Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tháp Pôshanư




Đất Bình Thuận Thuở Đầu !






Đ ịa danh Bình Thuận đã qua nhiều thời kỳ thay đổi về cấp hành chánh. Năm Đinh Sửu (1697), Chúa Nguyễn đổi Thuận Thành trấn ra Bình Thuận phủ, sau là dinh có 4 đạo Phan Rang, Phan Thiết, Maly, Phố Hài. Bình Thuận dưới thời Tây Sơn (1773) từ dinh thành phủ, rồi chuyển thành trấn. Đến thời Minh Mạng thứ 4 (1823) đặt phủ.

    Dưới triều Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách lớn, nhất thể hóa các đơn vị hành chánh trong cả nước, đó là thành lập 30 đơn vị hành chánh tỉnh và các đơn vị dưới tỉnh là phủ, huyện, tổng, xã. Trong đó, năm Minh Mạng thứ 13 (1832), Bình Thuận mới chính thức là cấp tỉnh. Theo sách Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Bình Thuận của Nguyễn Đình Đầu (xb.1996), năm 1836 tổ chức hành chánh của tỉnh có 2 phủ: Phủ Hàm Thuận gồm 2 huyện Hòa Đa, Tuy Định và Phủ Ninh Thuận gồm 2 huyện An Phước và Tuy Phong (có tổng Phú Quý). Địa giới rộng lớn, bao gồm các phần đất Ninh Thuận, Lâm Đồng và nam Đắk Lắk ngày nay. Thủ phủ của trấn, dinh, phủ Bình Thuận trước đây đều đặt ở phía bắc của tỉnh thuộc sự quản lý của Nhà nước Bảo hộ dưới quyền một quan Đại lý. Đến năm Thành Thái thứ 10 (1898), tỉnh lỵ Bình Thuận đặt tại làng Phú Tài (thuộc phường Phú Trinh hiện giờ) và thành lập thị xã Phan Thiết tách từ phủ Hàm Thuận. Năm 1905 sau khi tách và nhập một phần đất với Đồng Nai Thượng, tỉnh Bình Thuận có 2 phủ Hàm Thuận và phủ Di Dinh (Di Linh). Phủ Hàm Thuận gồm 5 huyện Tuy Phong, Hòa Đa, Hòa Đa thổ (sau là Phan Lý Chàm), Tánh Linh, Tuy Lý (có làng Hàm Tân) là phần đất thuộc tỉnh Bình Thuận ngày nay. Riêng phủ Di Dinh thuộc về tỉnh Lâm Đồng.
    Đến năm 1910, Bình Thuận có 2 phủ Hàm Thuận và Phan Lý Chàm và 4 huyện Hòa Đa, Tuy Phong, Tuy Lý và Tánh Linh với số dân 71.575 người (lúc này tổ chức hành chánh Phủ ngang với Huyện). Năm 1943 có 145.900 dân, năm 1955 khoảng 210.000 dân. Tính đến năm 2010, tức 100 năm sau có số dân tăng lên gần 1.180.000 người, gấp 16,5 lần. .
    Yếu tố vùng miền và sự biến động dân cư có một phần tác động mạnh mẽ lên mảnh đất này suốt chặng đường trên 310 năm lịch sử hình thành và phát triển. Về địa lý, Bình Thuận là phần đất cực nam Trung Bộ nhưng có chiều dài bờ biển 192 km và lưng tựa vào cuối dãy Trường Sơn, Cao Nguyên. Bình Thuận từ xưa được coi là một vùng đất có tiềm năng phong phú, là “rừng vàng, biển bạc”. Đặc điểm dân cư trong nhiều thời kỳ được coi là vùng đất tụ nghĩa, còn gọi “Ngũ Quảng lưu dân” pha trộn hài hòa được những bản sắc văn hóa, truyền thống đấu tranh, ý chí sáng tạo, tính cần cù để tạo nên giá trị, phẩm chất nhân văn của địa phương.
    Với người Việt là những nhóm cư dân ban đầu gốc gác miền Trung lưu tán đi tìm vùng đất mới để lập nghiệp mưu sinh. Gặp được môi trường thiên nhiên phong phú rất thuận lợi cho cuộc sống nghề nông, nghề biển nên cư dân tập trung nhiều ở các cửa sông, đồng bằng ven biển. Thời kỳ nội chiến nhà Nguyễn, hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm và trong hòa bình đã có nhiều đợt nhập cư đáng kể. Dân số tăng nhanh là có từ những biến động thời cuộc đó. Một cộng đồng cư dân người Chăm, người miền thượng du (Raglai, K’ho…) chiếm gần 10 % dân số lúc bấy giờ (khoảng 1930-1935) có thể coi là dân bản địa. Kế đó, đảo Phú Quý (tên xưa là Thuận Tĩnh) cách Phan Thiết hơn 100 km là nơi tiếp nhận nhiều nhóm cư dân lánh nạn thời Trịnh- Nguyễn phân tranh và cuối thế kỷ 17, do cuộc kháng Thanh phục Minh, một số người Hoa bỏ xứ, vượt biển lạc vào đây lập nghiệp. Người Việt từ các nơi mang đến những tập tục từ đất quê bản xứ hòa nhập với tín ngưỡng dân gian của vùng đất mới, khiến cho sự cảm tính thiên nhiên trở thành thiêng liêng, thần bí đối với cả người Việt và Chăm. Ở Bình Thuận nhiều đình, miếu cũng là chùa thờ Phật. Không những đối với các đền thờ Pô Klong, Pô Nit, Bàn Tranh, Pô Sah Inư…là biểu tượng thần linh riêng với người Chăm, mà còn có người Việt vẫn nặng lòng tin dù rất mơ hồ. Mối quan hệ giao thoa các nền văn hóa Việt, Chăm và dân tộc thiểu số đã phát triển theo đời sống kinh tế, tôn giáo làm nên nét riêng trong cộng đồng xã hội. Cho nên trên mảnh đất Bình Thuận có nhiều di sản văn hóa lâu đời gắn liền với những thắng tích, huyền thoại. Đền thờ vua Chăm Pô Klông Mơh (Bắc Bình) mang dáng dấp kiến trúc Việt. Đền thờ công chúa Bàn Tranh (Phú Quý) được người Việt tôn vinh là bà Chúa Đảo cùng việc thờ tự Thành hoàng bổn cảnh và cúng tế theo tập tục thờ Mẫu của người dân vùng biển. Ở hòn đảo này, ngày xưa các vua triều Nguyễn cũng nhận ra sự hòa đồng mà ban tặng nhiều sắc phong, chỉ dụ thờ phụng công chúa Bàn Tranh (Chăm) và chung cho thầy Sài Nại (người Hoa) được người dân tổ chức lễ hội luân phiên tại các đền thờ, dinh vạn. Một số miếu thờ Quan Công, bà Đức Sanh (Phan Thiết), bà Thiên Hậu (Bắc Bình) nguồn gốc của người Hoa nhưng trong tín ngưỡng người Việt theo đạo Phật ở địa phương cũng coi đây là chùa…Tương tự như đền thờ nữ thần Pô Ina Naga ở Hòn Bà (La Gi) được ngư dân Việt hóa thành Bà Chúa Ngọc- Thiên Y Ana, kể cả sự tích cũng được tương truyền như một sử thi mang bản sắc riêng của người Việt. Đối với dân tộc miền núi Raglai, K’ho không có tôn giáo riêng mà chỉ tin vào thần linh trong thiên nhiên thường thấy qua các lễ hội đâm trâu, múa mừng mùa rẫy mới, âm thanh đàn đá, điệu nhạc mả la. Mãi sau này trong dân gian vẫn còn truyền nhau câu: “Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”. Không phải chỉ có ở đất Khánh Hòa mà thật ra với rừng núi Bình Thuận ngày xưa lấn sát tận bờ biển cho nên nạn “hổ hoạn” là mối đe dọa kinh hoàng với cuộc sống của con người. Còn bóng ma của thần linh, quỷ dữ siêu lạc đâu đây trên mảnh đất bao đời chôn chặt nhiều bí ẩn, oan nghiệt luôn là nỗi ám ảnh.
    Đặc điểm văn hóa tín ngưỡng của người Việt ở Bình Thuận ngoài các tôn giáo lớn Phật giáo, Thiên Chúa giáo, thì những thần thoại, sự tích dân gian còn ít ỏi hoặc bị chắp vá, lẫn lộn, không hợp lý với thực tế xã hội, đôi khi rơi vào mê tín dị đoan. Bởi một lẽ, đất xưa Bình Thuận là của vương quốc Chămpa. Bước chân người Việt khai phá vùng đất mới này đều xuất hiện lên nhau để rồi trở thành một cộng đồng dân cư mang nhiều bản sắc văn hóa và tính sống động trong quá trình phát triển. Người Việt vùng biển, rõ nét nhất là thành phố Phan Thiết nằm trên khúc cuối sông Cà Ty, nơi tập trung ghe thuyền cặp vào bãi cát nổi Cồn Chà, Cồn Cỏ…Trước sự hung hãn hiểm nguy thường trực của đời biển nên ngư dân càng tin vào sự mầu nhiệm ở ông Cái Voi thần thoại được vua Gia Long sắc phong tước hiệu “Nam Hải cự tộc Ngọc Lân thượng đẳng thần” (Ông Nam Hải). Các dinh vạn cổ Thủy Tú, Nam Nghĩa, Hưng Long là những nơi lưu giữ và thờ phụng hàng trăm bộ “ngọc cốt” Ông Nam Hải còn đó. Còn có các điểm quần cư vùng biển dọc dài từ Tuy Phong, Phan Rí, Mũi Né vào tận La Gi, Cù Mi và đảo Phú Quý đều gặp những dinh vạn, đình làng lớn nhỏ thờ Ông Nam Hải coi đó là thần linh trong tín ngưỡng ngư dân. Trong lễ hội cầu ngư không thể thiếu múa hò bả trạo, tuồng tích bài chòi đậm chất miền Trung.
    Người dân sống trong suốt một chặng đường lịch sử làm nên diện mạo vùng đất Bình Thuận thuở đầu đã phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Nghề làm ruộng thì dựa vào kinh nghiệm “lão nông tri điền”, làm biển thì phó mặc cho rủi ro, cho nên cuộc sống thiếu ổn định, thường phải chịu cảnh “giàu đầu hôm, khó sớm mai”. Diện mạo văn hóa và đời sống xã hội của Bình Thuận buổi đầu đã trải qua những thăng trầm, dày dạn và đau thương. Nhưng cũng từ đó đã tạo nên sự phong phú, niềm tự hào, tính hài hòa xây dựng nền tảng cho những gì có được của hôm nay.
    Tính cách con người Bình Thuận là sự dung hòa từ những bản sắc văn hóa của các dân tộc, vùng miền đã làm nên một cốt cách đặc trưng đáng quý. Nhiều người thường nhắc lại lời nhận xét của nhà thơ Xuân Diệu: “Giọng Thanh Hóa là giọng miền Bắc phai đi/ Giọng Phan Thiết là giọng miền Nam sắp sửa”. Không riêng gì nói về giọng nói mà còn khái quát được một bản lĩnh thích nghi, biết dung nạp và tình cảm phóng khoáng của con người trong quá trình khám phá, mở đất lập làng.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhTuy ngày 25.9.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn