Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (8)



Bắc Thuộc Lần 2

Bảy Triều Đại Tàu

Giằng Giật Nước Việt







Thời Bắc thuộc lần II trong lịch sử Việt Nam ( 43 - 543 ) bắt đầu khi Mã Viện theo lệnh Hán Quang Vũ Đế đánh cướp lại Giao Chỉ, từ trái tim Hai Bà Trưng.

    Bắc thuộc lần II. Dai dẳng. Giật giằng. Ngót 500 năm, với Bảy triều đại Tàu giằng giật nước Việt. N ăm 542. Lý Bí vùng dậy đánh đuổi Tiêu Tư- Thứ sử nhà Lương. Lý Bí lập nước Vạn Xuân năm 544.
Nhà Đông Hán- Trỗi dậy & Sụp đổ
  Hai Bà Trưng thất bại. Nhà Đông Hán tiếp tục cai trị Giao Chỉ.
    Lưu Tú, họ xa của hoàng tộc nhà Hán, chống Vương Mãng, với sự đồng lõa của nhóm chủ đất và nhóm nhà buôn. Lưu Tú xưng vua Hán Quang Vũ Đế, “tái lập” triều Hán ở Lạc Dương- nhà Đông Hán cai trị 200 năm.
    Triều Đông Hán. Ba phe nhóm tranh nhau Quyền/ Tiền. Hoạn quan giết lẫn nhau, cướp quyền vua. Tầng lớp học giả Khổng giáo chống hoạn quan. Phe phái vua quan yếu hèn, tham ác.
    Không bên nào trong ba bên đó, có thể cứu những người nông dân bùng nhùng trong lưới của các chủ đất. Đất đai dồn vào nhóm người khủng. Nhóm chủ đất chiếm quyền điều khiển quốc gia. Chính sách cung đình đặt ra, chỉ dành cho chúa đất.
    Nông dân nổi dậy. Khởi nghĩa Khăn Vàng (khởi nghĩa Hoàng Cân) bùng nổ ở Đồng bằng Hoa Bắc- vùng nông nghiệp chính của nước Tàu.
    Quyền lực của hoàng tộc họ Lưu rơi vào tay các sứ quân địa phương. Ba vị lãnh chúa cuối cùng đã kiểm soát được nước Tàu, sinh ra thời Tam Quốc máu lệ trộn bùn. Dân Tàu thịt nát, xương tan.
    Nhà Đông Hán mất. Nước Tàu phân làm ba nước (Tam Quốc): Tào Ngụy, Thục Hán, Đông Ngô.
   Hán Hiến Đế- Ghế vua lật đật
    Hán Hiến Đế tên là Lưu Hiệp, tựBá Hòa, Hoàng đế thứ 14 nhà Đông Hán, vua cuối cùng của nhà Hán..
    Ngồi ghế vua bù nhìn, Hán Hiến Đế bị các quyền thần thay nhau khống chế: Đổng Trác, Lý Thôi, Quách Dĩ và Tào Tháo điều khiển Hiến Đế lâu hơn cả (25 năm).
    Năm 216. Đánh bại Trương Lỗ, Tào Tháo sai Hoa Hâm ép Hán Hiến Đế phong Tào Tháo làm Ngụy Vương, lập Tào Phi (con thứ hai) làm thế tử.
    Đầu năm 220. Tào Tháo chết. Tào Phi thay làm Ngụy vương.
    Âm mưu cướp ngôi nhà Hán, Tào Phi sai đàn em phun ra những sấm ngữ: "hết Hán tới Ngụy", "nhà Hán sau 24 đời thì hết", hoặc những câu dùng phép chiết tự ra tên Tào Phi sẽ làm Thiên tử. Tào Phi tráo trở, ba lần giả vờ từ chối ngôi vua.
    Hán Hiến Đế ra chiếu thư nhường ngôi lần thứ tư. Tào Phi thành vua Ngụy Văn Đế.
    Hán Hiến Đế ở ngôi 31 năm (189- 220) bị phế làm Sơn Dương công - chư hầu của nhà Tào Ngụy - về ở quận Sơn Dương. Nhà Đông Hán chấm dứt.
    Nhường ngôi xong, được may mắn sống yên thân hết đời, như Hán Hiến Đế hiếm có trong lịch sử Tàu. Theo các sử gia Tàu, các vua bị cướp ngôi đều bị vua mới giết.
  Sĩ Nhiếp- Thái thú Giao Chỉ
    Sĩ Tiếp (137-226), thường bị gọi sai là Sĩ Nhiếp, là thái thú cai trị đất Giao Chỉ thời Bắc thuộc lần II (187- 226 cuối Đông Hán, đầu Tam Quốc). Sĩ Nhiếp tự là Ngạn Uy, Tổ Tiên là người Vấn Dương, nước Lỗ. Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, cụ Tổ Sĩ Nhiếp tránh loạn sang ở đất Quảng Tín, quận Thương Ngô. Cha Sĩ Nhiếp là Sĩ Tứ làm thái thú quận Nhật Nam thời Hán Hoàn Đế, cho Sĩ Nhiếp về kinh đô Tàu du học.
    Sĩ Nhiếp đỗ hiếu liêm, được bổ Thượng thư lang, vì việc công bị miễn chức, rồi về chịu tang cha. Sau lại đỗ Mậu tài, bổ làm Huyện lệnh Vu Dương, sau đổi làm Thái thú quận Giao Chỉ, được tước Long Độ Đình Hầu, đóng đô ở Liên Lâu (tức Long Biên).
    Cuối thế kỷ II. Nhà Đông Hán suy yếu. Chiến tranh quân phiệt bùng nổ. Hán Hiến Đế lả con rối trong tay các quyền thần.
    Trước tình hình đó, Sĩ Nhiếp- Thái thú quận Giao Chỉ xin nhà Hán cho ba người em là Sĩ Nhất, Sĩ Vĩ và Sĩ Vũ làm thái thú các quận. Sĩ Nhất làm Thái thú Hợp Phố. Sĩ Vĩ làm Thái thú Cửu Chân. Sĩ Vũ làm Thái thú Nam Hải. Nhà Hán loạn ở Tàu, không thể quản lý Giao Chỉ xa xôi, nên mặc nhiên thừa nhận. Thế lực họ Sĩ ở Giao Chỉ rất lớn.
    Năm 192. Người bản địa quận Nhật Nam theo Khu Liên chống nhà Hán- lập nước Chăm Pa (Chiêm Thành). Quân nhà Hán ở phía Nam bất lực trước sự ly khai của Khu Liên. Từ đó Nhật Nam trở thành nước Chăm Pa, tách sự cai trị của nhà Hán và các triều đại Tàu sau này.
   Sĩ Nhiếp trong tay người Tàu
    Năm 200. Tào Tháo nắm vua Hán Hiến Đế ở Hứa Xương, đánh bại Viên Thiệu. Giành quyền sinh/ sát ở Trung Nguyên, Tào Tháo với tay tới Giao Chỉ. Năm 201. Tào Tháo nhân danh Hán Hiến Đế cử Trương Tân làm thứ sử Giao Chỉ. Sĩ Nhiếp mất chức thái thú Giao Chỉ, nhẫn nại hợp tác với Trương Tân.
    Năm 203. Trương Tân và Sĩ Nhiếp dâng biểu xin lập Bộ Giao Chỉ làm châu. Nhà Hán đặt Giao Chỉ làm Giao Châu. Từ đó Giao Châu được ngang hàng với các châu khác ở Tàu. Hán Hiến Đế phong Trương Tân làm quan mục Giao Châu.
    Năm 206. Trương Tân bị bộ tướng Khu Cảnh giết. Khi đó Lưu Biểu trấn giữ Kinh Châu không thần phục Tào Tháo, sai Lại Cung sang làm quan mục Giao Châu. Năm 207. Tào Tháo can thiệp vào Giao Châu, sai người đưa thư, phong Sĩ Nhiếp làm Tuy Nam trung lang tướng, cho quản lý cả 7 quận Giao Châu là: Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, kiêm Thái thú quận Giao Chỉ như trước.
    Năm 208. Lưu Biểu chết. Tào Tháo mang đại quân đánh chiếm Kinh Châu. Cuối năm 208 xảy ra trận Xích Bích. Tào Tháo thất bại ý đồ thống nhất nước Tàu. Tôn Quyền Lưu Bị thắng, đánh chiếm đất Kinh Châu từ tay Tào Tháo.
    Tôn Quyền cướp quyền cai trị Giao Châu. Năm 210. Tôn Quyền sai Bộ Trắc làm thứ sử Giao Châu. Sĩ Nhiếp tuy đã thần phục Tào Tháo, nhưng biết không thể chống lại Tôn Quyền, đành chấp nhận ngôi vị của Bộ Trắc. Giao Châu thuộc về họ Tôn.
    Bộ Trắc làm thứ sử, nhưng thực quyền cai quản trong tay họ Sĩ. Sĩ Nhiếp sai con là Sĩ Hâm sang làm con tin ở Kiến Nghiệp với Tôn Quyền, được phong làm Long Biên hầu.
  Sĩ Nhiếp “Ngậm bồ hòn làm ngọt”
    Sử cũ đều ca tụng Sĩ Nhiếp là vị quan tốt, có uy tín trong dân chúng.
   Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư:
"Vương (Sĩ Nhiếp) độ lượng khoan hậu, khiêm tốn,
kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người".
    Sĩ Nhiếp được dân Việt mến yêu. Bởi trong vòng xoay tai ngược của người Tàu, ông Ngậm bồ hòn làm ngọt, giữ hòa bình, yên ổn ở Giao Chỉ trong suốt hơn 50 năm nội chiến ở Tàu- Tam Quốc chém giết nhau.
    Sĩ Nhiếp làm Thái thú tự trị quận Giao Châu. Thoát ảnh hưởng và mệnh lệnh nhà Hán. Điều đó thể hiện qua thư của Viên Huy- quan nhà Hán bấy giờ đang ở Giao Châu, gửi cho Thượng thư lệnh nhà Hán là Tuân Úc năm Đinh Hợi, Hán Kiến An năm thứ 12 (207):
"Giao Châu Sĩ phủ quân đã học vấn sâu rộng lại
thông hiểu chính trị, trong thời buổi đại loạn, giữ vẹn được một quận hơn hai mươi năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân đều được nhờ ơn, dẫu Đậu Dung giữ đất Hà Tây cũng không hơn được. Khi việc quan có chút nhàn rỗi thì chăm xem các sách thư, truyện. Phàm những chỗ biên chép không rõ ràng trong sách Xuân Thu Tả Thị truyện, (tôi) đem hỏi, đều được ông giảng giải cho những chỗ nghi ngờ, đều có kiến giải của bậc thầy, ý tứ rõ ràng, chặt chẽ. Lại như sách Thượng thư, cả cổ văn và kim văn, những ý nghĩa to lớn, ông đều hiểu biết tường tận, đầy đủ. Anh em ông làm quan coi quận, hùng trưởng một châu, ở lánh ngoài muôn dặm, uy tín không ai hơn. Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người; vợ cả, vợ lẽ đi xe che kín, bọn con em cưỡi ngựa dẫn quân theo hầu, người đương thời ai cũng quý trọng, các man di đều sợ phục, dẫu Úy Đà ( Triệu Đà) cũng không hơn được".
  Sĩ Nhiếp với nhà Hán
    Năm Kiến An thứ 6 (201). Vua Hán sai Trương Tân làm Thứ sử Giao Châu. Trương Tân thích việc quỷ thần, thường đội khăn đỏ, gảy đàn, đốt hương, đọc sách Đạo giáo, nói rằng có thể giáo hóa dân Việt. Sau Trương Tân bị Khu Cảnh giết. Lưu Biểu (châu mục Kinh Châu) sai Huyện lệnh Linh Lăng là Lại Cung thay Trương Tân. Vua Hán nghe tin, gửi thư cho Sĩ Nhiếp:
"Giao Châu ở cõi xa, một dải sông biển ở phía nam,
ơn trên không truyền đến, nghĩa dưới bị nghẽn tắc, thế mà nghịch tặc Lưu Biểu lại sai Lại Cung dòm ngó đất Nam, nay cho khanh làm Tuy Nam trung lang tướng trông coi bảy quận, lĩnh Thái thú Giao Châu như cũ".
    Sĩ Nhiếp sai Trương Mân mang đồ cống sang kinh đô nhà Hán. Chiến tranh loạn lạc, đường đứt nghẽn, mù mịt, nhưng Sĩ Nhiếp không bỏ việc nộp cống, để dân Giao Châu được yên thân.
  Sĩ Nhiếp với Đông Ngô
    Năm Canh Dần (210), Ngô Vương là Tôn Quyền sai Bộ Chất làm Thứ sử Giao Châu. Sĩ Nhiếp không chống cự, đem anh em đến vâng mệnh lệnh. Tôn Quyền cho Sĩ Nhiếp làm Tả tướng quân. Sĩ Nhiếp sai con là Ngẩm làm con tin ở nước Ngô, Ngô Vương cho làm Thái thú Vũ Xương.
    Các con của Sĩ Nhiếp ở Nam đều cho làm Trung lang tướng. Sĩ Nhiếp lại chiêu dụ thổ hào ở Ích Châu là bọn Ung Khải đem dân chúng trong quận, phụ thuộc nước Ngô ở miền đông. Tôn Quyền hỉ hả khen.
    Sĩ Nhiếp thường sai sứ sang nước Ngô dâng các thứ hương liệu, vải mịn, kể số hàng nghìn. Các thứ quý lạ như ngọc trai, ốc lớn, lưu ly, lông trả, đồi mồi, sừng tê, ngà voi cùng các thứ quả lạ như chuối, dừa, long nhãn, không năm nào không tiến, lại cống ngựa hàng mấy trăm con. Tôn Quyền viết thư ban cho Sĩ Nhiếp rất hậu để an ủi.
    Sử gia Lê Văn Hưu viết:
"Sĩ Vương biết lấy khoan hậu khiêm tốn để kính trọng
kẻ sĩ, được người thân yêu mà đạt đến quý thịnh một thời. Lại hiểu nghĩa, thức thời, tuy tài và dũng không bằng Triệu Vũ Đế, nhưng chịu nhún mình thờ nước lớn, để giữ vẹn bờ cõi, có thể gọi là người trí."
    Năm Bính Ngọ (226), Sĩ Nhiếp mất, thọ 90 tuổi.
    Tương truyền Sĩ Nhiếp ốm, đã chết ba ngày, nhưng được Đổng Phụng cho một viên thuốc hòa vào nước ngậm, rồi đỡ lấy đầu mà lay động, lại mở mắt động tay, sắc mặt bình phục dần dần, ngày hôm sau ngồi dậy được, bốn ngày lại nói được, rồi trở lại bình thường.
    Sĩ Nhiếp ở Giao Châu được 40 năm (187- 226), nắm uy quyền thực sự, nhưng vẫn theo lệ triều cống nhà Hán. Nhà Hán mất lại triều cống nhà Ngô.
    Sĩ Nhiếp mất. Con là Sĩ Huy tự xưng làm Thái thú. Ngô chủ Tôn Quyền chia đất Giao Châu, từ Hợp Phố về bắc gọi là Quảng Châu. Sai Lữ Đại làm Quảng Châu thứ sử. Đái Lương làm Giao Châu thứ sử. Trần Thì sang thay Sĩ Nhiếp làm Thái thú quận Giao Chỉ. Sĩ Huy chống cự, bị quân nhà Đông Ngô lừa bắt giết.
  Tranh cãi quanh Sĩ Nhiếp
    Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư:
    “Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Con không hiền là tội của con thôi. Tục truyền rằng sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà Tấn đã hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại đắp lại, người địa phương cho là thần, làm miếu để thờ gọi là "Tiên Sĩ Vương". Có lẽ là khí tinh anh không nát, cho nên thành thần vậy".
Ngô Sĩ Liên đề cao Sĩ Nhiếp, gọi là Sĩ Vương và tôn Sĩ Nhiếp là ông tổ Nho học Việt Nam.
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn viết:
"Sĩ Nhiếp theo lệnh triều đình Trung Quốc phái sang
làm Thái thú, không từng xưng vương bao giờ, thế mà sử cũ cũng chép riêng thành một kỷ, nay tước bỏ đi, chỉ chép thẳng công việc thời ấy để ghi lấy sự thực..."
    Theo Việt sử lược:
"Nhà làm sử thường cho nước ta (Việt Nam) có văn học là khởi đầu từ Sĩ Nhiếp. Cái ý kiến đó có lẽ không phải. Vì rằng từ khi nhà Hán cai trị đất Giao Chỉ đến đời Sĩ Nhiếp đã được hơn 300 năm, người Giao Chỉ đã có người học hành thi đỗ hiếu liêm, mậu tài. Vậy nói rằng đến ông Sĩ Nhiếp mới có Nho học thì chẳng sai lắm ru. Hoặc giả ông ấy là một người có văn học trong khi làm quan, lo mở mang sự học hành, hay giúp đỡ những kẻ có chữ nghĩa, cho nên về sau mới được cái tiếng làm học tổ ở nước Nam, tưởng như thế thì có thể hợp lẽ hơn".
    Sách Các triều đại Việt Nam của Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng viết:
    Nhìn chung, các triều đại phong kiến Trung Quốc tự xem mình là "Thiên tử" coi dân Việt là "man dợ" nên người Việt dẫu có học hành thông thái cũng không được trọng dụng. Ngoài trường hợp Trương Trọng, mãi đến đời vua Linh Đế (168-189) cuối nhà Đông Hán , mới lại có người Việt, nhờ học giỏi, được cất nhắc làm thái thú quận Giao Chỉ. Lý Tiến dâng sớ xin cho người Giao Chỉ được bổ đi làm quân bất kỳ quận nào, kể cả ở Trung Nguyên. Nhưng vua Hán chỉ cho những người đỗ Mậu Tài hoặc Hiếu Liêm được làm quan trong xứ mà thôi. Lúc đó có người Giao Chỉ tên là Lý Cầm, làm lính túc vệ trong cung, khẩn thiết xin vua Hán bãi lệnh đó. Nói mãi, vua Hán mới cử một người Giao Chỉ đỗ Mậu Tài đi làm quân lệnh ở Hạ Dương và một người đỗ Hiếu Liêm làm quan lệnh ở Lục Hợp. Thực tế đất Âu Lạc từng có những người đỗ Mậu Tài, Hiếu Liêm, làm quan nhà Hán, bác bỏ luận điểm của các nhà sử học Trung Quốc cho rằng đất Giao Chỉ từ khi Sĩ Nhiếp (187-226) sang làm thái thú vǎn hoá mới phát triển, nền giáo dục mới được mở mang là không đúng…
  Lăng mộ Sĩ Nhiếp
    Chúng tôi có vài lần đến thăm Đền thờ & Lăng mộ Sĩ Nhiếp (thôn Tam Á, xã Gia Đông- Thuận Thành- Bắc Ninh).
Cổng đền ghi bốn chữ Nam Giao Học Tổ. Thăm đền thờ kiểu Tàu với những ông tượng khùng khoàng, sắc màu khác lạ, ai cũng cảm thấy rờn rợn. Khu đền cây cổ thụ xanh um, có ngôi mộ Sĩ Nhiếp to đùng. Hơn 1.700 năm, từ thời Tam Quốc (Thục - Nguỵ - Ngô) bên Tàu, đánh lộn, giật cướp, máu xương chồng đống Nồi da xáo thịt tơi bời, thì Sĩ Nhiếp đến nay vẫn được Mồ yên mả đẹp giữa đồng ruộng Thuận Thành- Luy Lâu đất cổ Việt Nam.
Sĩ Nhiếp gốc Tàu. Nhưng ông được chôn nhau cắt rốn đất Việt. Đến Sĩ Huy con trai Sĩ Nhiếp, gia đình Sĩ Nhiếp tám đời an cư đất Việt. 
    Những tập tục và lối sống thuần Việt đã ngấm trong Sĩ Nhiếp. Ông dạy dân cày cấy, khai hoang, lập làng và mở trường dạy chữ Hán đầu tiên. Sĩ Nhiếp có tài nội trị, ngoại giao, không muốn giết người, đã giúp dân Giao Chỉ thoát máu lửa thiêu tàn, trong lúc Tam Quốc giết nhau.
    Sĩ Nhiếp đã xây Luy Lâu thành trụ sở và trung tâm kinh tế, văn hóa, nơi truyền bá kinh Phật đầu tiên ở Giao Châu. Ông xây dựng hệ thống chùa thờ Mẫu Phật Việt tắm tưới vùng lúa nước rộng lớn. Hội Tứ Pháp gồm chùa Dâu thờ Pháp Vân (Thuận Thành- Bắc Ninh)), chùa Đậu, thờ Pháp Vũ (tại Thường Tín- Hà Nội), chùa Tướng (thờ Pháp Lôi), chùa Dàn (thờ Pháp Điện), lấy chùa Dâu làm Trung tâm. Các tăng sĩ Ấn Độ trực tiếp đến Giao Chỉ truyền giáo, được Sĩ Nhiếp chăm sóc.
    Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh. Lang thang Google, tôi đọc Phóng sự Về Tam Á nghiêng mình trước Sĩ Nhiếp (9- 2- 2009- Báo Tiền Phong):
    Tác giả Xuân Ba viết:
    “…Thời Tam Quốc, nước Tàu như một nồi canh sùng sục những Ngô, Thục, Ngụy tranh giành, giằng xé lãnh thổ lẫn quyền lực, nhưng đất Giao Chỉ dưới quyền Sĩ Nhiếp vẫn bình an, phồn thịnh với kinh đô Luy Lâu...
    … Chúng tôi thăm lại, tất nhiên là hầu hết là phế tích quanh thành Luy Lâu những làng đúc đồng, canh cửi, làng chuyên chế ra thứ mực viết, làng tranh Đông Hồ, làng hát cô đầu, những chùa Bình (Sĩ Nhiếp dựng để bình văn) Chùa Định (dựng để định giá cao thấp) những Gò Nghiên Gò Bút...”
    Chúng tôi cũng như ông Xuân Ba, về Tam Á, được nghe dân kể những chuyện Sĩ Nhiếp linh thiêng.
    Con cừu đá nằm trấn giữ trước Lăng Sĩ Nhiếp, do các vị cao tăng xứ sông Hằng chạnh nhớ cố hương và ghi công ơn che chở của Sĩ Vương, tạc nên.
    Năm 1943. Toàn quốc kháng chiến, chấp hành lệnh tiêu thổ, tự vệ làng Tam Á dùng hàng chục đống rơm quấn quanh ngôi đền Sĩ Nhiếp, đốt cả tuần mà đền không cháy.
    Viên quan hai người Pháp chỉ huy bốt Đậu gần chùa Dâu, cho chặt hàng trăm cây cổ thụ quanh Đền Sĩ Nhiếp, đề phòng Việt Minh ẩn núp. Pháp cho quân về đóng đồn trên nền Đền. Không hiểu sao, đêm đến, quân Pháp lăn lóc, miệng nôn, chôn tháo. Trong giấc ngủ mê mệt, họ nghe tiếng ngựa xe rầm rập quanh đền. Hoảng hồn. Phải rút về bốt Đậu.
    Chuyện xa xôi hơn. Quân nước Lâm Ấp (tên cũ của Chiêm Thành) kéo ra cướp phá Luy Lâu. Quật cả mồ Sĩ Vương lên, nhìn thấy ngài khí sắc an nhiên, gần 200 năm dưới mồ vẫn như đang ngủ. Sợ vãi linh hồn. Đành lấp lại, lui binh.
    Sĩ Nhiếp dặn khi chết phải chôn sấp. Nhưng học trò cung kính cứ liệm theo lẽ thường. Đêm đêm từ ngôi mộ, tiếng giảng sách của thầy cứ vang vang. Người Tàu thấy vậy hoảng, chôn thầy sấp lại. 
    Những chuyện linh thiêng như thế. Truyền kỳ đất Việt. Mấy chục ngàn năm nay. Không có gì lạ.
    Con người chết không phải là hết, mà chuyển sang dạng Khí. Người sống Thiện, khi chết, Khí sáng lành bay lên, trợ giúp trần gian. Kẻ sống Ác, chết quằn quại, Khí nặng thấp, quẩn quanh, ma quái. Những người con Việt, Trí, Đức, Dũng, sống cứu dân, cứu nước, chết được dân tôn Thánh Thần, thờ cúng, Khí là hào quang đánh giặc.
    An Nam đô hộ- Phù thủy Cao Biền: “Ôi vượng khí nước Nam, không đời nào hết được”.
    Người Tàu sợ hãi Tâm Linh Việt.
  Hạt Higgs- Hạt của Chúa
     Sự phát hiện hạt Higgs. Sự kiện quan trọng trong lịch sử vật lý các hạt cơ bản (Peter Higgs và François Englert đã nhận giải Nobel Vật lý 2013 vì đã tiên đoán sự tồn tại của hạt Higgs 50 năm về trước).
      Trường Higgs. Mô hình chuẩn và quan niệm của chúng ta về Chúa đã tạo ra vũ trụ như thế nào. Nhìn lên bầu trời đêm, bạn sẽ ý thức rằng tất cả không gian kia tràn đầy những huyền bí của Higgs.
GS Pierre Darriulat người Pháp là người trong cuộc nghiên cứu Hạt Higgs, đã nói trong cuộc gặp gỡ chúng tôi tại Hà Nội: “Lý thuyết của ngày hôm qua, phải từ bỏ nó để theo những lý thuyết mới, vì nó miêu tả thế giới tốt hơn”.

(… Còn tiếp ...)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 06.10.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn