TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





NGUYỄN MỸ NỮ

. Tên thật là Nguyễn - thị - Mỹ - Nữ.
. Bút hiệu: Nguyễn - Mỹ - Nữ, Huyền - Minh, Phương - Quỳnh.
. Sinh ngày 24- 12- 1955
. Tại Lại Xá, Huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam .
. Hiện sống với nghề Viết văn, Viết báo tại Huỳnh-Thúc-Kháng, Qui- Nhơn, Bình- Định

. TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Mắt núi- Tập truyện ngắn- Nhà Xuất Bản Kim Đồng, 2004.


. GIẢI THƯỞNG :

· Giải ba với truyện ngắn: " Bộ bài" của báo Văn nghệ, Hội nhà văn Việt Nam( 1998- 2000)
· Giải nhì với bài: " Chiếc rương của mẹ" (cuộc thi "Nét bút kỷ niệm"của báo Hoa học trò, 2002)
· Giải ba với: " Bài học năm chữ" (cuộc thi "Ơn thầy" của báo Tuổi trẻ, 2002)
· Giải tư với truyện ngắn: " Hàng xóm" của Tạp chí Văn nghệ quân đội(2001- 2002).
· Giải khuyến khích với truyện ngắn: " Khoảng trời nhỏ của ông" (Cuộc thi " Chân dung tuổi mới lớn", báo Mực tím, 2003)
· Giải tư với truyện ngắn: " Nhà khóc dành cho một người" của tạp chí Văn Nghệ quân đội (2005- 2006)
· Và một số giải thưởng khác của Đài tiếng nói Việt Nam, Tạp chí Kiến trúc nhà đẹp, báo Bình Định…










Solitaire tranh của Phi Lộc






YÊU HƠN MỘT QUÊ NHÀ

Gia đình tôi gốc bắc. Sau khi rời quê, chúng tôi đã ở rất nhiều nơi trước khi định cư hẳn tại đây: Bình Định. Để rồi, đã mấy chục năm trôi qua với bao nhiêu biến động, đổi thay trên mảnh đất này. Chúng tôi đã xem Bình Định như thể là quê hương thứ hai của mình vậy.

Nhà tôi hồi trước ở khu Hai và sát ngay bên chợ Xổm. Đó là một khu vực hết sức phức tạp và cuộc sống ở đó càng bừa bãi hơn khi có sự xuất hiện của lính Mỹ. Vốn sẵn nếp nhà lại thêm được bố mẹ uốn nắn, giáo dục hết sức nghiêm túc nên anh chị em chúng tôi, đã không hề bị tác động xấu từ những cảnh sống nhố nhăng ở chung quanh. Tôi luôn nhớ đến những buổi tối bình yên ở gia đình mình, hồi đó: cái đèn dầu được đặt giữa bàn tỏa ra thứ ánh sáng vàng đượm và ấm áp, soi rõ hình ảnh chúng tôi ngồi xúm xít bên nhau, cùng chăm chú học hành dưới sự nhắc nhở ân cần của mẹ – một người phụ nữ không hề biết chữ .

Lúc đó, tôi đang học lớp ba. Tôi và người chị kề cùng học chung một trường: trường Nguyễn Công Trứ. Ngày hai buổi chúng tôi đi – về và phải chứng kiến rất nhiều cảnh tượng thật đáng xấu hổ, chỉ trên một đoạn đường ngắn ngủi với biết bao nhiêu là quán bar, trại lính, vũ trường… Chẳng hạn cảnh trẻ con lẽo đẽo theo sau lính Mỹ nói tiếng bồi xin tiền hay chen lấn, đạp đánh nhau…mỗi khi những chiếc xe quân đội đi qua và những thùng bánh kẹo, chocolate…được quẳng xuống như bố thí. Thầy giáo của tôi hồi đó là thầy Trọng. Thầy rất hiền lành, dễ chịu nhưng hết sức cứng rắn và sẵn sàng trừng phạt thẳng tay, nếu biết được một đứa học trò nào ở trường, nằm trong đội quân hỗn tạp này. Sau gia đình, thầy là người đã dạy cho tôi những bài học giá trị nhất về lòng danh dự, sự tự trọng, tính dân tộc…Người thầy có phong thái rất nghệ sĩ: chạy xe solex đen, mang giày mũi nhọn, dáng gầy, tóc dài..

Khu Hai bây giờ đã đổi thay đến mức khó tin là có thật. Những con đường đổ bê tông phẳng êm thay cho những con hẽm lún cát, ngoằn ngoèo. Nhiều ngôi nhà xập xệ tối tăm ngày trước đã được thay bằng nhà xây, lầu một, tầng hai…khang trang và đường bệ. Tiện nghi ở mỗi nhà không thiếu nhưng vẫn cứ hụt trống một cái gì đó trong ứng xử và phong cách sống của những người dân ngay tại nơi này. Tôi hãy còn những người quen cũ và thi thoảng có dịp về thăm, thấy buồn và lòng chạnh…Giá như đổi thay được cả một nếp nghĩ của mọi người để có thể chuyển biến đến tận gốc rễ những kiểu sống? Ngôi trường tiểu học của chúng tôi đã có một tên mới, từ rất nhiều năm nay. Đôi khi, có dịp đi ngang, thấy tâm hồn chùng thấp…Xúc động lẫn tự hào. Không phải sao! Ở đây đã có những thầy cô hết sức tuyệt vời. Theo nghề bằng tất cả tâm huyết, nhiệt tình, say mê… Những thầy cô như vậy, ngày ấy thật nhiều mà bây giờ sao hiếm? Trăn trở quá là những khát khao bỏng cháy…Làm sao để có được thật nhiều những giáo viên như thầy Trọng, ngày xưa!!!.

Giải phóng Qui Nhơn rồi cả nước, khi tôi đang học ở Sài Gòn. Tôi bỏ trường về nhà, theo một khóa sư phạm cấp tốc rồi đi dạy. Bốn năm ở một vùng vừa núi vừa đồng như Hoài Châu không phải là dài nhưng những gì tôi và bạn bè được tiếp nhận ở đó thì quả thật không phải là ít. Sự khó khổ là những thử thách và chính sự mộc mạc, chân chất…nơi tình cảm, tính cách của những người dân quê đã khiến cho tâm hồn tôi phải lay động, đảo chao. Tôi thấy cuộc sống nhẹ nhàng hơn khi biết bỏ bớt đi sự ích kỷ, hẹp hòi…Khi ít nghĩ – lo cho chính mình, người ta may ra mới có được một chút đỉnh thời gian để mà hướng đến người khác. Tôi đã có được những khi, biết quên đi “cái tôi dễ ghét” để hòa nhập vào cuộc sống chung của cộng đồng với rất nhiều háo hức, khát khao. Ngày ấy tôi vừa vặn tuổi đôi mươi và tương lai hãy còn bao rộng mở…

Quê ba chồng tôi ở Tam Quan mà phía má chồng lại ở Khánh Lộc, Phù Cát. Chạp mã phía ba vào tháng mười một và về nhà từ đường phía má lại phải qua giêng. Những địa danh đã trở thành thiết thân sau gần hai mươi năm vợ chồng chung sống. Cũng ngần ấy thời gian tôi kịp nhận ra quê chồng đã như một phần máu thịt và đời sống của mình. Từ món mắm quê đến những động cát. Từ tiếng nói quê cho đến cây cầu…Rồi những thân dừa cao ngất, bến nước, ruộng vườn, con mương…Ở quê, tôi được kêu theo thứ của chồng. Cái tiếng “ Hai”, “ Hai”…cộc lốc, khốc khô không khác gì miếng bánh táp-lô…Nghe vậy, thấy vậy mà thử được kêu, thử được ăn mới hay…Sao mà thương dữ? Sao đậm đà?…Ba chồng tôi mất sớm và tôi ưa ngồi tròn mắt nghe cô, chú chồng kể chuyện hát bộ, hát kết, kéo xơ dừa…Tôi ngồi ngậm ngùi nghe chuyện xưa và quặn lòng nuối tiếc. Rưng rưng bao hoài niệm những cuối năm ở ngay giữa lòng quê mà quay quắt thay cho những tiếng hô bài chòi hụt hơi dần rồi mất biến. Có phải vì muốn lưu giữ và níu kéo thêm quá khứ…Mà tôi đã chọn Tam Quan làm bối cảnh cho rất nhiều bài viết và dăm cái truyện ngắn của mình. Với Khánh Lộc, xin thêm một lần khất lại. Được chăng?

Không phải tôi không thích sông. Những con sông tôi được biết, đi qua hay sống cùng, như: Trà Khúc, sông Ba, Sông Côn vẫn trào dâng trong tôi bao nỗi nhớ. Sông dềnh lên trong tâm tưởng mình bao kỷ niệm. Sông hai bờ dặc dài thơm ngái mùi đất ải, cỏ mùn…Sông khi hiền, lúc dữ…Mùa hanh hao an lành, mùa bão lũ khiếp kinh…Sông là thế và chỉ thế ở trong tôi. Chỉ để thích chứ không phải yêu. Yêu như là tôi yêu biển. Tôi chưa hình dung nổi một Qui Nhơn không biển và muốn thốt lên rất nhiều lần lời cám ơn nơi này: – một thành phố có biển –. Biển đã đi qua đời tôi với từng dấu mốc tháng năm đầy trầm – thăng, biến ảo: biển thủa con gái, hồi làm đàn bà, biển hồi nữ sinh, biển khi làm cô giáo, biển lúc đi bỏ mối hàng, biển khi là một người viết…Biển là thế và luôn thế nhưng mỗi thời, mỗi công việc cho tôi cái nhìn rất khác nhau về biển. Để gần gụi và thiết thân thêm…Biển, khi hạnh phúc. Biển, khi khổ đau. Biển, khi tôi vui, lúc tôi buồn. Biển, khi tôi may mắn. Biển, lúc tôi gặp hoạn nạn, tai ương. Biển để yêu thương và chia sẻ…Khi ra biển và đứng lặng người trước khơi xa, lòng tôi như mềm lại. Những ý nghĩ bỗng hiền hòa…Khi để cho đôi chân trần dẫm lên cát ẩm, bước chậm rãi dọc theo mép nước mặc cho từng lớp sóng mơn man. Tâm hồn tôi bỗng khoáng đạt…Thảnh thơi và thanh thản đến không ngờ. Nhưng hẳn tôi và rất nhiều dân ở đây sẽ hài lòng hơn với biển ngày xưa. Biển khi còn có bãi bởi biển chưa bị một con đường cắt chia. Con đường nào làm đẹp phố nhà?. Con đường nào nối kết những bờ xa?. Những con đường mở ngõ cho tâm hồn đi tới và bay cao nhưng con đường làm co chật bờ bãi thì lại kìm giữ những ước mơ con người, có phải ???

Tôi không hiểu mình sẽ như thế nào nếu không được sống ở đây. Có thể tôi sẽ giàu có? Có thể tôi sẽ thành công? Có thể tôi sẽ có một ông chồng không là người Bình Định. Không được về Tam Quan. Không còn ra Khánh Lộc. Không biết nói cái thứ tiếng lai lai với những ngữ điệu bắc trong những câu từ miền trung. Hay hay, là lạ… Không được ăn con cá tươi xanh nấu ngót. Không được ăn bánh hỏi, bành bèo… Không viết văn, viết báo. Không đi dẫn chương trình. Không đi lễ nhà thờ Lớn vào chủ nhật. Không ngang bờ hồ mỗi ngày…Không, không và không. Và cái không lớn nhất là không còn một quê nhà thứ hai để mình được nhập vào đó một cách trọn vẹn. Được hòa trong đó một cách thiết tha. Được thương đến tận tụy và được sống đến tận lòng…Không phải sao! Tôi đã yêu Bình Định hơn là tôi có thể tưởng. Không phải sao những trang viết của tôi, những truyện ngắn…của tôi đẫm gắt nơi này: một cơn gió, dăm ba tiếng nói, một con người, những ngã đường, phiên chợ quê, những chùm lá sớm mai, tiếng hô bài chòi khi khuya khoắc, biển cùng sông, cỏ hoa và mùa màng… Không phải sao! Tôi đã chọn nơi này để ở lại, dù có lắm khi vì nguyên cớ này hay vì lý do nọ đã ước ao vô cùng có thể dứt áo để ra đi.

Bà nội rồi bố mẹ tôi đều nằm xuống ở đây. Ở Bình Định. Và hẳn là tôi nữa, sau này…Tôi đã rất hạnh phúc được chọn nơi này để sống. Sống rất thật lòng như những tháng năm đã sống. Và hạnh phúc nữa, khi được chọn nơi này để viết. Viết rất đắm say như những gì đã viết hồi giờ. Từ nơi này. Phải đó!. Chính tự nơi này chứ không phải một nơi nào khác. Từ Bình Định của tôi./.



NGUYỄN MỸ NỮ


© Tác Giả Giữ Bản Quyền.





TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC