Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





NGƯỜI CANH GIỮ ĐỀN THIÊNG







Trúc dẫn chúng tôi đến thăm má Sáu, người canh giữ đền thiêng. “Đền thiêng!”. Hai tiếng gợi cho tôi hình ảnh một toà nhà đồ sộ và cổ kính. Ở đó, những ô cửa sổ to lớn quanh năm đóng chặt. Nắng chui vào đền bằng khe hở từ mái vòm cao chót vót. Ánh sáng yếu ớt tựa như tấm voan mỏng mảnh căng rộng trên bệ thờ. Mấy chiếc bình hương nghi ngút khói đặt trước tượng thần uy nghi, trầm mặc. Giữa cảnh tĩnh lặng và huyền bí, người giữ đền thiêng như một vị thần sống đứng yên. Mái tóc bạc phơ búi gọn, tà áo dài trắng khẽ lay động. Thỉnh thoảng, bà đến trước bệ thờ cầm lấy nhang trầm thắp lên những đốm lửa nhỏ. Ánh sáng lập loè chẳng làm cho không gian bừng sáng mà chỉ gợi cảnh ảm đạm và nỗi buồn da diết lan tràn.

Tất cả những điều tôi tưởng tượng không có ở đây. “Đền thiêng” nầy chỉ là một mái lá xiêu vẹo, một căn nhà bình thường như bao nhiêu nhà khác trong vùng. Nhưng, trong gian trước, nổi bật nhất là cái bàn thờ. Nó được làm bằng gỗ quí. Trên nền gỗ màu nâu bóng, có cẩn những cánh sen nhỏ bằng xà cừ óng ánh sắc trắng hồng. Mấy đoá hoa gợi sự tinh khiết vô cùng và dáng vẻ giàu có trong mái lá đơn sơ. Năm tấm ảnh của bốn người con trai còn trẻ và một cô gái xinh đẹp được đặt trên bàn thờ ấy. Năm chiếc bình hương và mấy cặp nến hồng như đã xác minh rằng đó chính là những người đã hy sinh, đã trở thành liệt sĩ. Chính họ đã biến nơi tầm thường nầy thành đền thiêng, nơi thờ phụng những người đã dệt nên những trang lịch sử đấu tranh anh hùng, bất khuất.
Và, má Sáu, mẹ của những người con dũng cảm kia đang sống một mình trong mái lá ấy. Bà làm công việc có vẻ ngược đời là “Tre già phải khóc măng tàn”. Má Sáu đang ngồi trên chiếc chõng tre. Bà chăm chú luồn những cọng nan vào nhau, tạo nên những khoảng cách đều đặn của một mặt rỗ. Thỉnh thoảng, má dừng lại, mắt liếc nhìn mấy bức ảnh, bà thở hắt ra rồi thẫn thờ trông về phía chân trời. Nơi đồng ruộng và bóng mây sát liền nhau như lưu luyến. Không có sợi khói nào bay trên những chiếc bình hương nhưng lúc bấy giờ, tôi biết, có những ngọn lửa cháy rực trong tim má và phản chiếu rõ rệt qua ánh mắt.
Năm đứa con lần lượt ra đi. Mỗi người tạo một cung cách hy sinh khác biệt. Dù vậy, với má, họ đều có giá trị như nhau, đều đem niềm tự hào về cho má. Bà chỉ tiếc một điều, bốn thằng con trai, một cô con gái chưa lập gia đình. Không ai để lại cho má mụn con nào. Nếu vậy, phải chi trong một trận đánh ác liệt má cũng hy sinh thì bây giờ má nghĩ mình đã nằm yên trên bàn thờ ấy cùng với các con. Biết đâu, cả gia đình sẽ sum họp ở một thế giới nào xa khuất.
Vừa trông thấy chúng tôi, má Sáu tươi cười:
- Trúc đó hả? Vào đây cháu! Đi đâu mà đông vui quá vầy nè?
Trúc chạy đến bên má, cô bé nũng nịu:
- Tụi con đến thăm má Sáu.
Má đi ra sau bếp. Một chốc, bà trở lại với dĩa khoai lang:
- Mấy con ăn đi! Khoai ngọt lắm!
Trúc liếng thoắng:
- Khoai má trồng phải không?
- Ờ! Ở không làm gì. Má trồng chút đỉnh để dành ăn vậy mà.
Đực chen vào:
- Má có một mình, trồng chi cho cực. Mua vài ký, ăn cả tuần không hết.
Trúc trừng mắt với Đực, cô bé lý sự:
- Nói bậy không hà! Khoai nè, ăn đi! Đừng nói nữa. Cái gì tự tay mình trồng vẫn quí hơn, ăn ngon hơn chứ!
- Trúc nói phải. Tôi thay lời Đực:
- Tụi con xin lỗi má Sáu.
Mỉm cười hiền hậu, má Sáu vuốt tóc tôi:
- Đâu có gì mà lỗi phải. Con là con của ai mà má không biết?
Trúc nhanh nhẩu giới thiệu:
- Bạn ấy là cháu nội của bà Hai Sang ở đầu xóm đó má. Ba má bạn làm việc trên tỉnh. Bạn ấy về đây nghỉ hè.
Má Sáu chợt thở dài buồn bã:
- Mấy con thật là sung sướng. Các con được đến trường, được học hành rồi lại được nghỉ hè. Ơ đây, mấy đứa nhỏ con nhà nghèo có đứa chưa biết chữ. Đối với chúng, quanh năm chỉ có một mùa. Mùa hè, mùa vất vả! Suốt ngày, chúng cặm cụi ngoài đồng ruộng. Nắng chẻ đôi ngọn tóc, nhuộm đen màu da non của chúng. Con gái út của má hồi còn sống cũng khổ sở như vậy. Nhưng, được cái may là có “Anh Hai nằm vùng” về đây. Anh mở trường dạy học. Nói cho oai chứ trường chỉ là một cái chòi nằm sâu trong vườn bưởi. Lúc dạy, thầy phải nguỵ trang bằng cuốc xẽng để hờ một bên. Trò ngồi học đặt chổi ky gần đó. Vừa có động, mạnh ai nấy tản đi. Thầy cuốc đất vun gốc bưởi, trò quét lá như trẻ làm thuê cho chủ vườn. Con Út nhà má theo học cho đến ngày anh hai bị giặc bắt. Nó thường nói với má, khi hoà bình trở lại, nó sẽ học Đại học rồi làm cô giáo. Nhưng...
Má thút thít khóc, Trúc cũng sụt sùi theo. Đực ngữa mặt trông lên mái lá để giấu đôi mắt ướt. Còn tôi, lòng oằn nặng chua xót. Tôi nhìn ra cánh đồng lấp loáng nắng chiều. Lẫn trong màu lá thắm tươi thấp thoáng những chiếc bóng bé bỏng lom khom hái rau, bắt ốc. Có phải đó là những đứa trẻ má Sáu vừa nhắc tới ? Chúng vẫn hồn nhiên sống trong quảng đời cơ cực tối tăm.
Chợt nghĩ ra một điều, tôi bảo Trúc:
- Trúc, hay tụi mình dạy cho mấy đứa nhỏ con nhà nghèo vùng này!
Trúc tròn mắt nhìn tôi:
- Ờ, nhưng Trúc đâu biết cách dạy. Từ nhỏ tới giờ, Trúc chỉ biết làm học trò thôi.
Tôi hăm hở bàn bạc:
- Để Nghị dạy cho, chỉ cần Trúc đi theo, cầm tay khi học trò của tụi mình tập viết.
Đực reo lên:
- Cho mình học với! Trúc cầm tay mình nghen!
Tôi và Trúc nhìn nhau. Chúng tôi nhận ra bạn bè mình có nhiều đứa chưa biết chữ. Trúc vui vẻ bảo:
- Ừ, nhưng nếu Đực không thuộc bài thì Trúc sẽ gõ đầu đó. À này, rồi ai sẽ đi chài cá cho má Đực. Ai cắm câu?
Đực ngẩn người khi nghe Trúc nhắc nhở .
Công việc xem ra không đơn giản chút nào. Muốn dạy ít nhất cũng phải chọn lựa giờ giấc thích hợp để việc học không ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày của “ Học trò “. Chưa kể phải có một chỗ nào đó để làm lớp học, phải có bàn ghế, phấn bảng, tập vở, sách v.v...
Tôi than thở:
- Nói thì dễ nhưng làm lại rất khó!
Có lẽ đoán được ý nghĩ của tôi, má Sáu nói, giọng quả quyết:
- Điều quan trọng là các con có chịu làm hay không cái đã? Có khó khăn nào mà không giải quyết được đâu. Các con cứ chuẩn bị tư thế dạy, còn mọi thứ để má lo.

***

Trước khi ra về, ông Bí thư xã trao chiếc chìa khoá cho má Sáu. Ông nói một câu tưởng như khách sáo nhưng chính xác vô cùng:
- Chị vẫn như xưa! Lúc nào cũng nghĩ tới người khác, sẵn sàng vì mọi người. Tôi phục chị lắm, chị Sáu!
Má Sáu nheo mắt . mỉm cười hiền hậu:
- Anh cũng vậy. Anh thấy được tất cả việc làm của người khác , trừ công lao của chính anh. Thật ra, tôi chỉ làm vui lòng tôi thôi. Khi nào không cần nữa, tôi sẽ trả nhà nầy lại cho xã.
Ông Bí thư cười xoà:
- Chị vẫn bướng bỉnh như ngày còn trẻ, chị Sáu à!
Ngôi nhà tình nghĩa mà nhân dân xã mới xây cho má Sáu không lớn lắm. Nhưng mái tôn, vách tường hẳn hoi. So với ngôi nhà má Sáu đang ở thì nó khang trang , đẹp đẽ và kiên cố hơn rất nhiều.
Thấy má sống cô quạnh trong mái lá lụp xụp bên một cánh đồng cuối xã, bà con xót dạ lắm. Họ đã cùng nhau đóng góp, xây dựng chỗ ở mới cho má. Mọi người mong sự quan tâm, chăm sóc sẽ an ủi và đáp lại phần nào sự hy sinh của má. Họ tin má sẽ vui biết bao khi thấy ngôi nhà mới.
Nào ngờ, má Sáu đi từ trước ra sau rồi từ sau ra trước. Bà đánh một vòng quanh sân, ngắm nghía, ngợi khen rồi bày tỏ quan điểm:
- Ngôi nhà này đẹp lắm! Chắc phải tốn nhiều tiền và công sức của bà con. Tôi cám ơn bà con và chính quyền đã hết lòng lo lắng cho tôi. Nhưng, tôi không thích rời xa mái lá của mình. Nơi mà từng chỗ trong đó hằn lại bao kỷ niệm về các con tôi. Ở nhà trước, trên cái chõng tre, đêm đêm, hai thằng con lớn nằm gát chân lên nhau ca vọng cổ. Hai thằng nhỏ lật đáy thau rồi dùng đũa đánh nhịp om sòm. Còn con Út, cứ đeo theo tôi, đòi nghe kể chuyện. Trong nhà bếp, mỗi ngày hai lần, cả nhà quây quần ăn cơm. Tiếng cười rộ từng hồi. Đến bây giờ, vẫn còn vang vọng trong lòng tôi. Rồi còn biết bao thứ khác, tầm thường mà quí giá, như cái giỏ đựng cá thằng Hai làm mới nữa chừng, chưa kịp đựng vật gì thì nó đã hy sinh. Mấy cái cần câu của thằng Ba, thằng Tư, quyển sách chánh trị của anh Hai “nằm vùng” tặng cho thằng Năm và ... cái áo lót của con Út, tôi vẫn còn treo trên vách buồng của nó. Ôi, thương làm sao gương mặt thẹn thùng ửng đỏ của con Út khi ướm thử chiếc nịt vú đầu tiên. Lúc đó, tôi mới nhận ra nét dậy thì trên ngực, trên thịt da con gái. Niềm sung sướng được nhìn con khôn lớn, xinh đẹp kéo dài chẳng bao lâu thì nó đã ra đi. Tựa cửa sau, tôi có thể nhìn thấy vùng đất thấm đẫm máu và thịt xương con gái. Nó đã vĩnh viễn nằm lại ở đó... Cám ơn, cám ơn bà con nhiều lắm! Nhưng nếu thương yêu tôi, xin hãy để cho tôi ở lại ngôi nhà cũ, canh giữ kỷ niệm. Người già chỉ cần sống với quá khứ. Được như vậy là hạnh phúc rồi.
Ngày đó, ai có mặt cũng rơi nước mắt. Họ làm sao quên được sự hy sinh của người con gái còn rất trẻ ấy.
Hay tin giặc sắp mở trận càn quét bất ngờ, bà con trong xã vội tìm đường lánh nạn. Nhưng, một số người đang cấy lúa ngoài đồng không hay kịp. Họ chạy chưa được xa thì giặc đã kéo tới, tiếng súng dồn phía sau. Con gái Út của má Sáu có trong số người chậm chân ấy. Sau khi dặn dò mọi người chạy tới trước, theo con đường cũ, cô gái bỗng dưng băng ngang ruộng, vừa chạy vừa kêu to:
- Bà con ơi, chờ tôi với! Chờ tôi với, chờ ...tôi...!
Ai cũng kinh ngạc trước hành động kỳ quặc ấy nhưng khi thấy bọn lính đổi hướng, đuổi theo cô gái, mọi người mới hiểu ra. Một tiếng nổ long trời. Cô gái và một số lính đi đầu tan thành từng mãnh vụn. Cô đã dẫn bọn chúng vào chỗ đặt mìn của du kích.
Người con cuối cùng của má Sáu đã hy sinh như thế. Đứng ở bậc thềm đất sau nhà má Sáu, người ta có thể trông thấy con đường ấy tựa như một tấm vải ngoằn ngoèo.
Và, ở đó có một cây dừa ngã nghiêng vì sức ép của trái mìn nổ chậm. Ai cũng tưởng nó sẽ đỗ xuống rồi chết dần. Nhưng lạ làm sao, những tàu lá cũ héo tàn và chồi non lại trổ. Cây dừa hồi sinh trong tư thế ngộ nghĩnh. Hai phần ba thân nằm dài, nghiêng nghiêng như ngóc đầu, gượng dậy, xoè ngọn lên trời. Nếu ngày nào nó chợt đứng thẳng lên, có lẽ không cây dừa nào cao bằng nó. Cây dừa trở thành chứng nhân của chiến cuộc và làm dấu nơi người con gái đã bay lên rồi hoà tan vào đất.
Vậy là ngôi nhà tình nghĩa vẫn còn mới nguyên, không chủ. Ở vùng này, những người mẹ anh hùng khác đều đã lần lượt từ trần. Chỉ còn lại má Sáu. Dân trong xã không ai dám nhận món quà lớn dù má Sáu đã từ chối. Ngôi nhà buồn tủi đứng yên giữa lúc nơi nơi vui vẻ, nó kiên nhẫn chờ đợi.
Bây giờ, bỗng dưng má Sáu tìm đến gặp ông bí thư xã xin nhận căn nhà. Không phải để ở mà biến nó thành lớp học dành riêng cho trẻ em nhà nghèo, không có điều kiện đến trường. Sáng kiến tuyệt vời của má Sáu được nhân dân xã nhiệt tình ủng hộ. Không ai bảo ai, người biếu lớp học cái bàn, người cho vài chiếc ghế. Trường học trên huyện biết chuyện, Ban giám hiệu chở xuống tặng trường xã tấm bảng to. Chưa đầy một tuần lễ, ngôi nhà tình nghĩa đã mang dáng dấp của một lớp học tình thương. Và, không phải chỉ có tôi và Trúc xung phong làm giáo viên mà nhiều bạn trẻ khác cũng đến xin tham gia xoá dốt.
Ngày mai, giữa lúc ve còn kêu vang trên vòm lá, phượng nở đỏ trời, một lớp học lại khai giảng. Một ngôi trường có nội qui lạ lùng: Cổng mở rộng từ tờ mờ sáng đến tận khuya. Học trò giờ nào rảnh cứ đến. Thầy, cô giáo chỉ là bọn trẻ chúng tôi- những giáo viên nhỏ tuổi, không có lấy một tờ giấy chứng nhận khả năng sư phạm nào mà chỉ mang theo những trái tim yêu thương và rực lửa nhiệt tình khi bước lên bục giảng.

Trong truyện dài TÍN HIỆU MÙA XUÂN