Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hội Chùa Dâu





Hàng năm vào ngày 8/4 ( Âm lịch) các làng xã thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh làm lễ hội Chùa Dâu.   Ca dao cổ có câu:

                                                                         - Dù ai đi đâu về đâu
                                                                         Tháng Tư ngày Tám hội Dâu thì về

- Mồng Bảy hội Khám
Mồng Tám hội Dâu
Mồng Chín đâu đâu
Cũng về hội Gióng.

           Đã chỉ rõ hội chùa Dâu có tầm quan trọng trong nền văn hóa dân gian vùng này.
Theo Lĩnh Nam chích quái( Bản in lần thứ 2- 1990) trong chuyện Man Nương chép rằng:
  - Thời Hiến đế nhà Hán, quan thái thú Sĩ Nhiếp đóng đô thành ở bờ phía nam sông Bình Giang( tức Thiên Đức Giang). Phía Nam thành đó có chùa thờ Phật, một vị sư từ Tây Phương ( Ấn Độ) tới, hiệu là Già La Đồ Lê trụ trì ở đấy, có phép đứng một chân, mọi người đều kính phục gọi là tôn sư, kéo nhau tới học đạo.
Hồi ấy có người con gái tên là Man Nương, cha mẹ đều đã mất, nghèo khổ vô cùng, cũng tới đó dốc lòng học đạo Phật, nhưng vì có tật nói lắp, không thể cùng mọi người tụng kinh, thường ở dưới bếp vo gạo, nhặt rau nấu nướng cho các vị tăng trong chùa và khách tứ phương tới học. Một đêm vào tháng Năm, đêm ngắn, tăng đồ tụng kinh đến lúc gà gáy, Man Nương nấu cháo đã chin mà tăng đồ tụng kinh chưa xong, chưa tới ăn cháo. Man Nương bèn nằm tựa cửa bếp, không ngờ ngủ quên đi mất. Tăng đồ tụng kinh xong, đều về phòng riêng, Man Nương ngủ chặn ở giữa cửa, sư Đồ Lê bước qua mình Man Nương, Man Nương tự nhiên cảm động trong dạ con.
Có thai được 4 tháng, Man Nương xấu hổ bỏ về, sư Đồ Lê cũng thẹn bỏ đi. Man Nương về tới một ngôi chùa ở ngã ba sông thì ở lại đó. Đầy tháng sinh ra một đứa con gái, tìm sư Đồ Lê mà trả. Đêm đến, sư Đồ Lê bế đứa con gái tới ngã ba đường, thấy một cây phù dung, cành lá xum xuê, có một hốc sâu mà sạch sẽ, sự đặt đứa trẻ vào mà nói: “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”.
         Đồ Lê, Man Nương từ biệt nhau Sư Đồ Lê cho Man Nương một cây trượng mà bảo: “Ta cho nàng vật này, nàng về nhà nếu gặp năm đại hạn thì lấy trượng cắm xuống đất, nước sẽ vọt ra để cứu dân”. Man Nương cung kính bái lĩnh mà về ở trong chùa. Gặp năm đại hạn, nàng lấy trượng cắm xuống đất, tự nhiên nước cuồn cuộn chảy ra, dân được nhờ ơn. Khi Man Nương ngoài 90 tuổi là lúc cây phù dung bị đổ, trôi ra bến sông trước cửa chùa, quanh quẩn ở đấy không chịu đi, dân thấy thế định bổ làm củi nhưng rìu nào cũng gẫy, bèn đưa hơn 300 người trong làng ra kéo cây gỗ lên mà không chuyển. Gặp lúc Man Nương xuống bến rửa tay thử kéo chơi thì cây chuyển động. Dân chúng ngạc nhiên bảo Man Nương kéo lên bờ sai thợ tạc 4 pho tượng Phật. Khi xẻ cây gỗ, đến chỗ đặt đứa con gái thì đã thấy hóa thành đá rất rắn. Tốp thợ lấy rìu đập chỗ tảng đá, rìu đều bị mẻ. Họ liền vứt đá xuống vực sâu, một tia sáng chói lên, hồi lâu đá mới chìm xuống nước. Bọn thợ đều chết cả. Dân mời Man Nương bái lễ, thuê dân chài lặn xuống vớt lên, rước vào tự điện, đặt vào bên trong các tượng Phật, tượng Phật tự nhiên trông sáng như mạ vàng.
Sư Đồ Lê đặt pháp hiệu cho các tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Phong. Tứ phương cầu đảo, không điều gì không ứng. Dân làng đều gọi Man Nương là Phật Mẫu. ngày 4/4 Mạn Nương không bệnh mà chết, táng trong chùa. Người đời lấy ngày này làm ngày sinh của Phật. Hàng năm tới ngày ấy, nam nữ bốn phương thường tụ hội ở chùa này vui chơi ca múa, người đời gọi là Hội Tăm Phật.
Sách này được viết từ thế kỷ XV, nhưng bên cạnh truyện Man Nương chép trong sách LNCQ, còn có truyện Man Nương được kể hạnh lưu truyền trong vùng Thuận Thành. Ngày 8/4- Mậu Dần( 1998) tôi đã về hội Chùa Dâu. Cách chùa hơn 1000 m, có chùa Phúc- Nghiêm làng Mãn Xá là nơi thờ Phật Mẫu Man Nương. Chùa Phúc Nghiêm tọa lạc trên một bãi rộng, xa các làng, kiến trúc vẫn giữ nguyên nét cổ. Trên bàn thờ Phật tại Tam Bảo không bầy tượng như các chùa khác, chỉ có tòa Cửu Long ở chính giữa, hai bên tường có 6 tượng các vị thiên tướng( hay kim cương?).
          Những người dân đến lễ ở chùa Phúc Nghiêm đều theo một tục lệ.
        Họ chờ xem các kiệu của Tứ Pháp về hội ngộ, làm lễ ở đó. Thành ra trong khuôn viên chùa, là nơi các làng gặp nhau giao hiếu, chung nhau viết một lá sớ, cùng kể chuyện mùa màng, thăm hỏi rất thân tình. Vậy hội chùa Dâu là lễ hội cầu đảo hay lễ hội kết chạ giữa các làng?
      Để hiểu vấn đề này, tôi đã tìm hiểu và được nghe kể như sau:
      Người làng kể rằng: Chùa Phúc Nghiêm được xây trên nền cũ nhà ông bà Tu Định là bố mẹ đẻ của Man Nương. Khi bà Man Nương khi sang chùa Linh Quang theo học thầy Khâu Đà La mới 12-13 tuổi. hàng đêm, thầy Khâu Đà La đi thuyết pháp về gõ cửa, Man Nương thường ngủ quên ra chậm nên hay bị thầy trách. Để khỏi thầy trách mắng, Man Nương đã ngủ ngay cạnh cửa đón thầy, Khâu Đà La về, vô tình bước qua người Man Nương và từ đó nàng thụ thai. Có thai, Man Nương xấu hổ bỏ chùa về nhà, nhưng ông bà Tu Định cũng đuổi nàng đi, Man Nương phải lên rừng, lập một tiểu am ở đó khi sinh con, nàng trả con cho Khâu Đà La. Thầy Khâu Đà La gửi con vào gốc cây du rồi hai người từ biệt nhau.
Hạ thiên, mồng tám tháng tư
Ngọ thờ mãn nguyện, được giờ xuất sinh
Được một nữ nhi tốt lành
Tường vân ngũ sắc phủ mình hào quang.
Tu Định bảo nàng Man Nương
Ẵm con tìm đến Linh Quang chốn thầy
Trao chon hi nữ trong tay
Xà Lê chịu lấy, đứng nay khấn cầu:
Rao cho mộc thu đâu đâu
Có lòng yêu sẽ vì nhau sau này
Nhân duyên Phật tử đến đây
Sẽ phó cho rầy dưỡng dục tiểu nhi…
         Có một năm bão lớn, cây du đổ trôi về vùng Luy Lâu thì dừng lại, Sĩ Vương sai quân kéo lên định làm điện Kinh Thiên, không tể kéo được, lúc đó Man Nương ra sông, cây trông thấy Man Nương thì có vẻ mừng, bà bèn tung dải yếm ra gọi: “Có phải con ta thì theo về với mẹ”. ây nương theo dải yếm ngoan ngoãn để kéo lên bờ. Dân làng tạc tượng Phật bằng gỗ cây. Các cụ có đọc lại một câu kệ rằng:
Anh hào như nghịch nữ
Tâm không cảnh diệc không
Nhưng nhiên nhất vị ngộ
Ứng vật vạn duyên đồng
      ( câu kệ này có lẽ nguyên văn khác, dân gian đọc truyền miệng, nếu không thể ghi đúng được). Khi tạc tượng, người ta tạc từ dưới gốc lên. Pho thứ nhất tạc xong thì có Mây đùn lên đầy trời nên đặt là Pháp Vân. Pho thứ hai khi tác xong thì Mưa trút xuống nên đặt tên là Pháp Vũ. Pho thứ ba khi tạc xong thì sấm ran, nên đặt tên là Pháp Lôi. Pho thứ tư khi tạc xong thì chớp giật, nên đặt tên là Pháp Điện. Bốn pho tượng đã tạc xong nhưng khi rước tượng lên bệ thờ thì không sao nâng nổi.
Dư nghìn tống sĩ vào thi
Kiệu Phật chẳng nổi tức thì quỳ tâu
          Sĩ Vương thấy lạ liền hỏi lại đám thợ xem tại sao, mới hay rằng khi xẻ cây, ở khúc gốc, rìu chém phải một vật hóa thạch rất rắn, chém vào mẻ rìu nên thợ đã vứt xuống sông.
Phàm gian nó chẳng biết điều
Xé tay nó liều vứt xuống dưới sông.
Bà Man Nương liền ra sông gọi thì khúc gỗ nổi lên dạt vào bờ, tách ra thấy đứa bé đã hóa thạch, trán bị vết rìu bổ thành sẹo… dân bèn gọi là Thạch Cương đưa vào thờ. Nhân chuyên tượng phát sáng nên gọi là Thạch Quang, có nơi gọi chệch là Thạch Quang , có nơi gọi chệch là Thạch Cuông. Sau khi đưa Thạch Cương lên thờ, bốn tượng Vân Vũ Lôi Điện được đưa thờ ở 4 chùa trong huyện Thuận Thành:- Pháp Vân tức là bà Dâu thờ ở Chùa Dâu tức chùa Thiền Định. Pháp Vũ tức bà Đậu thờ ở chùa Chí Quả. Pháp Lôi tức bà chùa Phi Tướng. Pháp Điện tức bà Dàn thờ ở chùa Phương Quan.
           Ngày 6/4 hàng năm là các xã thuộc huyện Thuận Thành vào đám. Thứ tự tổ chức ngày hội: Ngày 6/4 làm lễ hạ để phong áo các tượng. Riêng Mẫu Tổ không hạ, chỉ phong áo. Ngày 7/4: Rước đức Pháp Vân về đình Công Hà. Rước đức Pháp Vũ về đình An Khao. Rước đức Pháp Lôi về đình Lũng. Rước đức Pháp Điện về đình Văn Quan. 4 bà được thờ tại các đình( trên) một đêm, sáng ngày 8/4 thì rước từ các đình trở về chùa Dâu. Chiều 8/4: Tổng Phương làm lễ rước cả đoàn về chùa Phúc Nghiêm ở thôn Hà Mãn để thăm Phật mẫu. Đám rước đi theo thứ tự: Kiệu Thạch Cương đi đầu, kiệu Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đi tiếp theo, kiệu bà chúa Ngà, kiệu bà Hậu Khe, trong đoàn rước còn có cả bà Trắng. bà Đen đi theo hầu.
Thông thường dân tập trung đông ở chùa Phúc Nghiêm đón các đoàn đến hội tại đấy. Các kiệu khi đến chùa, theo thứ tự bố trí ở lại một đêm, hôm sau mới chia tay. Khi ra về, kiệu của vai thấp chào kiệu vai cao bằng cách nhún đầu kiệu để chào trước, kiệu chị cũng nhún chào đáp lễ, bịn rịn mãi mãi chia tay.
Hội chùa Dâu có phải là hội cầu đảo: Trong lịch sử, từ đời vua Lý Nhân Tông đã ghi:- Tháng Giêng năm Nhâm Tý( 1072) lên ngôi vua, tháng 4 ngày tám làm lễ tắm Phật. Rước tượng Phật ở chùa Pháp vân về kinh sử để cầu tạnh( Việt Sử lược).- Quý Sửu- Thái Ninh năm thứ hai( 1073) bấy giờ mưa dầm. Rước Phật Pháp Vân về kinh đô để cầu tạnh. ( Đại Việt sử ký toàn thư) trong tín ngưỡng tại một số miền, việt rước các tượng Văn, Vũ, Lôi, Điện để cầu đảo là có:
      -  Ở Ôn Xá- Văn lâm có hội chùa Un cầu đảo:
Ba Bà trẩy hội Chùa Un
Mưa gió đùn đùn, thiên hạ làm ăn.
      - Ở Yên Mỹ, Mỹ Hào cũng có tục rước Tứ Pháp để cầu đảo.
       Trong tín ngưỡng dân gian tôn thờ các hiện tượng thiên nhiên liên quan đến sản xuất nông nghiệp, người Việt cúng trời đất, tôn thờ các hiện tượng Mây- Mưa- Sấm- Chớp. Lễ hội Tứ Pháp chỉ là sự mô phỏng diễn lại qua trình sinh ra mưa của trời đất. Quan điểm này đúng với các địa phương kể trên. Nhưng tại Chùa Dâu, nói rõ hơn là tại tổng Khương Thượng, hội Chùa Dâu được giải thích rõ là: “Ngày hội con đưa mẹ nuôi về thăm mẹ đẻ”.
       Dân gian giải thích rằng:- Cây du nơi Khâu Đà La để con gái vào là Mẹ Nuôi- Bốn Bà Vân- Vũ- Lôi- Điện được tạo từ thân cây đu, có nghĩa là bốn chị em ruột, ngang vai với bà Man Nương, không phải con cuả bà Man Nương như một số người đã lầm tưởng.
       Bởi vậy, đoàn rước có một thứ tự: Thạch Cương( con gái) đi rước, dẫn các bà Vân- Vũ- Lôi- Điện( đều là mẹ nuôi) về nhà cũ( Chùa Phúc Nghiêm) để thăm mẹ là Phật mẫu Man Nương. Hàn huyên một đêm, hôm sau ra về, các chị em chào nhau, theo lễ giao bái, không thấy có nghi thức lễ cầu đảo:
Lễ là bái Tổ Mẫu Sinh
Chùa Phúc Nghiêm tự hiển linh đời đời
Tiếng đồn khắp hết mọi nơi
Kiệu tán ngất trời, ống pháo đà ran.
Đến đời Hồng Đức Niên gian
Dựng làm lễ hội đưa con lên chùa
Tàn vàng tán tía khoe đua
Bà Ả là chị lên chùa đưa con…
      Ông Nguyễn Minh San viết: “Ngoài mục đích rước tượng Tứ Pháp cầu mưa, cầu tạnh như trên, ở một số nơi, ngày hội này đã biến thành ngày hội Kết Chạ giữa các làng quê” ( Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam- Nguyễn Minh San- NXB Văn hóa dân tộc).
      Chúng tôi đồng ý với ý kiến của ông và xin các chi tiết về hội Dâu, để khẳng định rằng: Khác với một số nơi, lễ hội chùa Dâu là lễ hội kết chạ.
      Còn việc ngày lễ có mưa thì là một sự trùng hợp với hiện tượng tôn giáo: Theo tín ngưỡng, ngày 8 tháng 4 hàng năm là ngày Phật sinh; ngày đó có chin con rồng phun nước tắm Phật. Có câu ca dao:
Ngày tám tháng tư không mưa
Bỏ cả cày bừa, mà vất lúa đi
Ngày tám tháng 4 có mưa
Mẹ con đi sớm về trưa ngại gì
      Ngay tại lễ hội làng Phù Đổng, cũng có câu chuyện ngày 8 tháng 4, trước ngày hội Gióng, ông Đổng thường về hái cà sinh mưa to gió lớn. Do vậy, nếu ta ghép các hiện tượng ngẫu nhiên mà nói hội Dâu là hội cầu đảo thì không hợp. Vậy hội chùa Dâu chỉ là ngày hội kết chạ của các làng trong tổng Khương- Thuận Thành.
 

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 25.9.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn