còn lại cái đòn gánh của Cải. Lo lắng dồn lên khắp mọi khuôn mặt. Ông Đục trấn tĩnh, nói thản nhiên như chuyện vừa xảy ra chỉ là chuyện vặt:
      - Tìm chỗ ngủ đã. Làm người phải kiên gan. Con chim chỉ có đôi cánh. Ngày ngày bay kiếm ăn, làm gì có dự trữ. Nó vẫn sống nuôi con cái đầy trời. Chả lẽ mình kém nó. Cùng lắm thì đi xin. Ra đến mỏ là sống.
      Nói cho qua chuyện, ông Đục nào có ngủ được. Nằm nghĩ những cách, những hướng giải quyết. Quanh đi quẩn lại, ngó trước ngó sau đều thấy mắc. Mệt mỏi quá, cuối cùng ông cũng thiếp đi.
      Trời không bắt ai phải khổ đến tận cùng. Sáng dậy, Cải nhặt được đồng bạc. Đồng bạc trắng hoa xoè mới tinh, chưa một vết xước. Dưới ánh sáng mờ còn nhìn rõ chữ số 1887.
      Được tiếp thêm sức mạnh, họ vượt thật nhanh xa nơi trời đã cứu giúp, ban phúc lộc, tránh rầy rà lôi thôi có thể xảy ra. Dân còn tiêu tiền trinh thì đồng bạc trắng hoa xoè thành tài sản lớn. Nó càng lớn hơn với những người đang tuyệt vọng như bọn ông Đục.
      Vuốt lại quần áo cho phẳng, chờ trời sáng rõ, ông Đục đưa mấy đứa vào cửa hàng lớn, sang trọng. Nhà chủ mừng rỡ, đón khách mở hàng. Ông mua cho mỗi đứa hai bộ quần áo, mua miếng vải diềm bâu. Chủ gói lại đưa ông. Rềnh ràng xem xét hàng hoá một lúc nữa, ông Đục mới móc tiền trả. Ra cửa, ông giục chúng đi nhanh. Vào hàng ăn, ông gọi năm bát mì vằn thắn, cút rượu. Đây là bát phở được ăn đầu tiên trong đời mấy đứa trẻ. Sau này kể lại, ông còn nhắc kinh nghiệm tiêu đồng tiền lớn nhặt được khiến người ta không nghi. Rụt rà rụt rè vào những quán nhỏ mua lặt vặt, khác nào lạy ông tôi ở bụi này. Những đồng tiền có được không do mồ hôi nước mắt ấy khác nào của ăn cắp, ăn cướp, nhà gá bạc, nhà thổ…phải tiêu đi. Tiêu vào những việc có ích chứ càng để lâu càng mang hoạ. Của nhà thổ mang đổ xuống biển.
      Chiều hôm ấy, mấy bác cháu lại băng đèo, lội suối với khí thế hào hứng. Về đến Quảng Yên, ăn uống đàng hoàng, bác cháu lại kiếm chỗ nghỉ khi trời mới tối. Đêm ấy, họ ngủ ngon lành, yên tĩnh trong vườn hoa chéo Quảng Yên. Nơi tập trung khá nhiều dân vô gia cư, dân tứ chiếng, trăng hoa và trộm cướp, bỉ ổi và tham lam trộn lẫn hào hiệp và cao thượng. Họ thay phiên nhau thức ngủ. Chẳng có gì nhiều nhưng phải cảnh giác. Làm người phải biết quý trọng bản thân mình. Sểnh nhà ra thất nghiệp, khốn khổ khốn nạn như chơi. Ông Đục khuyên chúng rồi nhận phần thức từ nửa đêm đến sáng.
     Tang tảng, ông Đục gọi chúng dậy, đi sớm cho mát. Đến trưa, mấy người mới vượt qua Biểu Nghi. Nhờ một gia đình quen biết trước, ông đưa tiền, người ta nấu ăn cho. Chắc dạ rồi, lại cầm theo bọc khoai luộc, bác cháu đi ngay. Leo đèo lội suối, về đến quán bà Nước đã thâm thẫm chiều.

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 05.11.2014.