Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Cây Đèn Kỷ Niệm





Vào một ngày cuối thu năm 1988. Bầu trời ngả xám. Những đám mây trắng, bàng bạc lững lờ trôi, gió hanh đã có lúc đưa sương sớm phủ trắng trên đường phố.

Tôi về hưu đã hơn một năm. Ngay trở về nếp nhà xưa, hàng ngày cặm cụi làm các công việc nội trợ, sắp xếp tủ sách, tài liệu. Bạn bè cũng vắng dần.
Nhưng không ngờ, cái ngày cuối thu 1988 đó, lại có một người tìm đến với tôi, gợi lại trong lòng tôi niềm tự hào về một thời gian đã qua.
Tiếng trẻ con nheo nhéo ngoài ngõ “Nhà chú ấy đây ạ”. Một thiếu phụ đứng tuổi và anh thanh niên trạc tuổi 20, 21 ra vẻ một sinh viên, cùng bước vào.
- Chào bác.
- Cháu chào bác.
Cả 2 tiếng chào cất lên, làm tôi lúng túng: người đàn bà và anh con trai này đối với tôi hoàn toàn xa lạ. Có việc gì mà họ đến đây? Rắc rối gì ngày xưa nhỉ? Trước vẻ ngỡ ngàng của tôi, thiếu phụ bỗng cầm tay tôi nghẹn ngào.
- Bác ơi – Em là vợ anh Hà ngày xưa trọ nhờ nhà bác. Còn đây là cháu Nghĩa, bác có nhớ ra chúng em không?
Từ đôi mắt chị bỗng lăn ra những giọt lệ, khuân mặt già trước tuổi gò má sạm đen, gầy gò những nếp nhăn chạy theo đuôi mắt, làm cho bộ mặt ấy trở nên vừa nghiêm nghị, vừa lẻ loi cô đơn. Tôi chợt nhớ ra, kêu lên:
- Chị là vợ liệt sĩ Hà đấy ư?
Rồi một quãng đời, hơn 20 năm về trước, chập chờn hiện ra trong trí nhớ.
Tháng 5 năm 1967, Mỹ đưa hạm đội 6 vào vịnh Bắc bộ mở chiến dịch không kích “ Sấm rền” đánh phá Hà Nội. Tôi ở trung đội tự về trực chiến, của Xưởng phim Thời sự - Tài liệu, lúc này tôi đang tuổi thanh niên, đã lập gia đình và có cháu nhỏ. Nghề nghiệp buộc chúng tôi phải bám máy, vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Những ngày này anh em trong ngành điện ảnh mỗi người đều có một nhiệm vụ, đóng góp vào kháng chiến. Các anh ở tổ quay phim thì tỏa về các trận địa trọng điểm, để quay kỳ được cảnh quân dân ta đánh máy bay Mỹ. Báo chí phản động nước ngoài đưa luận điệu: Việt Nam không bắn rơi được máy bay siêu âm của Mỹ, những hình ảnh trên báo trí và điện ảnh của Liên Xô cho tư liệu đại chiến thế giới thứ hai. Bởi vậy, Ban biên tập đã có chỉ thị cho các phóng viên là phải quay được cảnh máy bay Mỹ rơi trên bầu trời và mặt đất Việt Nam, có con người Việt Nam cụ thể. Còn chúng tôi, những kỹ thuật viên thì phải đêm ngày trực máy để in tráng, thu thanh cung cấp những thông tin kịp thời cho quần chúng. Mỗi lần có báo động, trung đội trực chiến lại trở về vị trí, dùng súng bộ binh bắn trả máy bay Mỹ, bảo vệ cơ sở. Trận đánh ngày 19/ 5/ 1967, Lò Minh, phóng viên quay phim đứng trên nóc nhà 72 Hoàng Hoa thám đã quay được toàn cảnh máy bay A3J rơi xuống phố Lê Trực. Đó là những thước phim quý giá nhất làm tan vỡ luận điệu huyền hoặc về sức mạnh không thể tưởng tượng nổi của không lực Hoa Kỳ. Trận này, tôi – anh Lại – Chị Nga và mấy cán bộ đơn vị ở trên nóc nhà 122 Hoàng Hoa Thám, chúng tôi cũng đã bắn trọn cả 14 viên đại liên vào chiếc máy bay nói trên khi nó hạ thấp độ cao là là theo trục đường Hoàng Hoa Thám để tránh đạn cao xạ. Chưa biết là ai đã lập công! Rất tiếc rằng 60 mét phim của anh Khang, khi quay tại trận địa, do vội vã nên anh đã không mở nắp ống kính!.
Sau trận đánh, được tin Chùa Am ở 29 Cửa Bắc đã bị trúng bom, tôi sững người vội vã đến thăm. Chùa Am: Đó là nơi tôi đã nương náu tuổi thơ những năm 1952 – 1954. Hồi đó tôi thi đỗ vào Trung học Chu Văn An nhưng nhà quá nghèo, phải nhờ 2 vị sư là cụ Thanh Hoàn và cụ Đàm Tiệm nuôi cho ăn học. Chùa Am đã có một phần đời tôi gửi gắm. Nay bồi hồi đi trên đống gạch và tượng Phật vỡ vụn, tuy không có ai việc gì, nhưng tất cả đã bị phá hủy. Giữa đống đổ nát đó, tôi bới lên một cây đèn nhỏ bằng sứ vẽ hoa. Đó là cây đèn vẫn đặt trên ban thờ Tổ, nơi chiều chiều khi lên đài thắp hương, tôi thường lấy lửa tại đó. Cũng chẳng hiểu có sự kỳ diệu nào mà cây đèn còn nguyên phần thân, chỉ bị sứt nơi chân đế. Ấp cây đèn vào lòng tôi mang về hàn gắn lại, kính cẩn đặt tại nhà. Coi như một kỷ vật của Chùa, ghi nhớ một tội ác của Mỹ.
Năm 1968 những trận đánh của máy bay Mỹ vào Hà Nội ngày càng ác liệt. Cả vùng Bưởi đi sơ tán. Vợ tôi và các cháu đi theo cơ sở về nơi sơ tán. Căn nhà trống vắng, vắng lặng đến nỗi có thể nghe được tiếng động, tiếng người nói từ cuối làng.
Những đơn vị cao xạ pháo về bảo vệ Hà Nội ngày một đông hơn. Từng đoàn xe kéo pháo chạy qua đường Thụy Khuê vào nội thành. Các chiến sĩ ngồi trên mâm pháo, mũ sắt kéo dây quai thít chặt lấy khuân mặt mệt mỏi mất ngủ và căng thẳng. Họ đi qua chúng tôi mà như tự sâu thẳm của tâm hồn, tôi cảm thấy có những điều vừa anh hùng, vừa bi tráng. Ngày đó cứ chiều chiều, sau giờ làm ai về nhà nấy, vội vàng nấu cơm độn mỳ sợi, bó rau muống luộc chấm nước mắm là bình thường. Ăn cá, thịt phải có tem phiếu, đúng kỳ mới mua được. Nhưng mọi người đều bình thản chấp nhận, sau bữa ăn nếu rảnh rỗi thì ngồi chuyện vãn cho qua những phút giây đợi chờ căng thẳng. Bởi không biết giờ phút nào khu vực mình sẽ bị đánh bom, không biết bạn bè ruột thịt quanh ta sau một trận bom ai còn ai mất. Mọi người đều lo chiến đấu, mọi gia đình sẻ chia, nên cái tình người đối với nhau đằm thắm lắm. Ai cũng sẵn sàng giúp đỡ nhau không tiếc một điều gì cả, họ đều khiêm nghường coi đây là điều nhỏ nhặt so với những hy sinh của chiến sĩ nơi chiến trường.
Dạo ấy ở Gò Quán Cây cạnh làng tôi có đặt sở chỉ huy của một đơn vị phòng không. Chẳng biết phiên hiệu của đơn vị ấy là gì, nhưng đó là đơn vị kỹ thuật. Lỉnh kỉnh những xe máy, ăng ten, rađa quay liên tục. Các chiến sĩ lúc nào cũng ở tình huống báo động không một ai được phép dời đơn vị trừ vài cán bộ làm công tác nuôi quân, công tác dân vận.
Đơn vị này có một cán bộ làm công tác dân vận là trung úy Thẩn.
Chẳng hiểu bằng cách nào, anh đã quen biết mẹ vợ tôi, gọi bà là mẹ và bà chăm sóc cho anh cũng như con trong nhà thân thiết lắm! Hầu như nhiều chuyện vui buồn khó khăn của đơn vị, anh đều kể với bà... Có những buổi tối, từ cơ quan về nhà, tôi sang thăm mẹ. Bà cụ ngồi bên giường, chơi với đứa cháu nội, cái khăn vuông cố hữu chít trên đầu, bà mặc áo trắng đã ngả màu, ăn trầu thuốc đến mức môi cắn chỉ. Bà nói với tôi.
- Bao giờ thì hòa bình hả con? Khổ cho chúng nó quá. Sống chết lúc nào không biết. Mà đứa nào cũng trẻ cả vợ con chưa có. Chẳng biết làm gì để giúp đỡ chúng được.
- Mẹ nói ai thế.
- À, tao nói về các anh ở Quán Cây, ở đơn vị anh Thẩn mày ( lạ quá, mẹ tôi cứ coi Thẩn như là anh tôi không bằng ) chúng nó bảo: người pháo thủ còn được nhìn thẳng vòa máy bay mà bắn trả chứ chúng nó ngồi trong buồng máy có biết nó đánh mình cũng đành chịu, vì còn phải bám mục tiêu dẫn đường cho các đơn vị khác, mẹ tính rồi, mẹ sẽ rủ mấy bà nữa cùng đến thăm xem nó cần gì không?
Mẹ vợ tôi nói thế mà rồi bà làm được. Bà vận động mọi người mang đến trận địa giẻ lau súng, nước chè, lá ngụy trang. Những lần các mẹ đến thăm thật vừa cảm động, vừa thân tình. Anh em bộ đội quý các mẹ như mẹ đẻ của mình. Thời gian này địch thường rình rập lao vào đánh phá Hà Nội. Rađa phải phát sóng liên tục, mà bọn F4 chỉ rình phóng tên lửa theo sóng rađa để đánh vào Sở Chỉ Huy. Đơn vị mỗi người mỗi việc, không có thời gian rảnh rỗi để tiếp, hơn nữa lại khó bảo vệ an toàn cho các mẹ. Đơn vị chỉ lo khi các mẹ đến, vì quá thương bộ đội nên các mẹ nấn ná ở lâu để xem “mấy đứa thiếu thốn ra sao, để mẹ giúp cho”. Điều này làm cho đơn vị thật khó xử.
Những lúc như thế, anh Thẩn năn nỉ:
- Mẹ ơi, nơi trận địa của chúng con bận rộn lắm. Các mẹ đừng đến, bom đạn nhiều, nhỡ ra có điều gì chúng con ân hận lắm.
- Chúng mày đuổi mẹ đấy à. Thương bộ đội thì tao đến, chứ sợ gì tàu bay, tàu bò! Anh Thẩn đành im nhưng trong lòng bối rối...!
Có một buổi chiều đi làm về, mẹ vợ tôi bảo:
- Anh Thẩn vừa qua đây, nhờ mẹ tôi một điều. Mẹ tính chỉ có nói với anh mới được. Đơn vị anh Thẩn có một cô ra thăm chồng. Vợ chồng nó lấy nhau đã lâu, chẳng được gần nhau ngày nào. Nay nghe tin Mỹ đánh phá Hà Nội, cô ấy nóng ruột đến thăm. Các anh ở đơn vị cũng thông cảm, muốn tạo cho họ cơ hội gần nhau, nhưng tại cơ quan chỉ huy không có buồng riêng, người chồng cũng không được phép đi xa trận địa quá một cây số. Thế cho nên anh Thẩn mới nhờ mẹ, nói với mày giúp vợ chồng nó gặp nhau, may ra có được đứa con là phúc lắm anh ạ.
Những chiến sĩ phòng không năm đó khổ như vậy đấy. Báo chí nêu gương biết bao anh hùng, liệt sĩ nhưng đã ai nói đến điều ước thầm kín của họ. Nhiều đôi lứa, cưới nhau xong, chồng đi chiến đấu, biền biệt tin tức. Chị vợ ở nhà với nỗi niềm cô đơn, khắc khoải: Giá mà anh ấy về, giá mà mình có đứa con – giọt máu của chồng để lại thì dù xa vắng thế nào cũng cam. Vì thế, chuyện vợ chồng người bộ đội từ Hà Bắc ra Hà Nội thăm chồng đâu phải là hiếm có. Cuộc chiến tranh tàn khốc đã làm cho nhiều phụ nữ trẻ trở thành góa bụa, bản thân tôi tham gia chiến đấu chắc gì tránh khỏi thương vong, may mà tôi đã có con! Những ý nghĩ lướt nhanh, tôi không nói với mẹ:
- Vợ con đi sơ tán theo cơ quan rồi. Căn buồng của con dành cho cô chú ấy. Mẹ bảo anh Thẩn bố trí thời gian cho vợ chồng ấy gặp nhau được lâu, được êm ấm hạnh phúc mẹ ạ.
- Thế anh không sợ hàng xóm dị nghị, khồng kiêng kỵ gì hả.
- Dạ, có điều gì mà phải kiêng kỵ. Hàng xóm họ phải hiểu chứ, lúc này cả nước vì tiền tuyến, ai nói gì con sẽ trả lời. Nhà của con, con có quyền cho ai ở nhà, ngủ nhờ. Tối nay con đi trực ở cơ quan.
Tôi về nhà, giũ giường chiếu, đặt đôi gối, cẩn thận che lại cửa sổ, rót đầy dầu vào cây đèn sứ, để sẵn mọi thứ, cố gắng sao cho đôi vợ chồng không cảm thấy lạ lùng, e ngại, mà thoải mái như ở nhà mình.
Suốt đêm đó, ở với tổ trực chiến xí nghiệp, tôi thầm mong từng phút đêm nay sẽ yên lành, để đôi vợ chồng người lính ấy có đủ thời gian thương yêu nhau.
Đêm qua đi trong chập chờn lo sợ của tôi. Tôi không sợ phải chiến đấu mà chỉ e ngại tiếng kẻng báo động sẽ làm tan vỡ cuộc sum họp của đôi vợ chồng nọ. Gần sáng, lại có đoàn xe ầm ầm chạy qua, với đầy đủ khí tài của một cơ quan chỉ huy.
Tôi trở về nhà, cánh cửa buồng được khép lại cẩn thận, chăn màn để gọn như chưa hề có người đụng đến. Tôi giật mình, chẳng lẽ đêm qua họ không đến đây? Chẳng lẽ anh bộ đội nào đó đến phút chót lại có nhiệm vụ mới, không được ra gặp vợ?
Khi mở cửa sổ, ánh sáng chan hòa tràn vào buồng. Tôi mới phát hiện một lá thư để trên mặt bàn.
Thư viết:
Kính gửi: Anh
Cảm ơn anh đã tạo điều kiện cho vợ chồng em xum họp, có lẽ từ ngày cưới nhau, đêm nay chúng em mới thật là yêu nhau. Anh ạ, nhiều bạn gái của em cơ cực lắm, các chị ấy chẳng biết được tin chồng để mà đến thăm nhau. Chỉ có em là hạnh phúc nhất đấy! Em được biết “nhà em” đóng quân ở Hà Nội, nên đã mạnh dạn đến đây sum họp với nhau. Anh Thẩn bảo ban chỉ huy cho em nghỉ hẳn một ca trực. Một đêm nằm là một năm ở, bốn giờ sáng đơn vị chồng em đã di chuyển em cũng vội về quê, không chờ để gặp anh nói lời cảm ơn. Đêm nay, cây đèn này chứng kiến những vui buồn của vợ chồng em, em xin phép giữ cây đèn. Mai sau, nhờ trời phù hộ, em có con, cháu sẽ mang cây đèn tìm về tạ ơn bác.
Vợ chồng em kính thư.
Khi Mỹ ném bom hạn chế ở khu 4 thì đơn vị anh Thẩn đã vào trong đó. Tôi không được biết thêm gì, cho đến một hôm, anh Thẩn ra Hà Nội rẽ qua thăm mẹ tôi. Mới xa cách có mấy tháng mà trông anh đen sạm. Anh cho biết đơn vị anh chiến đấu nhiều trận ở khu 4, chiến thắng cũng có mà tổn thất cũng có. Anh kể có một trận đơn vị đang dẫn đường cho tên lửa ta đuổi đánh máy bay Mỹ thì bị một quả Sơraicơ phóng từ hướng khác vào. Cắt sóng để bảo vệ Sở chỉ huy thì quả tên lửa SAM sẽ đâm đầu xuống đất gây thương vong cho dân, nên cả kíp trắc thủ đã quyết tâm đưa tên lửa bay lên đánh máy bay. Cùng lúc đó, quả Sơraicơ đánh trúng xe khí tài, kíp trắc thủ hy sinh. Trong đó có đồng chí Hà, người chiến sĩ gặp vợ tại nhà tôi ngày đêm ấy.
Mẹ tôi lặng người đi và nắm tay Thẩn:
- Thế anh ấy có con không?
- Dạ, anh Hà mới nhận được thư vợ báo tin chị ấy đã có thai mẹ ạ.
- Thế thì phúc quá. Lạy trời cho mẹ con nhà nó mẹ tròn con vuông. Này, chúng mày đừng báo tin vội, có thai mà đau đớn vật vã là hại lắm đấy. Hãy để nó sinh nở xong rồi hãy báo tin.
Tôi và Thẩn không ngờ mẹ tôi làm công tác tư tưởng giỏi đến thế. Hằng ngày bà hiền lành ít nói, chỉ quanh quẩn chăm nom con, cháu, ấy thế mà trong những này khói lửa ác liệt này mẹ đã suy nghĩ, từng bước tạo dựng hạnh phúc cho mọi gia đình.
Năm 1972, mẹ tôi mắc bệnh qua đời, chưa kịp mừng ngày hòa bình như cụ hằng mong đợi.
Hơn 20 năm đã qua. Hôm nay mẹ con chị Hà đến thăm tôi. Chị cho biết:
- Mãi năm 1975, sau chiến thắng hoàn toàn giải phóng Miền Nam, chị mới biết được tin anh Hà hy sinh. Lúc này cháu nghĩa đã 7 tuổi, mẹ con chị dùng chiếc đèn con ấy để học tập trong nhiều năm. Bây giờ, Nghĩa đã tốt nghiệp cấp 3 và thi đỗ vào đại học. Hôm nay chị đưa con tới nhập trường, dẫn con tới thăm lại nơi ân nghĩa ngày xưa.
Chị nói:
- Em rất mừng là đã được gặp bác. Mẹ con em định bụng sang thăm bà và bác để cảm ơn tái sinh. Nếu không có bà, có bác, vợ chồng em chưa chắc được gần nhau để có cháu Nghĩa, bố cháu hy sinh, để lại giọt máu này. Nay cháu nên người thế là em đã hạnh phúc lắm. Em cũng xin kính gửi lại bác cây đèn kỷ niệm ngày xưa. Hai chục năm qua, cây đèn đã luôn ở bên em, là nguồn động viên em vượt qua mọi khó khăn. Nay em xin hoàn về chủ cũ như ngày nào vợ chồng em đã hứa.
Chị đặt cây đèn trên bàn thờ, lấy nải quả bày lên, tôi giúp chị thắp mấy nén hương. Mẹ con chị chắp tay lâm râm khấn. Làn khói trầm tỏa nhẹ, phút giây thiêng liêng đó, tôi thấy như mẹ tôi đã về. Bà cụ mỉm cười hài lòng, tay xua xua bảo: có gì đâu con ơi. Việc thường thôi, ở đời này ai mà chẳng làm.
Mẹ con chị Hà đi rồi, và từ đó, một chân lý cuộc đời đã soi rọi, làm tôi thêm yêu đời hơn. Đó là hãy hết lòng vì mọi người, thương yêu mọi người thì mầm thiện đó còn mãi mãi.
 

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 05.10.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn