Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (5)



Nhà Hán Đô Hộ Nước Việt







Nhà Hán (203 TCN–220)- triều đại thứ hai của nước Tàu. Lưu Bang (Hán Cao Tổ) là nông dân vùng dậy diệt Tần, lập nhà Hán. Triều Hán bị gián đoạn bởi Vương Mãng, một cựu thần nhà Hán, tự xưng hoàng đế, lập nhà Tân (9-23). Việc này đã chia nhà Hán thành hai giai đoạn: Tây Hán (202 TCN-9 SCN) và Đông Hán (23-220).

    Tồn tại hơn bốn thế kỷ, nhà Hán là một triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Tàu. Cho đến nay, nhóm dân tộc chiếm phần lớn dân số nước Tàu, nhận mình là "người Hán". Chữ Tàu được xem là "Hán tự".
    Nhà Hán đặt ra các khu vực cai trị, quản lý trực tiếp từ trung ương, gọi là quận và một số nước chư hầu.
    Thời Hán- nước Tàu chính thức trở thành quốc gia Khổng giáo. Thời Hán phát triển thịnh vượng: nông nghiệp, thủ công, thương mại tiến bộ, dân đông 50 triệu người. Đế chế Hán mở rộng ảnh hưởng văn hóa- chính trị kiểu Khống giáo và phản Khổng giáo của nó đến Việt Nam, Triều Tiên, Mông CổTrung Á, trước khi nó sụp đổ.
    Trí thức, các tiến bộ kỹ thuật, văn chương và nghệ thuật hồi sinh và phát triển ở thời Hán. Là thời của nhà sử học nổi tiếng Tư Mã Thiên (145 – 87 TCN?). Cuốn Sử ký Tư Mã Thiên ghi chép biên niên sử chi tiết từ thời kỳ còn huyền thoại là nhà Hạ đến thời Vũ Đế nhà Hán (141–87 TCN).
    Nhà Hán nổi tiếng vì khả năng quân sự. Biên giới mở rộng về phía Tây tới tận mép lưu vực Tarim (Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương ngày nay), có thể đã kiểm soát được con đường vận chuyển ngang Trung Á gọi là " Con đường tơ lụa".
    Khoảng gần cuối thế kỷ thứ 2 TCN. Các đội quân Tàu đã tấn công và sáp nhập nhiều vùng bắc Việt Nambắc Triều Tiên (Vệ Mãn Triều Tiên). Để giữ hoà bình với các lực lượng phi Hán ở các địa phương, triều đình Hán phát triển một "hệ thống chư hầu" lợi ích song phương.
    Các nước chư hầu phi Hán được phép giữ quyền tự trị với sự chấp nhận quyền lực tượng trưng của nhà Hán. Các mối quan hệ cống nạp được xác định và tăng cường bằng những cuộc hôn nhân lẫn nhau ở tầng lớp cai trị. Những trò trao đổi quà tặng và hàng hóa diễn ra thường xuyên.
Lưu Bang trị nước bằng Khổng giáo & Phản Khổng giáo
    Lưu Bang ở ngôi Hoàng đế được 8 năm (202 TCN- 195 TCN). Tính từ năm 206 TCN lúc ông mới xưng Vương) thời gian ở ngôi là 12 năm.
    Lưu Bang lập quốc gia Khổng giáo (Nho giáo). Nhưng ông không có đạo đức Nho giáo, bị giới sử học Tàu đánh giá là một hoàng đế vô đạo đức.
    Lưu Bang ít học, nhưng đứng trên mọi thứ gọi là “tư tưởng triết học”. Ông biết Khổng giáo đặt ra những quy chuẩn đạo đức để con người “tu thân, trị gia, bình thiên hạ”. Nắm quyền lực tối cao, Lưu Bang lợi dụng đạo đức Khổng giáo để dễ cai trị dân đen. Bắt người bị trị phải sống đạo đức, còn mình thì không ngu dại hiến thân cho đạo đức. Lưu Bang đã sản sinh hệ thống cai trị phản Khổng giáo, cấy di họa muôn đời. Mới đây ai đó đã tặng cụm từ “lưu manh truyền kiếp”.
    Các sử gia Tàu nhận định nếu Lưu Bang tuân theo đạo đức Nho giáo, chắc chắn ông không thể chiến thắng Hạng Vũ. Lưu Bang trái ngược với đối thủ Hạng Vũ. Hạng Vũ là một người lãng mạn và quý phái. Lưu Bang bị coi là thô lỗ. Hạng Vũ luôn tỏ ra nhân đức đối với các tướng và lính tráng, nhưng lại là một nhà chính trị kém khả năng lừa dối. Lưu Bang ít học, tự biết mình kém tài, ông gian hùng, lợi dụng tài năng của cấp dưới để thành sự nghiệp cho mình.
Phản Khổng giáo
    Phản Khổng giáo được hiểu là những ai đã sống, cướp quyền dân, cai trị bằng các trò xiếc, gian lận, mẹo ma quỷ: lừa mỵ, dối trá “Miệng Nam mô, bụng một bồ dao găm”, “Nói vậy mà không phải vậy”,”Nghĩ một đằng, nói một nẻo” …
    Người đời ranh ma, học thói giả dối phản Khổng giáo. Cướp được quyền của dân là hò hét dân đen phải sống đạo đức, còn mình thì ngoài vòng kiểm soát đạo đức. Hùa nhau “Nói như rồng leo, làm như mèo mửa”, “Miệng quan trôn trẻ”…
    Thời @ vui nhộn. Giới uống bia vỉa hè Hà Nội thường ê a hát bài “Như thế này, như thế kia:- Anh nghĩ như thế này, anh nói như thế kia. Anh ngắm như thế này, anh bắn như thế kia…”
    Hệ thống cai trị dối trá, tạo ra một thể chế dối trá, lừa đảo từ trên xuống dưới. Thượng bất chính. Hạ tắc loạn.
    Các phim về lịch sử Tàu, hấp dẫn một số kẻ “Nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”(Cao Bá Quát). Nó khai thác triệt để những trò lưu manh, kế độc, mưu gian… phản Khổng giáo, học “Mưu ma chước quỷ” thu lợi cá nhân, lừa đảo, đè bẹp người… để mình nhoi lên làm quan. Hoặc không chịu làm, không chịu học mà vẫn “Ăn trên ngồi chốc nhờ các trò bằng giả, thi giả, mua quan, bán chức…
    Các nước không may bị phản Khổng giáo lấn át, nhận thảm họa thê lương. Nó sinh ra một xã hội giả dối, lừa đảo đan xen mọi ngóc ngách, ty ly tâm hồn và cuộc đời. Không cách gì cứu nổi sự đồi bại đạo đức thê thảm này, nếu không xây dựng được một thể chế cai trị Dân chủ- Nhân quyền- Công khai- Minh bạch.
    Kỳ vĩ thay! Mẹ Đốp của dân gian Việt, hàng ngàn năm qua đã bùng dậy chống dối trá, phản Khổng Tử- bằng thành ngữ Thật thà là Cha mách qué.
    Những người chân quê Việt, sống hiền lành, tử tế, trung thực, thật thà, làm thật, học thật, tuy bị thua thiệt về tiền và quyền, nhưng cả cuộc đời họ gặt hái thành công vô lượng như hạt lúa, củ khoai trên đồng đất Việt, mùa gieo mùa gặt Cha truyền con nối.
Lã Hậu- người đàn bà man rợ nhất nước Tàu
    Lã Hậu tên thật- Lã Trĩ. Nàng vào sinh ra tử với Lưu Bang. Dẹp yên binh loạn, vua phong Hoàng hậu.

    Lên ngôi hoàng hậu, Lã Hậu tuổi trung niên, nhan sắc tàn phai. Hán Cao Tổ mê đắm hưởng lạc, ăn chơi, đồi trụy cùng các cung tần mỹ nữ. Lã Hậu không được vua sủng ái, sinh lòng đố kỵ, ngấm ngầm ghen, trong đó có Thích Phu Nhân- người được Lưu Bang ưu ái.

    Lo sợ ngôi vị hoàng hậu bị lung lay, quyền thừa kế ngai vàng của con trai sẽ rơi vào tay kẻ khác, Lã Hậu tìm đủ mọi cách “diệt cỏ” hòng bảo toàn vị trí mẫu nghi.
    Hán Cao Tổ chết. Lã Hậu đưa con trai nối ngôi. Nhưng thực chất, bà nắm hết quyền. Lã Hậu một mình tận hưởng quyền lực và sống trong dã tâm độc ác đến man rợ.
    Lã Hậu cho người trói Thích Phu Nhân vào trục đá và kéo lê như “bò kéo xe”. Thấy tình địch không cam chịu bị hành hạ, Lã Hậu vu cho bà tội kích động con trai làm phản, chống đối Thái hậu, nên bắt nhốt Thích Phu Nhân vào lãnh cung.
    Lã Hậu giết Như Ý con trai của Thích Phu Nhân. Lợi dụng cậu bé còn nhỏ dại, ở một mình, Lã Hậu cho người mang thuốc độc đến bắt uống. Như Ý uống thuốc và chết ngay sau đó.
    Độc ác hơn, sau khi giết chết con của tình địch, Lã Hậu lập tức vào lãnh cung, sai người chặt hết tay chân Thích Phu Nhân, móc mắt, cắt lưỡi rồi ném cả người què quặt vào chuồng lợn, gọi là “người lợn”.
    Việc làm ác độc của Lã Hậu gây kinh động cung đình. Hoàng đế là con trai ruột của bà cũng không thể chịu đựng được, thốt lên “Đó không phải là việc làm của con người!’.
Cái giá phải trả cho việc dã man hơn cả cầm thú của Lã Hậu là con trai của bà, chứng kiến việc làm bất nhân của mẹ, thì chán ngán, sinh bệnh và lao vào ăn chơi, sa đọa, bất cần ngôi vua. Chẳng lâu sau cũng mất.

Khổng Tử và Khổng giáo
    Khổng giáo (Nho giáo) là một hệ thống đạo đức, triết lý do Khổng Tử nghĩ ra, mơ xây dựng một xã hội thịnh trị, con người sống có đạo đức. Lúc đầu, Khổng Tử đi khắp các nước, gặp các vị vua, khuyên họ lấy Nho giáo làm tư tưởng trị quốc. Không vua nào chịu theo Khổng Tử. Bởi đã làm vua mà lại phải sống và hành xử đạo đức như Khổng Tử bày đặt thì vô lý quá!
    Khổng Tử đành bỏ chiêu làm chính trị, về quê chuyên nghề dạy học. Học trò theo ông rất đông.
    Đến nhà Hán. Lưu Bang lợi dụng Khổng giáo để cai trị. Khổng giáo thời Hán đã ảnh hưởng đến các nước Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn QuốcViệt Nam.
    Những người thực hành theo tín điều Nho giáo (Khổng giáo) được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ, Nho sinh. Những người này không dính vào cai trị, nên đạt thành quả tu thân, dạy người.
    Khổng Tử- người Tàu, còn gọi là Khổng Phu Tử ( 27 tháng 8 âm, 551 –11 tháng 4- 479 TCN) là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội. Các bài giảng và triết lý của ông ảnh hưởng rộng đến đời sống và tư tưởng của các nền văn hóa Đông Á.
    Triết học Khổng Tử nhấn mạnh sự tu dưỡng đức hạnh cá nhân và cai trị bằng đạo đức: "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Tuân theo sự chân thực của các mối quan hệ xã hội, đạo đức và quy phạm làm người, với các đức tính "Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín" và lối sống "Trung Dung", tự quân bình.
    Các bài giảng của Khổng Tử được biết đến qua cuốn Luận Ngữ, một tập hợp những "mẩu chuyện cách ngôn ngắn", được biên soạn nhiều năm sau khi ông qua đời do các học trò của ông ghi lại.
Hán Vũ Đế
    Hán Vũ Đế (31 tháng 7, năm 156 TCN - 29 tháng 3, năm 87 TCN), tên thật Lưu Triệt, là hoàng đế thứ bảy của nhà Hán. Ông là con trai thứ 11 của Hán Cảnh Đế, vua thứ sáu triều với hoàng hậu thứ hai là Vương Chí. Lưu Triệt giành ngôi thái tử của anh trai Lưu Vinh nhờ cuộc hôn nhân với Trần Hoàng hậu. Năm 141 TCN. Cha chết. Lưu Triệt lên ngôi hoàng đế năm 140 TCN đến 87 TCN (54 năm). Hán Vũ Đế qua đời tuổi 69, trị vì lâu nhất trong các vua Hán và lâu nhất nước Tàu.
    Ông được đánh giá là vị vua tài ba, củng cố nền cai trị và chiếm cướp các nước khác. Nhờ ông, nhà Hán lớn về chính trịquân đội, cướp các nước: Vệ Mãn Triều Tiên, Dạ Lang, Hung Nô, Nam Việt, Mân Việt, Đông Âu. Mở lãnh thổ phía Đông đến bán đảo Triều Tiên, phía Bắc đến vùng sa mạc Gobi, phía Nam tới miền Bách Việt, phía Tây vươn tận Trung Á.
    Hán Vũ Đế dùng Khổng giáo trị nước, nhưng cũng tôn sùng Đạo giáo. Cuối đời, do tin vào thuật trường sinh bất lão, ông đã tiêu tốn rất nhiều vàng bạc để đi tìm thuốc trường sinh và tin dùng gian thần Giang Sung, dẫn đến vụ án Vu Cổ vào năm 91 TCN và cái chết của thái tử Lưu Cứ, con trai trưởng của ông.
    Hán Vũ Đế học Tần Thủy Hoàng và Hán Cao Tổ, cai trị hà khắc, tàn bạo. Ông thẳng tay trừng trị những viên tướng bại trận. Không xét hoàn cảnh và tình thế của họ. Nhiều tướng bại trận phải theo hàng giặc, không dám về triều đình. Vũ Đế càng tàn nhẫn, tru di tam tộc những tướng này, như Lý Lăng. Ai tỏ vẻ bất mãn, bất phục đểu bị ông trị tội. Tư Mã Thiên bênh Lý Lăng, phải bị thiến- tội nhục nhã nhất thời đó.
Bắc thuộc lần thứ nhất
    Cuối thế kỷ 2 TCN. Nhà Triệu suy yếu. Hán Vũ Đế định dùng ngoại giao cướp Nam Việt, nhưng không xong, vì tể tướng Lữ Gia chống đối.
    Hán Vũ Đế dùng quân sự và mở cuộc tấn công quy mô vào năm 111 TCN. Nhà Triệu đã thất bại sau khi bị tướng Hán là Lộ Bác Đức hạ được kinh thành Phiên Ngung của Nam Việt nhưng chưa tiến vào lãnh thổ Âu Lạc cũ. Thủ lĩnh người Việt là Tây Vu Vương định nổi dậy chống Hán, nhưng bị tả tướng Hoàng Đồng giết chết. Nước Nam Việt mất về tay nhà Hán.
    Thời kỳ này gọi là Bắc thuộc lần thứ 1 trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 111 TCN đến năm 39 do nhà Hán cai trị.
    (Năm 40. Hai Bà Trưng khởi nghĩa thắng lợi. Bắc thuộc lần 1 chấm dứt).
    Nhà Hán xác lập bộ máy cai trị chặt chẽ "dùng tục cũ để cai trị”. Tại các huyện, chế độ Lạc tướng cha truyền con nối của người Việt vẫn duy trì.
    Nhà Hán chia lãnh thổ Nam Việt làm chín quận là Nam Hải, Hợp Phố (Quảng Đông), Thương Ngô, Uất Lâm (Quảng Tây), Chu Nhai, Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam), Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (Âu Lạc cũ).
    Riêng quận Nhật Nam (từ Quảng Bình tới Bình Định) được nhập vào lãnh thổ chung với miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay, lần đầu tiên, sau khi các quan cai trị Giao Chỉ tiến xuống thu phục các bộ tộc phía Nam dãy Hoành Sơn trong thời thuộc Hán
    Năm 106 TCN. Hán Vũ Đế cử Thạch Đái làm thái thú 7 quận ở lục địa, 2 quận ở đảo ( Đảo Hải Nam) trụ sở đặt tại Long Uyên, quận Giao Chỉ (tức Long Biên) là quận lớn và quan trọng nhất.

Hán hóa & Sức sống Tinh hoa Việt
    Bắc thuộc lần 1 là thời sơ kỳ đồ sắt Việt Nam, vẫn tồn tại cơ cấu của nền văn minh Đông Sơn với mô hình văn hóa nông nghiệp lúa nước cổ truyền. Người Việt đã chịu ảnh hưởng lối sống, văn minh- văn hóa Hán được truyền bá theo hai cách.
    Truyền bá ôn hòa qua giao lưu kinh tế- văn hóa, qua di dân Tàu sang đất Nam Việt.
    Truyền bá cưỡng bức thông qua đô hộ hành chính quân sự.
    Sự tồn tại của văn hóa Đông Sơn được các sử gia Việt Nam hiện đại đánh giá là sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt trước sự đồng hóa của phương Bắc.
    Sự tồn tại song song của hai nền văn hóa được các nhà nghiên cứu xác nhận.
    Trong cư trú: kiểu Đông Sơn với nhà sàn và kiểu Hán với thành quách mô hình nhà bằng đất, mô hình giếng nước, bếp lò, chuồng trại.
    Trong mộ táng: kiểu Đông Sơn với mộ táng hình thuyền và đồ tùy táng kiểu Đông Sơn; kiểu Hán với mộ đất, quách gỗ và hiện vật tùy táng kiểu Tàu.
    Trong sinh hoạt: vừa có đồ gốm kiểu Đường Cồ, gốm Đông Sơn, rìu lưỡi xéo, trống đồng của người Việt truyền thống bên cạnh bình, đỉnh miệng vuông, đao sắt, kiếm, gương đồng, móc đai lưng.
thế kỷ 1. Nhâm Diên được Hán Quang Vũ Đế cử sang làm thái thú Cửu Chân đã áp dụng lối sống Hán, cải biến phong hóa người Việt từ năm 29. Việc cưới hỏi tới trang phục, giáo dục nhất thiết phải theo lễ nghĩa nước Tàu.
    Các sử gia hiện đại cho rằng sự pha trộn văn hóa, đời sống giữa Hán và Việt dẫn tới sự hỗn dung văn hóa cưỡng bức, theo đó quá trình năng động trên cơ tầng Việt đã vận hành theo cơ chế Hán. Đời sống văn hóa- xã hội Việt chuyển từ mô hình Đông Sơn cổ truyền sang mô hình mới Hán- Việt.
    Cơ sở kinh tế thời kỳ này là nông nghiệp với nông cụ đá (rìu, cuốc đá), gỗ (mai, vồ...), nhiều công cụ đồng thau (lưỡi cuốc, cày, xẻng, rìu, hái...) và một số nông cụ sắt (có rìu sắt lưỡi xéo phỏng chế rìu đồng Đông Sơn)…
    Lúa nước vẫn là cây trồng chủ đạo. Bên cạnh đó, có nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng bông, đay, gai để có cái mặc và có nhiều hoa quả như nhãn, vải, quýt, chuối... Người Việt có năm giống gia súc: trâu, lợn, , , chó.
    Nền sản xuất thủ công nghiệp Giao Chỉ tiếp tục phát triển, cội gốc thủ công nghiệp truyền thống của Âu Lạc, kết hợp tiếp thu những Tinh hoa của dân Nam Việt.
    Đồ đồng Đông Sơn vẫn được sản xuất bên cạnh đồ đồng vùng Hoa Nam (đỉnh, biển hồ, gươm, qua, gương đồng...). Các sản phẩm gốm gồm gốm cổ truyền còn có những sản phẩm chịu ảnh hưởng của phong cách Nam Việt (như gốm văn in hình học, bình 4-5 thân dính liền nhau) và Hán (đỉnh, bình, vò...).
    Người Việt có nghề dệt cửi làm vải, nổi tiếng là vải cát bá (vải bông) nhỏ sợi và rất mịn.
    Từ khi nhà Hán chinh phục Nam Việt, người Việt làm thương mại nhiều hơn so với trước, do chắp mối của các thương nhân người Hán. Các thương nhân Hán đi từ phương Bắc, khi đi và về đều qua Nhật Nam mua bán thổ sản, sau khi vòng qua trao đổi hàng ở các quốc gia ngoài biển.
    Nhiều lái buôn Hán đến Nam Việt và trở nên giàu. Sản vật địa phương buôn bán gồm vải cát bá, đồi mồi, ngọc, voi, tê giác, vàng bạc, hoa quả...
    Việc buôn bán ở phương Đông thời Tây Hán đã phát triển. Giao Chỉ trở thành một trạm quan trọng về giao thông biển với các nước phía Nam ngoài biển.
Người Việt chống Hán
    Thời Bắc thuộc lần 1. Trong vòng hơn 200 năm không ghi nhận một cuộc nổi dậy chống đối đáng kể nào của người Việt. Chỉ có những việc chống đối quy mô nhỏ, giết quan lại nhà Hán. Tình trạng dân Việt âm thầm nổi giận, khiến nhà Hán phải điều động quân từ Kinh Sở (Hoa Nam) xuống, trấn áp.
    Người Việt muốn đuổi người Hán ra khỏi bờ cõi, nhưng không đủ mạnh.
    Sử sách ghi các quan đô hộ nước Việt- Bắc thuộc lần 1: Thạch Đái (111 - 86 TCN), Chu Chương (86 - 75 TCN), Đặng Nhượng (8-23), Nhâm Diên (29-33), Tô Định (34-40)…
Tức nước vỡ bờ. Nhân Quả. Luật Đất Trời Người
    Hơn hai trăm năm. Người dân Việt phải quằn quại sống trong đêm trường nô lệ Hán. Bị cướp đoạt quyền con người. Tội ác Hán dày đạp dân Việt chất cao hơn núi. Uất hận nghẹn trào non sông đất Việt.
    Năm 40. Do sự tàn bạo của thái thú Tô Định (trấn trị từ năm 34) hai chị em Trưng TrắcTrưng Nhị đã cùng dân Việt nổi dậy chống nhà Hán. Hai Bà lấy lại toàn bộ đất Lĩnh Nam từ Nam sông Dương Tử về sông Hồng, sông Mã.
    Tô Định bỏ chạy về nước Tàu. Bà Trưng Trắc xưng Hoàng đế Lĩnh Nam. Lập triều đình Lĩnh Nam của nước Việt, xác lập quyền tự chủ của người Việt. Thời Bắc thuộc lần 1 chấm dứt.
Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
    “Kẻ đại gian ác từ lâu vốn lòng độc địa. Người có đức có nhân thường vẫn nuôi chí tiễu trừ. Mảnh hịch tre ruổi ngựa từ đêm, ba quân chấn động.
    Nước ta dựng nền thực từ thuở vua Hùng vỗ trị, khi ấy quan dân vui vẻ, mọi người êm ấm nhàn hạ, mưa thuận gió hòa, một thân lúa thẩy đều hai bông. Đời đời nối tiếp, ngàn thu lưu truyền. Đến đời An Dương Vương, qua đời Triệu Vũ Đế, chẳng may đức suy, gặp phải tai ách. Bọn Hi Tải, Chu Chương, Ngụy Lang thay nhau làm quận thú. Đám Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục nối tiếp làm châu mục. Dẫu tham lam, liêm khiết không giống nhau, nhưng chưa từng có kẻ nào bạo ngược, hà khắc quá lắm. Tới nay yêu nghiệt họ Tô tham tàn ngang ngược, giết hại sinh linh, coi sừng tê, ngà voi làm quý. Khinh miệt hiền tài, lấy giống chó loài ngựa làm trọng. Khai mỏ vàng, khiến dân rét thấu xương, mặt vàng, da nứt. Mò ngọc châu, để người lặn vực thẳm, mò ngọc trong mồm rồng ngậm, trăm kẻ đi, một người về. Thuế má nặng nề phải nghiêng bồ vét bịch. Hình pháp phiền phức liên lụy từng nhà, từng xóm. Dân không sống được yên, vật phải dời chỗ ở!
    Ta vốn dòng dõi hoàng tộc, con cháu Hùng tướng, vì nghĩa trừ hại. Bọn các ngươi đều có trí khôn, lại cùng tiên tổ, thù nước phải báo. Hãy kề vai sát cánh mà giương cây cung mạnh, quét sạch bọn ngoại bang, lấy hết nước sông Thiên Hà mà rửa binh khí. Cơ nghiệp hùng vĩ do đó mà được tái tạo, nhân dân ly tán được yên vui.
     Bảo vệ xã tắc, gối đầu trên giáo mác, chính là lúc này đây. Hãy lập công danh để ghi vào sử sách, như thế chẳng tốt đẹp hay sao? Thảng hoặc kẻ nào còn hồ nghi, do dự thì xem hịch này sẽ được sáng tỏ. Các ngươi cần phải cố gắng lên !”
(Theo Thiên Nam Vân Lục)
(… Còn tiếp ...)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 01.9.2014.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC TRONG VIỆT VĂN MỚI

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn