Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (8)



Hai Bà Trưng Lấy Lại Đất Bách Việt







Nguồn sử liệu đầu tiên về cuộc khởi nghĩa lẫm liệt chống nhà Hán của Hai Bà Trưng là cuốn Hậu Hán Thư của Phạm Diệp , thế kỷ V (sau CN) viết lịch sử nhà Hán từ năm 6- 189 AD.

Hai chương Hậu Hán Thư mô tả cuộc khởi nghĩa của Hai Bà thời nhà Tây Hán .

Chương 86- Hậu Hán Thư tiêu đề: "Lịch sử về tộc Man Di phía Nam và Tây Nam" (Biographies of the Southern and the Southwestern Barbarians) viết:

Vào năm thứ 16 Hán Vũ Đế (40 AD ), ở quận Giao Chỉ có hai người đàn bà là Trưng Trắc và Trưng Nhị đã nổi loạn và tấn công thủ phủ của quận. Trưng Trắc là con gái Lạc Tướng huyện Mê Linh, bà là vợ của Thi Sách. Bà ta là một chiến binh tàn bạo. Tô Định Thái Thú của quận Giao Chỉ đã dùng luật pháp để kiềm chế bà ta. Nhưng bà ta lại càng hung dữ và chống đối hơn. Những tộc trưởng Man Di ở quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố gia nhập với bà ta, và bà ta đã đoạt được 65 thành trì và trở thành Nữ vương. Chính quyền của quận Giao Chỉ và các quận khác chỉ có thể phòng thủ để tự bảo vệ mình. Hán Vũ Đế vì vậy đã ra lệnh cho quận Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu chuẩn bị xe kéo, thuyền bè phục vụ cho xây dựng cầu đường, để mở lối đi qua núi nhằm cải thiện công tác vận lương. Năm thứ 18 (42 AD), Vũ Đế sai Phục Ba tướng quân Mã Viện và Phù Lạc hầu Lưu Long dẫn hơn 1 vạn quân từ quận Trường Sa, Quý Dương, Nam Ninh, Thương Ngô. Vào mùa hè năm sau 43 AD, Mã Viện tái chiếm Giao Chỉ và diệt Trưng Trắc, Trưng Nhị, và những kẻ khác ở những vùng rải rác. Khu vực biên giới đó vì vậy đã được bình định”.
    Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi Trưng Trắc là một vị vua trong lịch sử Việt Nam.
    Hai Bà Trưng (mất ngày 6 tháng 2 Quý Mão 43 ) là tên gọi chung của Trưng TrắcTrưng Nhị. Hai chị em ruột- anh hùng lẫm liệt của dân tộc Việt. Hai Bà Trưng khởi binh chống Hán, lập nước Lĩnh Nam, kinh đô Mê Linh, tự phong Nữ Hoàng đế.
    Đại Việt sử ký toàn thư Sử gia Lê Văn Hưu viết:
Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi ! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy.
    Vua Tự Đức viết trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục:
Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng những mặt dày thẹn chết lắm!”
Đất Lĩnh Nam của người Bách Việt
    Người Bách Việt, sống trên vùng đất phía Nam sông Dương Tử, từ vùng núi Ngũ Lĩnh và hồ Động Đình trở về Nam, nên gọi xứ Lĩnh Nam (Lê Văn Hưu gọi Lĩnh Ngoại)
    Lĩnh Nam là vùng đất phía Nam của rặng Ngũ Lĩnh. Người Tàu xác định Lĩnh Nam là đất của người Bách Việt gồm: Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến và phía nam của Chiết Giang (vùng đất của các nước cổ thời là Mân Việt và Đông Việt).
    Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: ... “Cho nên Trưng Nữ Vương tuy đánh lấy được đất Lĩnh Nam, nhưng không giữ được nơi hiểm yếu ở Ngũ Lĩnh, rốt cuộc đến bại vong" .
    Lĩnh Nam- Đất phía nam của Ngũ Lĩnh, gồm Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến, đảo Hải nam, phía nam Chiết Giang và Bắc Việt Nam ngày nay. Vùng đất Lĩnh Nam không thuộc Hán tộc, khác hẳn về ngôn ngữ, phong tục và văn hoá với dân vùng Hoa Bắc và Hoa Nam thời cổ.
    Phía tây Lĩnh Nam là vùng cao nguyên của hai tỉnh Vân Nam và Quý Châu, cũng là phía tây của tỉnh Quảng Tây với rặng Ô Mông sơn và Lục Chiếu sơn, sát biên giới Bách Việt.
    Đây là những rặng núi khá cao để phân biệt biên giới Việt cổ. Phía đông bắc Lĩnh Nam là các rặng núi Vũ Di sơn, Tải Vân Sơn và Liên Hoa Sơn, phân chia hai vùng Lĩnh Nam và Dương Việt (huyện Mân Trung thời Tần).
    Phía đông và phía nam của Lĩnh Nam giáp biển Nam Hải. Vùng Lĩnh Nam có sông lớn là Tây Giang. Sau hai sông Hoàng Hà và Dương Tử (Trường Giang) sông Tây Giang lớn thứ ba.
    Tây Giang là thủy đạo chính của vùng Lĩnh Nam. Tây Giang tùy từng đoạn, được đặt bằng những tên khác nhau. Các đoạn sông này nối tiếp với nhau từ tây qua đông theo thứ tự: Nam Bàn giang (tên cổ sông Tường Kha) - Hồng Thủy Hà, Tây Giang và Chu Giang là đoạn nối với biển Nam Hải. Tây Giang có những chi lưu chính ở phía bắc như Bắc Bàn Giang, Liêu Giang, Li Giang, Bắc Giang và Đông Giang. Những chi lưu ở phía nam như Hữu Giang và Tả Giang (phát nguyện từ bắc Việt Nam) hợp lại là Uất Giang, chảy vào Tây Giang.
    Khí hậu Lĩnh Nam khác hẳn khí hậu Hoa Hạ. Phía bắc Ngũ Lĩnh lạnh và khô, nhiều khi mùa đông có tuyết. Phía nam Ngũ Lĩnh- Lĩnh Nam thì ấm áp quanh năm. Đây là vùng khí hậu nhiệt đới. Nhiệt độ thay đổi từ 10°C (tháng 11, 12, 1, 2) đến 30°C (tháng 5, 6, 7, 8). Thời gian trồng cấy từ 250 đến 320 ngày trong một năm (nhiệt độ tối thiểu để có thể cấy lúa là 10°C).
    Lĩnh Nam có nhiều mưa, tháng 5, 6, 7, 8 là mùa mưa, cao điểm là tháng 6, vũ lượng lên tới 25cm (10 inches). Vũ lượng cho cả năm khá cao, 170 cm (67 inches) tại Quảng Châu, 200 cm (80 inches) tại Hồng Kông, 180 cm (71 inches) tại Hà Nội.

Xót Chồng, đau Nước nổ bùng
    Thi Sách người huyện Chu Diên- quận Giao Chỉ (làm huyện lệnh Châu Diên). Hai mươi tuổi, chàng cưới Trưng Trắc, con gái lạc tướng huyện Mê Linh tuổi mười chín, đẹp nết, đẹp người làm vợ.
    Năm Giáp Ngọ (34 ). Tô Định sang thay Tích Quang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Hắn dã man, bạo ngược chưa từng thấy. Thi Sách gửi thư cảnh cáo Tô Định:
Phương Nam tuy nhỏ nhưng ức vạn sinh linh cũng là con đỏ của triều đình cả; kẻ đi tuyên dương đức hóa, cốt phải lấy việc yên dân trước hết.
Ngươi (chỉ Tô Định) nay làm việc chính trị, bắt tội người nói thẳng, bầy mưu hay, yêu kẻ luồn lọt bợ đỡ, cho hầu gái được nhúng vào chính trị, cho nịnh thần được chuyên quyền. Lúc nào cũng bô bô nói chuyện thương dân, thế mà tấm lòng bóc lột kẻ dưới ngày càng dữ! Rán mỡ dân để thỏa lòng dục, cậy mình sức mạnh thể như gươm Thái A sắc bén, nào biết cơ mình nguy ngập như giọt sương sớm dễ tan!
Nếu không sửa đổi chính sách cho rộng rãi thì nguy vong đến nơi đấy!
    Bất bình chế độ cai trị hung bạo Tô Định (nhà Đông Hán) Thi Sách thức gọi nhân dân nổi dậy, chống Hán. Nhiều người giỏi việc quân: Đô Dương, Lê Đình Lượng, Phùng Thị Chính... theo giúp Thi Sách.
    Biết các Lạc tướng Mê LinhChu Diên chống trả sự cai trị tàn bạo của mình, Tô Định bắt giết Thi Sách, trấn áp tinh thần người Việt. Tô Định đem đại quân đàn áp. Thi Sách bị giết năm Kỷ Hợi (39 ).
    Tháng Hai năm sau (40 ). Trưng Trắc vợ Thi Sách cùng em gái Trưng Nhị tập hợp dân lành vùng dậy, đánh đuổi Tô Định.
    Tháng Ba, năm Canh Tý (40 ). Trưng Trắc và Trưng Nhị cầm binh đánh hãm trụ sở Luy Lâu (huyện Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay).
    Lễ xuất quân tại bến Nam Nguyên. Hai Bà cưỡi voi, mặc áo giáp, che lọng vàng cầm gươm, thúc đại quân đánh thẳng vào Liên Lâu, bản doanh của Tô Định bên bờ sông Nhuệ (thuộc Hà Đông- Hà Nội ngày nay). Hiện nay ở giữa Lương Sơn và Mỹ Đức còn dãy núi gọi là núi Vua Bà.
    Liên Lâu thất thủ. Tô Định và quân Hán chạy thoát về Nam Hải ( nay là đảo Hải Nam).
    Thừa thắng, quân của Hai Bà tiến như vũ bão, giải phóng đất nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Tô Định thua, lui về nước Tàu. Hai Bà lấy lại 65 thành ở Đất Lĩnh Nam (Lĩnh Ngoại) đã mất bởi nhà Triệu.
    Trưng Trắc làm vua, tuyên bố Lĩnh Nam riêng một triều đình Trưng Vương. 65 thành của Đất Lĩnh Nam (Đất Nam Việt nhà Triệu) treo cờ Lĩnh Nam độc lập. Hai Bà đóng đô ở quê Mê Linh (nay thuộc Hà Nội) dựng nên triều đại Trưng Vương vang vọng Trống Đồng, hào hùng voi trận. Một triều đại Vua Bà Việt Nam ghi tạc năm châu, chuyển động tinh cầu, khiến lũ giặc cướp nước Việt mọi thời đại run sợ.

Lĩnh Nam Nhân Nghĩa triều đình Bà Trưng

    Lên ngôi xong, Hai Bà thấu đất nước điêu tàn, người dân thống khổ sau bao nhiêu năm sống trong nô lệ Bắc phương. Cha mất con, vợ mất chồng, con côi bơ vơ, đói khát… Hai Bà giảm binh. Binh lính về nhà chuyên cần trồng cấy, chăn nuôi. Hai Bà dùng chính sách an sinh, nhân nghĩa, xây đất nước, giúp dân sớm được hưởng cảnh thái bình thịnh trị của Tổ Tiên đã được ghi trong Đại Việt Sử Ký Tiền Biên:

    “Nước Nam về đời Lạc Hồng, vua dân cùng cày ... Dân sống đời bấy giờ cùng nhau vui vẻ chơi đùa ở trong cõi đất không rét, không nóng. Người già thì chết, người trẻ đến lúc già không biết đến việc đánh nhau. Có thể gọi được là đời chí đức, gọi là nước Cực Lạc. Vua thì yên vui như tượng Phật. Dân thì vẽ mình làm ăn không phiền nhiễu gì đến sưu thuế, không việc gì phải canh phòng. Vua, dân thân nhau dẫu vài ngàn năm cũng không thay đổi”.

    Triều đại Lĩnh Nam. Nhờ ân đức của Hai Bà, già trẻ, trai gái vui chăm trồng cấy, chăn nuôi, cây cỏ tươi tốt, chim muông nhởn nhơ hót trong cảnh thanh bình, trở về thời an vui, thịnh trị của Tổ Tiên Lạc Hồng.
    Nhưng cuộc sống nhân văn đó chẳng được lâu. Giặc Bắc rắp tâm phục hận, cướp Đất Lĩnh Nam của Bách Việt, mà Hai Bà Trưng cùng Dân Việt vừa giành lại được.
    Tháng Chạp  năm 41. Hán Quang Vũ sai Mã Viện và Đoàn Chí, Lưu Long đem 20 ngàn quân sang Việt Nam. Việc Tô Định bị đánh đuổi còn lù lù, rợn gáy, nên hung tợn như Mã Viện vẫn phải run sợ.
    Chúng không dám đường đường, chính chính xuất quân mà phải âm thầm chặt rừng, phá núi hàng ngàn dặm từ Quảng Đông qua miền Lạng Sơn vào nước Việt.
    Thủy quân của Đoàn Chí tiến sang trên nhánh Bắc sông Thái Bình để hai bên yểm trợ cho nhau. Khi đoàn quân xâm lăng tới Tây Lý, một địa điểm ở giữa Mê Linh và Hà Nội, bị quân của Bai Bà chặn đánh tơi tả. Tô Định phải lui về Lãng Bạc vùng Tiên Du (Bắc Ninh).
    Thánh Thiên Công Chúa- Nữ tướng của Hai Bà, đem binh tới đánh mấy trận, giết cả ngàn quân Hán. Mã Viện phải lui về cố thủ ở Bắc Giang, xin tiếp viện và chờ hậu quân tiếp viện.
    Mã Viện dùng kế nghi binh, giả đưa binh lên đánh vùng Thái Nguyên, Tuyên Quang. Thánh Thiên Công Chúa đem quân lên cứu viện miền thượng du.
    Mã Viện thấy lực lượng của Hai Bà bị phân tán liền tiến về Lãng Bạc. Hai Bà thân chinh cầm quân chiến đấu. Quân Lĩnh Nam đánh rất hăng, nhưng quân Hán quá đông. Đành thất bại. Hai Bà lui binh về Kim Khê- vùng núi Ba Vì. Lão tướng Đô Dương từ Cửu Chân đem quân bị chặn đánh. Thánh Thiên Công Chúa rút về cứu, nhưng không kịp.
    Quân Mã Viện tiến đánh Kim Khê. Hai Bà thua chạy dọc theo hữu ngạn sông Hát tới An Hát (nay là xã Hát Môn – Hà Nội). Nơi cửa sông Hát chảy ra sông Hồng, Hai Bà được dân tiếp đón nồng nhiệt, dâng bánh trôi. Hai Bà gieo mình xuống sông Hát từ trẫm. Tất cả quân theo hầu và hai trinh nữ dâng bánh trôi lên Hai Bà cũng lao theo dòng nước.
    Đất nước Việt phủ màu tang tóc.
    Dòng sông Hát dậy sóng căm hờn!
    Từ đây, nước Việt lại bị nhà Hán cai trị.
    Mã Viện dựng cột đồng (tương truyền ở trên động Cổ Lâu châu Khâm) làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán, và khắc lên đó dòng chữ thề: "Cột đồng gãy thì Giao Chỉ diệt" (Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt).
Tội ác Mã Viện với dân Việt
    Mã Viện (14 TCN-49), tự Văn Uyên, người Phù Phong, Mậu Lăng (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) là một viên tướng thời Đông Hán.
    Khi đem quân đánh Hai Bà Trưng, Mã Viện được vua  Hán Quang Vũ phong là "Phục Ba tướng quân", tước Tân Tức hầu, ban cho thực ấp 3.000 hộ, còn gọi là Mã Phục Ba.
    Mã Viện thắng Hai Ba Trưng, biến nước Việt thành thời kỳ Bắc thuộc lần hai.
Mã Viện đem phủ trị về Mê Linh và gây nhiều tội ác với dân Việt. Chính sách hủy diệt văn hóa Việt, đồng hóa dân ta biến thành người Tàu, đã diễn ra tàn khốc dưới sự cai trị của Mã Viện- nhà Đông Hán. Không sách nào kể hết.

Tịch thu trống đồng, hủy diệt nền Văn hóa Lạc Việt
    Mã Việt đã tịch thu biết bao nhiêu trống đồng của ta để đúc cây đồng trụ? Mã Viện nấu chảy trống đồng, đúc ngựa đem về Tàu làm quà dâng Hán Đế.
    Sách Hậu Hán thư kể chuyện Mã Viện:
    “Mã Viện thích ngựa, giỏi phân biệt ngựa hay; tại Giao Chỉ lấy được trống đồng Lạc Việt, bèn cho đúc thành ngựa mẫu; lúc trở về dâng lên Thiên tử”.
Trống Đồng LINH PHÙ VIỆT TỘC.
    Trống Đồng Linh Thiêng không bao giờ mất. Dù Mã Viện gian tham, độc ác thấu Đất Trời Người. Tổ Tiên, Ông Bà chúng ta đã giấu Trống Đồng trong lòng Sông Núi Nước Nam để đến đầu Thế kỷ XX, Trống Đồng hiện lên cùng con cháu Việt. Trống Đồng hiển hiện nền Văn minh lúa nước sông Hồng, sông Mã hàng chục ngàn năm kết lại. Tinh hoa bừng tỏa Trống Đồng với triết lý sống Thiên- Địa- Nhân, Kinh Dịch, Âm Dương Ngũ Hành… cả nhân loại đều nghiên cứu và công nhận.
Mã Viện cướp trân châu, sừng tê giác Giao Chỉ
    Sau khi mất ở Tàu. Mã Viện bị tố cáo đã chở châu báu đầy xe về Tàu làm gia sản riêng. Đây là tội biển thủ, tham cướp. Tội của Mã Viện bị lộ do “có người dâng thư lên vua sàm tấu rằng trước đây Viện chở về, đều là trân châu và sừng tê giác có hoa văn”.
    Mã Vũ cùng con Tăng Vũ hầu trình bày tội trạng khiến Thiên tử giận. Vợ con Mã Viện sợ hãi không dám đưa thi thể (Mã Viện) về chôn tại mồ mả đất nhà; đành tạm vùi tại mấy mẫu đất gai góc nơi phía Tây thành; khách khứa bạn bè người quen cũ không ai dám phúng điếu. Nghiêm lệnh vợ con Viện có liên quan, bắt đến triều đình định tội.
    Mặc dù sử gia Trung Hoa có ý bênh vực Mã Viện, nói đây là việc “sàm tấu” và giải thích xe chở “ý dĩ” (một thứ hạt ngũ cốc) ở Giao Chỉ về Tàu dùng để chữa bệnh, chứ không phải vàng bạc châu báu”.
    Theo Talawas, có nhiều điểm đáng nghi về vụ án này. Qua liệt truyện ở phần trên, nhà viết sử Tàu cố bênh việc xấu của Mã Viện; nếu phân tích kỹ các sự kiện, những câu hỏi sau đây cần được đặt ra.

    Ý dĩ có phải là thần dược đáng cho Mã Viện chở một xe riêng, vượt qua hàng vạn dặm đường để đưa về quê không?
    Mặc dầu Thần Nông bản thảo kinh ghi rằng: “Ý dĩ vị ngọt, tính hàn, chủ hạ tỳ khí phong thấp, trừ tà khí tại gân cốt, dùng lâu thân thể nhẹ nhàng, vượng khí”.
    Nhưng thực tế cho thấy quân sĩ của Mã Viện tại Giao Chỉ bị chết vì chướng khí đến bốn, năm phần mười. Vậy tại sao vị thuốc ý dĩ kia không giúp cho quân lính Viện tiêu trừ lam chướng? Hơn nữa nếu ý dĩ là thần dược, thì vua chúa triều đình Trung Quốc cũng cần thứ đó; nhưng tên vị thuốc này không có trong danh sách các cống phẩm của ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.
   
Nếu trên chiếc xe chỉ chở có ý dĩ mà thôi, thì tại sao Mã Viện không công khai cho quân lính và mọi người đều biết, để đến nỗi bị tố cáo sau khi mất.
    Hạt ý dĩ chỉ bằng hạt bắp, nếu chở một xe làm hạt giống (như trong Liệt truyện ghi) thì có thể cung cấp cho cả làng, mọi người đều biết và ca tụng. Cớ sao những vật để trong xe phong kín?
Với những ý kiến nêu trên, có thể kết luận rằng việc Mã Viện chở những đồ trân quí từ Giao Chỉ đưa về nhà không hẳn là oan.
    Sử Tàu ghi “bốn/ năm phần mười lính Mã Viện chết vì chướng khí”. Nay được hiểu là Tâm linh Việt đánh giặc. “Chướng khí” là Thần khí nước Việt, mà Thần Long Đỗ tuôn dòng điện trường Linh khí Việt vĩnh cửu nơi Sông Núi Nước Nam. Khoa học vũ trụ & Con người đã chứng minh. Không thể cãi bàn.
Ba năm, bấy nhiêu ngày bất diệt
    Hai Bà Trưng- Hai nữ anh hùng bình thường mà phi thường, tồn tại dân tộc Việt.
    Dân Việt khắp nơi trên Đất Lĩnh Nam thờ cúng Hai Bà, noi gương lẫm liệt. Dân dựng đền thờ vua Trưng ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc (nay Hát Môn, huyện Phúc Thọ- Hà Nội), và nơi đất kinh đô nhà Triệu- thành Phiên Ngung.
    Lớn nhất là Đền Hai Bà Trưng quận Hai Bà Trưng- Hà Nội đền Hai Bà Trưng tại thôn Hạ Lôi- xã Mê Linh- huyện Mê Linh- Hà Nội - quê hương của Bai Bà.
    Tại tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) nay còn miếu thờ Trưng Vương (miếu này đã được kiểm chứng bởi hai nhà Nho đi sứ đó là Nguyễn Thực Ngô Thì Nhậm).

Sức mạnh Mẫu hệ- Gen di truyền Mẹ Việt

   Những câu chuyện về Hai Bà Trưng,
Bà Triệu, và các nữ tướng khác được nhiều nhà nghiên cứu trích dẫn, làm bằng chứng cho luận điểm xã hội Việt Nam trước khi bị Hán hóa là một xã hội mẫu hệ còn gọi là chế độ mẫu hệ trong đó phụ nữ lãnh đạo vả chiến thắng.
    Sức mạnh Mẫu hệ- Cội nguồn Mẹ Việt đã bị hàng ngàn năm Bắc thuộc với hệ thống cai trị phản Khổng Tử dày đạp nát bùn đen. Nó trắng trợn đẩy người đàn bà Việt vào xó bếp. Nó vây áp, khinh miệt, dối lừa… dìm chôn thân phận người đàn bà, biến họ thành thứ hầu hạ đàn ông. Càng học nhiều, càng làm quan to, nó càng đày đọa đàn bà. “Ai ơi chớ lấy học trò/ Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”…
    Nhưng sức sống mãnh liệt của người Mẹ Việt Nam bùng cháy bất diệt trong dòng máu, tế bào người Việt. Gen di truyền Mẹ Việt vô lượng kiếp sinh sản, nuôi dạy, cấy truyền Tinh hoa Việt, bảo tồn nòi giống Việt hào hùng, bất khuất, hiền hòa, nhân bản… giữ biển, đảo, đồng đất Việt.
    Đàn Bà Việt muôn đời lặn lội ruộng lúa nước, trồng lúa, rau, khoai, mò cua, bắt ốc, gánh gạo nuôi chồng đi đánh giặc.
    Đàn Bà Việt Liều mình như chẳng có- Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh.
    Đàn Bà Việt, đời nối đời Nuôi đủ năm con với một chồng.
    Không biết bao nhiêu ngàn năm trôi qua, hôm nay người Việt Nam vẫn hát:
                        Hò ơi, em chèo thuyền đi "cất Lờ bát quái" thay chồng, thay chồng nuôi i ì con.....
    Đàn bà Việt thời @ học Thiền, tu Tâm, luyện Trí, nhân sức mạnh Tâm linh Trưng Triệu, truyền muôn đời con cháu:
Thu Ngọc

Trời Đất và Ta một khối Tình
Nam Quốc Sơn Hà Tâm linh Việt
Lẫm liệt Trưng Triệu mở bình minh
Kim cương bất hoại hương Đồng vọng
Chùa làng sinh khí đất Rồng thăng
Hà Nội xanh nồng nàn Thu Ngọc.
(… Còn tiếp ...)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 26.9.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn