Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



BÚT KÍ SPEYER





H ôm nay là một trong những ngày cuối cùng tôi học ở thành phố Mannheim, thuộc bang Baden Wueternberg Tây Đức. Cảm giác sắp chia tay một cái gì đó bao giờ cũng làm cho chúng ta cảm thấy ngậm ngùi. Trong tiếng Đức, để nói tạm biệt, người ta không nói “goodbye” mà chỉ nói là “Aufwiedersehen” có nghĩa là “hẹn gặp lại”. Điều đó với tôi thật là ý nghĩa, vì “hẹn gặp lại” có nghĩa là không xa mãi mãi, có nghĩa là vẫn hẹn nhau tái ngộ một ngày nào đó trong tương lai (không kiếp này thì có lẽ cũng kiếp sau?). Phải có duyên lắm thì mới gặp nhau, thế mà tôi đã “gặp” được các thành phố ở bang Baden Wuerternberg này những hai lần. Lần trước thì cách đây cũng đã 8 năm, và lần này là lần thứ hai. Mà lại rất tình cờ. Suýt nữa DAAD (Cơ quan trao đổi hàn lâm Đức) đã gửi tôi sang học ở thành phố Hamburg, họ đã gửi giấy mời đàng hoàng, tôi cũng đã mang giấy mời này đi phỏng vấn ở lãnh sự quán, đùng một phát vào giây phút cuối, họ thay đổi quyết định, gửi lại giấy mời khác cho tôi sang  thành phố Mannheim. Từ Mannheim này, vào những buổi cuối tuần rảnh rỗi, tôi và bạn bè lại có dịp thăm thú, khám phá những thành phố khác xung quanh. Và những ngày cuối cùng này, DAAD đã đưa chúng tôi đi thăm thành phố Speyer – một thành phố thuộc bang khác, bang Rheinland-Pfalz của nước Đức.

    Thành phố Speyer nằm về phía nam của Mannheim cách khoảng 20 km và về phía bắc của Karlsruhe cách khoảng 34 km. Vào năm thứ 10 trước công nguyên, người La Mã đã lập một doanh trại quân sự cho khoảng 500 người tại đây, đặt nền móng thúc đẩy cho việc thành lập thành phố sau này. Thành phố Speyer có lịch sử khoảng 2000 năm và nổi tiếng với nhà thờ lớn Speyer (Kaiser-und Mariendom) – một di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận từ năm 1981, là công trình kiến trúc Rôman (Romanesque) lớn nhất thế giới. Tôi đã đi thăm khá nhiều nhà thờ có kiến trúc Gothic điển hình nổi tiếng, như nhà thờ Đức Bà Strassburg ở Đông Bắc nước Pháp (được coi là một trong những kì quan thứ 8 của thế giới), hay nhà thờ lớn ở Cologne (Koeln), Tây Đức...- những nhà thờ tuyệt đẹp được xây dựng từ thời trung cổ, hoàn toàn bằng sức người khi chưa có chưa có cần cẩu, máy móc, thế mà lại cao vút và được miêu tả như những "kỳ công khổng lồ và tinh tế" (Victo-Hugo), nhưng lần này, tôi vẫn rất ngạc nhiên và lấy làm thú vị trước nhà thờ chính ở Speyer, vì nó theo kiến trúc Roman – một kiểu kiến trúc chịu ảnh hưởng của kiến trúc La mã cổ đại chứ không phải theo kiến trúc Gothic hoặc Baroc như nhiều nhà thờ khác, mà lại là công trình kiến trúc Roman lớn nhất thế giới. Một điều đặc biệt nữa là trong nhà thờ này, có hầm mộ chon các vua, hoàng hậu và công chúa của vùng Bayern thời trung cổ.
    Nhà thờ chính của thành phố Speyer được xây dựng năm 1030 bởi vua Konrad II – người đầu tiên của dòng họ Seiler bước lên ngai vàng của Thánh Chế La Mã. Nhìn mặt trước phía bên ngoài, nó rất khác biệt so với các nhà thờ khác vì đường nét khối vuông vắn cứng cáp với bề mặt cảm giác như “đúc liền một khối kiên cố”, hoa văn chìm kẻ ngang trên bề mặt phẳng lì tưởng như đúc liền đó, và có rất ít cửa sổ, không hề có kiểu nhiều mái vòm hẹp cao nhọn tầng tầng lớp lớp như nhà thờ kiểu Gothic. Phía trước cửa nhà thờ, có một quảng trường rộng với những tòa nhà cổ kính rất đẹp với nổi bật là tòa nhà Sophie-La-Roche-Haus. Cũng ngay trước nhà thờ, có một cái ang lớn hay nói chính xác hơn là một cái bát đá lớn ngày xưa dùng để chứa rượu vào những dịp lễ lớn, có thể chứa đến 1500 lít rượu. Thời điểm đó, có sự phân tranh lớn giữa các hoàng đế cát cứ và các giáo hoàng, bát đá này còn được coi là ranh giới giữa thành phố Speyer và địa phận của giám mục, nếu phạm nhân nào trốn qua được cái bát đá này để vào địa phận của giám mục thì sẽ không thể xử tội được nữa. Giám mục nào mới về nhậm chức cũng đổ đầy rượu vang vào bát đá này để chiêu đãi nhân dân trong thành phố. Bước vào bên trong nhà thờ, ở khu vực trung gian trước khi bước qua cánh cửa sắt để vào khu vực làm lễ, tôi thấy có 3 sảnh (một sảnh giữa cũng là lối đi vào ngay trước tấm cổng sắt và 2 sảnh 2 bên trái, phải của sảnh giữa này)  với các cột kèo, nóc vòm rất đặc trưng phong cách kiến trúc Roman. Đặc biệt là 2 sảnh hai bên có hai bức tượng to rất đẹp và sinh động. Tượng bên sảnh phải là tượng vua Rudolf Von Habsburg, còn gọi là vua Luwig I – vua cát cứ vùng Bayern, tôi biết được nhờ đọc các dòng chữ tiếng Đức dưới tượng, kết hợp hỏi một bà già người Đức tốt bụng. Tượng sảnh là tượng giống như tượng một chiến binh La Mã, lại toàn ghi chữ La-tinh nên tôi không biết là ai, tôi hỏi rất nhiều người Đức xung quanh nhưng họ đều không biết, lát sau có một cặp vợ chồng già người Đức bảo rằng đó là tượng của hoàng tử, còn các tượng được điêu khắc trên vách tường là tượng của các vị vua thời trung cổ của xứ này. Tôi thấy có điểm khác biệt, là các nhà thờ Gothic thì thường điêu khắc tượng các vị thánh trên vách, còn nhà thờ kiểu Roman này lại điêu khắc tượng các vị vua. Các chữ ở đây phần lớn là chữ La-tinh. Bước qua tấm cổng sắt chính, bên trong khu vực làm lễ, kiến trúc cũng gồm 3 sảnh như mọi nhà thờ khác với sảnh chính giữa lớn nhất và 2 sảnh 2 bên trái, phải. Chỉ có điều các cửa sổ không hẹp cao vút lên như ở những nhà thờ Gothic mà đường nét rộng rãi tròn trĩnh hơn, và không có tranh kính màu. Chỉ có những bức tranh tôn giáo nằm dọc trên cao hai vách tường. Đi sâu vào trong, bước lên bậc thang để quan sát khu vực nghi lễ, bạn sẽ thấy vòm mái chợt cao vút lên với 8 cạnh bát giác rất đẹp, phóng khoáng. Kiến trúc bên trong nhìn chung là khoáng đạt, đơn giản nhưng khỏe khoắn, hài hòa, màu sắc sáng nhã và đường nét thì chuộng những mảng miếng to bản vững chãi. Điều đặc biệt là các nhà thờ Roman và các tín đồ tôn giáo thời kì đầu hay có xu hướng sùng bái các xương, cốt của các vị thánh, vị vua. Tôi thấy ở nhà thờ này có gian trưng bày một khúc xương của vua Paul Joseph Nardini (1821 – 1862) được trang trí công phu với cườm, hoa…và đặt trong hộp vàng lồng khung kính rất đẹp.
    Tuy nhiên, khu vực đặc biệt nhất của đại nhà thờ này lại phải nói đến khu vực hầm mộ, nằm sâu dưới tầng hầm của nhà thờ. Khu vực hầm mộ được gọi là Krypta (tiếng Anh là crypt) xuất phát từ chữ Hi Lạp “kryptein” có nghĩa là “cái gì đó được ẩn giấu”. Bạn có thể mua vé (giá 3 Euro) để được đi xuống bậc thang vào khu vực hầm mộ và được nhận tờ giới thiệu in bằng tiếng Anh hoặc tiếng Đức... Như đã nói, những người thiên chúa giáo thời kì đầu rất sùng bái xương cốt của các vị thánh/ các vị vua, họ có xu hướng xây nhà thờ trên nền đất có mộ của các vị này vì tin rằng như vậy nó sẽ gần với sự thiêng liêng hơn, ví dụ nhà thờ St. Peter ở Roma được xây dựng bên trên ngôi mộ của thánh Apostle Peter. Khu vực hầm mộ này rất lớn. Nếu nhìn mặt cắt chu vi của khu hầm mộ này trên bản đồ hướng dẫn, ta có thể thấy nó trông giống như hình một cây thánh giá với đầu thánh giá được bo tròn. Phần gốc thánh giá thì nhỏ, trần thấp, kì bí, thiêng liêng, chính là phần trung tâm chứa mộ các vị vua, hoàng hậu, công chúa. Các phần còn lại đều rộng rãi, trần cao (nhưng đều nằm ngầm dưới mặt đất) là nơi đặt các bàn thờ. Khu vực hầm mộ này đã không bị phát hiện trong hàng nhiều thập kỉ, mãi cho đến tận đầu thế kỉ 20, người ta mới tìm ra và khai quật trở lại. Đi lướt qua các khu vực đặt bàn thờ, bạn sẽ đến cửa đi vào phần hầm mộ với tượng của vua Rudolf Von Habsburg cầm quyền trượng, đứng nghiêm nghị trên lưng con sư tử, tượng trưng cho quyền lực của ngài. Hai bên vách tường là tượng của tất cả 8 vị vua. Sau đó, bạn có thể đi lên một trong hai lối bậc thang nhỏ hẹp 2 bên để lên phần chính của hầm mộ. Ở phần chính này, bạn sẽ thấy trung tâm hầm mộ (mà ở thời trung cổ, nó đã được xây dựng ở phần cuối cùng của gian giữa). Hai bên phải, trái của vách tường có thể nhìn thấy được một phần của 2 cái cột rất lớn, chống đỡ cho khu vực trung tâm này.Trong một khuôn viên nhỏ gồm 10 ngôi mộ, chia làm hai hàng mỗi hàng 5 mộ, nằm liền kề gần nhau vuông vắn, được làm hàng rào thép bảo vệ để giữ khoảng cách với khách du lịch, ở hàng phía sau, nằm chính giữa, đó chính là mộ của vua Konrad II (mất năm 1039), có 3 thanh thép lớn đè lên mộ ông nhằm bảo vệ chống lại sự xâm phạm, bên tay trái của ông lần lượt là mộ vua Heinrichs II (mất năm 1056), vua Heinrichs IV (mất năm 1106). Cũng ở hàng phía sau này, nằm bên phải mộ vua Konrad II là vợ ông – hoàng hậu Gisela (mất năm 1043), cạnh bà ấy, hơi thấp hơn một chút là mộ của vợ đầu vua Heinrichs IV – hoàng hậu Bertha (mất năm 1087). Ở hàng mộ phía trước, từ phải qua trái lần lượt là mộ của bốn vị vua, một vị hoàng hậu, và một công chúa. Đó là vua Philipp Von Schwaben (mất năm 1208), hoàng hậu Beatriz (mất năm 1184) - là vợ vua Frederick Barbarossa, bà được chôn chung cùng một mộ với con gái là công chúa Agnes (cũng mất 1184), tôi trộm đoán có lẽ hoàng hậu này đã mất khi sinh công chúa? Cạnh mộ hoàng hậu Beatrix cùng công chúa là ngôi mộ được xây dựng trước dành cho chồng bà là vua Frederick Barbarossa, tuy nhiên, vị vua này lại bị chết đuối ở vùng Asia Minor (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay) nên đã được an táng tại đó. Do đó, mộ này lại được sử dụng để chon vua Rudolf Von Habsburg  (mất năm 1291), và nằm cạnh ngài là người con trai bị ám sát của ngài – hoàng tử Albert Von Oesterreich. Cuối cùng là mộ vua Adolph Von Nassau – người được chọn làm vua thay cho hoàng tử Albert, bị giết tại trận chiến ở Hasenbuhl năm 1298. Đó là 10 ngôi mộ nằm trang trọng cùng nhau vuông vắn trong một khuôn viên nhỏ tầm 20 mét vuông (mỗi mộ thực chất chỉ thấy một phiến đá hình chữ nhật nổi lên, bên trên có ghi chữ la-tinh có lẽ là tên tuổi của vị nằm bên dưới). Ngoài khuôn viên này, còn có 5 ngôi mộ bằng đá nữa được táng sâu vào trong vách tường đối diện khuôn viên, chỉ lộ phần đầu mộ ra ngoài, 3 mộ nằm bên trái, 2 mộ nằm bên phải, đó là mộ của 5 vị Giám mục nhà thờ. Điều đặc biệt nữa là trên hai lối bậc thang bên phải và bên trái để đi vào khu hầm mộ chính giữa này, cũng có 2 ngôi mộ nữa được táng trên vách tường. Mộ bên vách tường phía trái đó là của vua Heinrichs (mất năm 1125), như vậy riêng vua Heinrichs V thì lại nằm hẳn ở bên ngoài, trên vách tường cách khuôn viên 10 mộ kể trên tầm mét rưỡi về phía trái. Nằm trên vách tường phía bên phải của khu hầm mộ, ở bậc thang phía phải, lại là một ngôi mộ tới nay vẫn chưa rõ của ai. Người ta đã tìm thấy ở đây xương của nhiều người khác nhau, lại dưới sự tàn phá của thời gian nên không thể nhận diện được những ai đã nằm chung trong ngôi mộ này. Một điều đặc biệt nữa, trong tờ giới thiệu về khu hầm mộ của nhà thờ Speyer này, các ngôi mộ được đánh số thứ tự, mà thứ tự của ngôi mộ chưa rõ của ai này được đánh số 13. Tôi trộm nghĩ, có lẽ số 13 – vị trí của phản đồ Giuda hại Chúa, được xem là số xui xẻo của phương tây, đã được cố tình gán cho ngôi mộ chưa rõ của ai này? Nó xui xẻo vì là mộ duy nhất không biết được danh tính những người nằm dưới? Hay những người nằm dưới là những người xui xẻo vì là những nạn nhân nào đó trong thời kì cát cứ phân tranh giữa các vua chúa châu Âu thời trung cổ?
    Ra khỏi nhà thờ chính Speyer, chúng tôi cảm thấy nao nao và nhiều xúc động cứ như được chứng kiến một phần lịch sử châu Âu thời phong kiến trung cổ ngày xưa…
    Phía sau, xung quanh nhà thờ này là vườn của nhà thờ với một số tượng các vị vua, những bãi cỏ xanh ngát, đài phun nước và những hàng ghế đá nơi có các cụ già lẫn du khách thập phương dừng chân nghỉ mát. Ra phía sau nhà thờ, nhìn từ bên ngoài, nhà thờ này đẹp rực rỡ và hoành tráng trong nắng chiều với những chóp nóc màu xanh, những đường nét khỏe khoắn, chắc nịch của kiến trúc Roman mạnh mẽ. Phía sau nhà thờ, nếu đi xa hơn nữa, bạn sẽ thấy bờ sông Rhein với tượng của người lái đò và câu chuyện truyền thuyết được lưu truyền từ thế kỉ 19. Chuyện kể rằng bên bờ sông Rhein có ông lão lái đò một ngày nọ đã chở một vị khách lạ mặc áo choàng qua sông, đi cùng với vị khách lạ này là 7 vị khách khác đều mặc áo choàng trông rất uy nghi đường bệ. Khi những vị khách này vén áo choàng để lấy tiền thưởng cho người lái đò, người lái đò nhìn thấy thấp thoáng trong những áo choàng kia là gươm quý cùng bao nhiêu châu báu, tiền vàng, đá quý. ..Mỗi người trong 8 vị khách lạ nọ đều đưa cho ông lão lái đò một đồng tiền xu, và các đồng xu này sau này đều được đưa vào nhà thờ chính. Ông lão lái đò nhìn thấy trên mỗi đồng tiền này hình ảnh của một vị hoàng đế, và ông chợt nhận ra mình vừa chở 8 vị vua vượt sông Rhrein, họ đã quay trở lại để thống nhất vương quốc. Truyền thuyết thật thú vị, đến giờ vẫn còn tượng ông lão lái đò ở thành phố Speyer.
    Trên con đường chính nối liền nhà thờ lớn kiểu Roman này với tháp quan sát cổ của thành phố Speyer (gọi là tháp Altpörte) còn có một bức tượng đồng đen mô tả nhân vật Jakobspiger – hình ảnh một người đi chân trần, trông khổ hạnh, đội nón vành, áo tơi, chống gậy bước đi trên đường. Tôi hỏi thầy giáo dẫn đường người Đức – chính xác là cha Đức, mẹ Nhật, sinh ra và lớn lên tại Đức nhưng lại có khuôn mặt hoàn toàn thuần Nhật Bản về nhân vật này, thì thầy giải thích rằng nhân vật Jakobspiger đó là một người hành hương về hướng Tây Ban Nha, đi ngang qua Speyer, vừa đi vừa cầu nguyện và truyền đạo, rằng ngày xưa, có rất nhiều tu sĩ và người mộ đạo đã chọn một đích đến nhất định nào đó ở châu Âu để đi hành hương bằng đi bộ chân trần, vừa đi vừa truyền đạo và tu khổ hạnh. Thầy còn so sánh với những Phật tử hoặc tu sĩ bên đạo Phật hành hương về Tây Tạng. Tôi thấy câu chuyện rất thú vị, và tôi cũng thấy những người tích hợp đa văn hóa vừa Đông, vừa Tây như thầy giáo cha Tây, mẹ Nhật này thật là thú vị vì họ có được sự hiểu biết và nền tảng văn hóa tích hợp cả đông lẫn tây.
    Bức tượng này nằm ngay ở bùng binh, đối diện chênh chếch với một nhà thờ nữa gọi là nhà thờ Chúa Ba Ngôi (Dreifaltigkeitskirche) và nằm trên con đường chính nối Dom (nhà thờ chính) với tháp quan sát cổ. Tháp quan sát cổ hay gọi là cổng thành cổ này (Altpörte) được xây dựng từ thế kỉ 13, sau đó đến thế kỉ 18 thì được gắn thêm một cái đồng hồ rất to. Nếu quan sát kĩ, bạn sẽ thấy chữ số la mã trên bề mặt đồng hồ bị viết sai một số, đó là ở vị trí 4 giờ. Thay vì viết IV thì người ta lại viết thành IIII. Tòa tháp này cũng cổ kính với kiến trúc Roman rất đặc trưng, độc đáo. Ngày xưa, thời trung cổ, các vị vua chúa châu Âu cát cứ và đánh chiếm lẫn nhau liên tục nên lãnh địa của vị nào, vị nấy phải lo xây dựng thành quách vững chắc, và tôi đoán rằng tháp quan sát này ngày xưa có lẽ cũng chủ yếu được xây dùng nhằm mục đích bảo vệ lãnh thổ. Cổng thành rất cổ này được coi là một trong những cổng thành đẹp nhất và cũng là cao nhất của nước Đức. Giờ đây, nó trở thành một vị trí tuyệt vời cho du khách nào muốn thưởng thức vẻ đẹp tổng thể của Speyer từ trên cao. Chỉ cần trả 1,5 Euro, bạn có thể leo lên Tháp quan sát để ngắm Speyer từ trên cao ở tất cả mọi hướng. Đây quả thực là một trải nghiệm tuyệt vời cho tôi cùng nhóm bạn. Đứng trên tháp quan sát này, bạn có thể ngắm thành phố Speyer tuyệt đẹp với những mái nhà đều tăm tắp, những mái ngói phong cách rất cổ kính, rất rất châu Âu với những bậu cửa sổ được trổ trên nóc mái ngói, những góc phố duyên dáng một cách không thể tin được, những nóc nhà thờ với đủ phong cách. Ngoài nhà thờ chính phong cách Roman ra, Speyer còn vài nhà thờ nữa cũng tuyệt đẹp như nhà thờ Chúa Ba Ngôi đã có kể đến ở trên, và nhà thờ Die Gedächtniskirche der Protestation, qua cổng thành đi thẳng sẽ đến nơi. Đó lại là một nhà thờ theo phong cách Gothic, nhưng đặc biệt là từ đài quan sát, bạn có thể trông thấy những phần nóc được trang trí rằn ri đa sắc màu tươi vui xanh đỏ với họa tiết cực kì tinh tế, nhìn xa xa cứ như họa tiết thổ cẩm Việt Nam được dệt trên những mái nóc nhà thờ vậy. Tôi cùng các bạn Hường, Hòa, Mạnh đã chụp một số bức ảnh cùng nhau trên nóc nhà thờ này. Đó là kỉ niệm thật đẹp, vì sắp tới chúng tôi sẽ xa nhau, mỗi người tỏa đi một thành phố khác trong nước Đức để tiếp tục công việc học tập của mình. Những kỉ niệm chung thời đi học đẹp như thế này là vô giá đối với chúng tôi.
    Và dẫu sao đi nữa, chúng tôi cũng sẽ nói cùng nhau không phải là “goodbye” mà là “Aufwiedersehen” – Hẹn Gặp Lại.

( Mannheim, CHLB Đức cuối tháng 9/2014 - Viết tặng các bạn để kỉ niệm những ngày tháng cùng học ở Mannheim năm 2014)


@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 05.10.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn